CHÂU TIẾN LỘC(*)
(*) ThS, Phân hiệu Học viện Hành chính và Quản trị công tại Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Thúc đẩy kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới là yêu cầu khách quan và cấp thiết đối với Thành phố Hồ Chí Minh. Trên nền tảng các chương trình chuyển đổi số, Đề án “Phát triển kinh tế số, kinh tế chia sẻ và kinh tế tuần hoàn giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030” cùng các cơ chế, chính sách đặc thù, bài viết phân tích thực tiễn quản trị địa phương trong thúc đẩy kinh tế số, chỉ ra những kết quả bước đầu và các điểm nghẽn về thể chế, dữ liệu và năng lực; từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm đẩy mạnh quản trị địa phương, góp phần phát triển kinh tế số tại Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn hiện nay.
Từ khóa: quản trị địa phương; kinh tế số; Thành phố Hồ Chí Minh
1. Đặt vấn đề
Từ ngày 01/7/2025, việc sáp nhập tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về Thành phố Hồ Chí Minh đã hình thành một siêu đô thị hơn 6.700 km², dân số trên 14 triệu người, mở ra yêu cầu cấp thiết về mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, công nghệ cao và quản trị số hiện đại(1). Là trung tâm kinh tế – tài chính lớn nhất cả nước, Thành phố vừa là “đầu tàu kinh tế của cả nước”, vừa là “phòng thí nghiệm thể chế” cho đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Thực hiện Nghị quyết số 31-NQ/TW ngày 30/12/2022 của Bộ Chính trị “về phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” và Quyết định số 749/QĐ-TTg ngày 03/6/2020 của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”, Chính quyền Thành phố đang hướng tới mục tiêu trở thành đô thị thông minh, trung tâm tài chính – công nghệ của khu vực. Thực tiễn phát triển cho thấy, sau sáp nhập đơn vị hành chính, quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh cần phải đáp ứng yêu cầu mới. Vì vậy, việc hoàn thiện thể chế, dữ liệu và năng lực quản trị trở thành điều kiện tiên quyết để kinh tế số là động lực tăng trưởng bền vững.
2. Quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số và thực tiễn tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay
* Khái quát về quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số
Sự trỗi dậy của chuyển đổi số như xu thế chủ đạo trong quản trị công và phát triển kinh tế – xã hội đặt ra yêu cầu cấp thiết đối với chính quyền địa phương trong việc đổi mới phương thức quản lý, điều hành và khai thác nguồn lực số để thúc đẩy tăng trưởng bền vững. Từ thực tiễn này, việc xác định cấu trúc lý luận của quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số là cần thiết để làm rõ nội hàm, phạm vi và các yếu tố cấu thành của quá trình này.
Xét về cấu thành, quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số bao gồm hai nhóm yếu tố gắn kết hữu cơ: (1) Theo Trần Anh Tuấn(2) và được luận giải tương đồng bởi Võ Kim Sơn(3), Nguyễn Thị Hồng Hải(4), quản trị địa phương là quá trình tổ chức, điều hành và giám sát các hoạt động quản lý xã hội tại cấp địa phương trên cơ sở phối hợp đa chủ thể – chính quyền, khu vực tư nhân, tổ chức xã hội và cộng đồng dân cư nhằm phát triển bền vững, hiệu quả và phục vụ nhân dân tốt nhất; (2) Theo nhóm cộng tác kinh tế số Oxford: “Kinh tế số là một phần của nền kinh tế, vận hành chủ yếu dựa trên công nghệ số, đặc biệt là các giao dịch điện tử tiến hành thông qua internet”(5). Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), kinh tế số bao gồm tất cả các nhà sản xuất và người tiêu dùng, bao gồm cả chính phủ, đang sử dụng các đầu vào kỹ thuật số này trong các hoạt động kinh tế của họ(6).
Kết hợp hai yếu tố này, có thể hiểu: quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số là quá trình chính quyền địa phương tổ chức thực hiện các chính sách, thiết lập thể chế và điều phối nguồn lực nhằm ứng dụng công nghệ số, dữ liệu và các nền tảng trực tuyến vào phát triển kinh tế – xã hội; từ đó, kiến tạo môi trường đổi mới sáng tạo, nâng cao năng suất, hiệu quả quản lý, thúc đẩy tăng trưởng dựa trên tri thức và bảo đảm phát triển bao trùm, bền vững.
Dựa trên kết quả nghiên cứu trong nước của Nguyễn Thị Hồng Hải, Võ Kim Sơn, Hoàng Vĩnh Giang (năm 2025) và các nghiên cứu quốc tế của Anwar Shah (năm 2006); Bovaird & Loeffler (năm 2016) đã chỉ ra rằng, nội dung quản trị địa phương thường bao gồm các mặt cơ bản, như xây dựng và thực thi thể chế, chính sách; tổ chức, điều phối sự tham gia của các chủ thể xã hội; phát triển nguồn lực, hạ tầng phục vụ quản lý; bảo đảm cơ chế giám sát, trách nhiệm giải trình trong quản lý xã hội ở cấp địa phương.
Từ cơ sở này, nội dung quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số có thể cụ thể hóa qua các mặt cơ bản sau: (1) Xây dựng và thực thi chính sách, kế hoạch phát triển kinh tế số, gắn với chương trình chuyển đổi số quốc gia và đề án đô thị thông minh; (2) Phát triển hạ tầng số, cơ sở dữ liệu và nền tảng dùng chung phục vụ chính quyền, doanh nghiệp và người dân; (3) Tạo lập và quản lý thị trường số, khuyến khích doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, thúc đẩy thương mại điện tử và dịch vụ công trực tuyến; (4) Bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu và mở rộng không gian chia sẻ dữ liệu công, dữ liệu mở; (5) Phát triển nguồn nhân lực và năng lực số của cán bộ, công chức, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư; (6) Tăng cường cơ chế giám sát, đánh giá hiệu quả và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương trong thực thi chính sách về kinh tế số.
* Thực tiễn quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số tại Thành phố Hồ Chí Minh
Một là, kết quả đạt được
Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh bước vào giai đoạn phát triển mới sau sắp xếp đơn vị hành chính từ ngày 01/7/2025, chính quyền Thành phố đã xác định, kinh tế số là một trong ba trụ cột chiến lược để hiện thực hóa mục tiêu trở thành đô thị thông minh, trung tâm kinh tế, tài chính, khoa học, công nghệ của cả nước. Mục tiêu tỷ trọng kinh tế số trong GRDP đạt 25% vào năm 2025 và 40% vào năm 2030, cao hơn bình quân cả nước từ 5 – 10%(7), thể hiện rõ tầm nhìn và quyết tâm chính trị của chính quyền địa phương trong thực hiện Chiến lược Chuyển đổi số quốc gia.
– Về xây dựng và thực thi chính sách phát triển kinh tế số, Thành phố Hồ Chí Minh (bao gồm cả tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu trước khi sáp nhập) đã tích cực thể chế hóa các chủ trương của Đảng, Nhà nước thông qua Chương trình Chuyển đổi số đến năm 2030, gắn với nhiệm vụ xây dựng đô thị thông minh. Trên cơ sở đó, các cấp chính quyền đã xây dựng kế hoạch hành động, chương trình chuyển đổi số ngành, lĩnh vực và địa phương, tạo khuôn khổ pháp lý đồng bộ cho đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp công nghệ và phát triển dịch vụ số. Cụ thể, Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Đề án “Phát triển kinh tế số, kinh tế chia sẻ và kinh tế tuần hoàn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030” theo Quyết định số 503/QĐ-UBND ngày 18/02/2022; Tỉnh ủy Bình Dương đã ban hành Nghị quyết số 05-NQ/TU ngày 19/5/2022 “về chuyển đổi số tỉnh Bình Dương đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”; Ủy ban nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Kế hoạch số 63/KH-UBND ngày 18/3/2024 “về phát triển doanh nghiệp công nghệ số trên địa bàn tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đến năm 2025 và định hướng đến năm 2030”.
Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 của Quốc hội “về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh” đã tạo đòn bẩy thể chế cho Thành phố phát triển kinh tế số và đổi mới sáng tạo thông qua ưu đãi thuế, quỹ đầu tư mạo hiểm và cơ chế thử nghiệm (sandbox) góp phần mở ra không gian phát triển linh hoạt, đột phá cho quản trị đô thị hiện đại.
– Về hạ tầng số và cơ sở dữ liệu dùng chung, Thành phố Hồ Chí Minh đã đầu tư mạnh vào viễn thông, trung tâm dữ liệu đô thị, nền tảng tích hợp – chia sẻ dữ liệu (LGSP) và các hệ thống điều hành thông minh trong giao thông, y tế, giáo dục, môi trường. Dự án “Siêu trung tâm dữ liệu (Hyperscale Data Center)” trị giá gần 02 tỷ USD với sự tham gia của G42, Microsoft, FPT, VinaCapital và Viet Thai Group được xem là dấu mốc quan trọng hướng tới hình thành “Nhà máy trí tuệ nhân tạo” quốc gia – nền tảng cho phát triển kinh tế số và quản trị đô thị hiện đại. Bên cạnh đó, Thành phố đã tập trung đầu tư hạ tầng viễn thông, trung tâm dữ liệu đô thị, nền tảng tích hợp và chia sẻ dữ liệu (LGSP), cùng các hệ thống điều hành thông minh trong các lĩnh vực giao thông, y tế, giáo dục, môi trường và phát triển bền vững. Việc số hóa quy trình hành chính và mở rộng dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 đã góp phần nâng cao hiệu quả phục vụ cho người dân, doanh nghiệp.
– Về phát triển thị trường và hệ sinh thái kinh tế số, Thành phố Hồ Chí Minh đã trở thành một trong năm hệ sinh thái khởi nghiệp hàng đầu Đông Nam Á, đứng thứ 02 về Fintech, xếp hạng 110 toàn cầu về đổi mới sáng tạo, thu hút sự tham gia của các doanh nghiệp công nghệ, tổ chức nghiên cứu, trường đại học, viện nghiên cứu(8). Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tỷ lệ doanh nghiệp công nghệ số/1.000 dân đạt 2,6, vượt chỉ tiêu đặt ra trong Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ “về việc sửa đổi, bổ sung cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”(9).
Kinh tế số ngành, lĩnh vực tại Thành phố có nhiều ưu thế, thuộc nhóm 03 địa phương có tỷ trọng doanh thu thương mại điện tử/tổng doanh thu bán lẻ cao nhất. Bên cạnh đó, hạ tầng số cũng từng bước được hình thành và phát triển, hỗ trợ cho tiến trình xây dựng chính quyền điện tử, kinh tế số và đô thị thông minh. Các lĩnh vực, như thương mại điện tử, tài chính số, logistics thông minh, du lịch số, y tế và giáo dục trực tuyến phát triển mạnh mẽ, tạo không gian kinh doanh mới và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
– Về bảo đảm an toàn, an ninh dữ liệu, Trung tâm An toàn thông tin Thành phố được vận hành trong khuôn khổ Đề án xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020 và tầm nhìn 2025, cung cấp dịch vụ an toàn thông tin và các sản phẩm khác cho người dân, doanh nghiệp. Các giải pháp an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu và thông tin cá nhân được tăng cường, góp phần củng cố niềm tin số của người dân và doanh nghiệp.
– Về phát triển nguồn nhân lực và năng lực số, chính quyền Thành phố đã bước đầu triển khai chương trình đào tạo kỹ năng số cho cán bộ, công chức, viên chức, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và cộng đồng dân cư tiếp cận các công cụ số cơ bản. Nhiều lớp tập huấn về phân tích dữ liệu, sử dụng trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng được tổ chức tại các sở, ngành và các phường, xã, đặc khu. Thành phố cũng đang xây dựng chuẩn năng lực số cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, gắn việc đánh giá kết quả công vụ với mức độ ứng dụng công nghệ trong công việc.
– Về cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình, chính quyền Thành phố đã đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong đánh giá hiệu quả chuyển đổi số, xây dựng bộ chỉ số đánh giá mức độ phát triển chính quyền số, kinh tế số và xã hội số. Hội đồng nhân dân Thành phố, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các ban, ngành, cơ quan báo chí của Thành phố đã tăng cường giám sát việc triển khai các dự án công nghệ thông tin và chuyển đổi số, đồng thời công khai kết quả để người dân, doanh nghiệp tham gia phản biện, giám sát,…
Hai là, một số hạn chế
Mặc dù đạt nhiều kết quả tích cực, quá trình quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn bộc lộ một số hạn chế nhất định:
– Thể chế và chính sách vẫn là điểm nghẽn, do thiếu đồng bộ và chậm hoàn thiện khung pháp lý cho mô hình kinh doanh số mới. Cơ chế thử nghiệm (sandbox) còn kéo dài, thị trường khoa học – công nghệ phân mảnh, chưa tạo được “lực kéo” cho đổi mới sáng tạo. Về năng lực thực thi, nhiều quy định chậm được cụ thể hóa, phối hợp liên ngành và công – tư chưa hiệu quả, khiến cơ chế đặc thù chưa phát huy được vai trò động lực trong phát triển kinh tế số.
– Hạ tầng số và nền tảng chia sẻ dữ liệu thiếu tính đồng bộ và liên thông giữa các khu vực, cơ quan, ngành. Quá trình tích hợp và đồng bộ hóa hạ tầng phức tạp; nền tảng dùng chung chưa hoàn thiện, dữ liệu còn phân tán, chưa hình thành đầy đủ kho dữ liệu mở phục vụ doanh nghiệp và người dân. Ở nhiều khu vực ngoại thành và khu công nghiệp, hạ tầng mạng và khả năng kết nối còn hạn chế, ảnh hưởng đến tiến độ chuyển đổi số đồng đều trên toàn Thành phố.
– Chuẩn dữ liệu và cơ chế bảo mật chưa thống nhất, dẫn tới tình trạng “cát cứ dữ liệu”, hạn chế khả năng khai thác nguồn dữ liệu công phục vụ phát triển kinh tế số.
– Về nhân lực và văn hóa số, việc thu hút, giữ chân nguồn nhân lực công nghệ cao, đặc biệt trong các lĩnh vực, như AI, bán dẫn, khoa học dữ liệu, còn nhiều thách thức. Mức độ sẵn sàng số hóa của người dân và doanh nghiệp chưa đồng đều khiến hiệu suất sử dụng các dịch vụ số chưa đạt kỳ vọng.
– Cơ chế giám sát, đánh giá và trách nhiệm giải trình trong thực thi chính sách kinh tế số còn hạn chế. Việc đo lường chủ yếu dừng ở chỉ tiêu đầu vào, thiếu công cụ giám sát số và phản hồi trực tuyến, khiến kết quả chuyển đổi số chưa được đánh giá toàn diện, kịp thời và minh bạch.
3. Giải pháp tăng cường quản trị địa phương thúc đẩy kinh tế số tại Thành phố Hồ Chí Minh
Để hiện thực hóa mục tiêu của Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, phấn đấu kinh tế số chiếm từ 30% – 40% GRDP(10) và trở thành trụ cột tăng trưởng chủ đạo, cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, chính sách quản trị kinh tế số cấp địa phương
Chính quyền Thành phố cần đẩy nhanh việc cụ thể hóa các quy định của Trung ương, đặc biệt là Nghị quyết số 98/2023/QH15, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ trong triển khai các mô hình kinh doanh số mới. Cần rút ngắn quy trình thử nghiệm (sandbox), tạo hành lang pháp lý linh hoạt cho đổi mới sáng tạo; phát huy cơ chế phối hợp giữa khu vực công – tư, khuyến khích doanh nghiệp tham gia phát triển nền tảng số. Để tăng hiệu quả quản trị ở cấp cơ sở, chính quyền Thành phố cần xây dựng hai bộ khung chuyên biệt: khung chuyển đổi số cho phường (phù hợp với đặc thù kinh tế đô thị, thương mại – dịch vụ) và khung chuyển đổi số cho xã (gắn với nông nghiệp số, kinh tế hợp tác và thương mại điện tử nông thôn). Hai khung chuyển đổi số này sẽ giúp chuẩn hóa quy trình, chỉ tiêu và đánh giá năng lực quản trị kinh tế số ở cấp cơ sở, tạo nền tảng cho việc giám sát và đo lường hiệu quả chính sách thống nhất trên toàn địa bàn. Chính quyền Thành phố cũng cần chú trọng nâng cao năng lực thể chế và trách nhiệm thực thi, coi đây là khâu quyết định để các chính sách đặc thù thực sự trở thành động lực phát triển.
Thứ hai, phát triển đồng bộ hạ tầng số và dữ liệu đô thị
Hạ tầng và dữ liệu là nền tảng của quản trị kinh tế số. Thành phố cần tập trung hoàn thiện mạng viễn thông, trung tâm dữ liệu đô thị, nền tảng điện toán đám mây và hệ thống tích hợp – chia sẻ dữ liệu (LGSP), hình thành kho dữ liệu mở phục vụ doanh nghiệp và người dân. Đồng thời, phải thu hẹp khoảng cách số giữa nội thành và ngoại thành, bảo đảm tốc độ kết nối và mức độ tiếp cận hạ tầng đồng đều trên toàn địa bàn. Các cơ quan chức năng của Thành phố cũng cần chuẩn hóa chuẩn dữ liệu, cơ chế bảo mật và quy trình chia sẻ thông tin, tạo nền tảng hình thành hệ sinh thái dữ liệu đô thị thống nhất, an toàn, tin cậy.
Thứ ba, nâng cấp nền tảng dịch vụ công gắn với hệ sinh thái kinh tế số
Nâng cấp dịch vụ công không chỉ là yêu cầu kỹ thuật, mà còn là giải pháp quản trị chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả phục vụ nhân dân và thúc đẩy kinh tế số. Ủy ban nhân dân Thành phố cần đề xuất, phối hợp với cơ quan có thẩm quyền để tích hợp thanh toán điện tử, định danh số (VNeID) và liên thông dữ liệu giữa các lĩnh vực kinh tế, tài chính, thuế, đầu tư, thương mại, lao động, hình thành chuỗi dịch vụ công số liền mạch, minh bạch. Cần liên kết nền tảng dịch vụ công với các hệ sinh thái kinh tế số, như thương mại điện tử, logistics, du lịch, thanh toán thông minh, nhằm mở rộng không gian dữ liệu công, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, người dân tiếp cận dịch vụ số toàn diện.
Thứ tư, phát triển nguồn nhân lực và văn hóa quản trị số
Phát triển kinh tế số phải bắt đầu từ con người và được dẫn dắt bởi văn hóa quản trị hiện đại. Ủy ban nhân dân Thành phố cần xây dựng chiến lược nhân lực số tổng thể, chú trọng thu hút chuyên gia công nghệ cao, đồng thời bồi dưỡng năng lực số cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức gắn với vị trí việc làm. Nhóm chủ thể trọng tâm bao gồm: lãnh đạo số, công chức số và công dân số, đội ngũ này phải được đào tạo bài bản, có khả năng thích ứng với yêu cầu của chính quyền điện tử và chính quyền số. Bên cạnh đó, cần xây dựng văn hóa quản trị số dựa trên các giá trị minh bạch, phục vụ và trách nhiệm giải trình, coi đây là chuẩn mực đạo đức công vụ của nền hành chính phục vụ, hướng tới chính quyền kiến tạo phát triển và phục vụ nhân dân.
Thứ năm, đổi mới cơ chế giám sát, đo lường và trách nhiệm giải trình
Cơ chế giám sát và đánh giá là yếu tố bảo đảm tính minh bạch và hiệu quả của quản trị địa phương trong thời đại số. Thành phố cần triển khai hệ thống giám sát thông minh, phản hồi trực tuyến và khảo sát điện tử, cho phép người dân, doanh nghiệp tham gia đánh giá chất lượng chính quyền số theo thời gian thực. Hội đồng nhân dân Thành phố, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam Thành phố và các tổ chức chính trị – xã hội Thành phố, các cơ quan báo chí Trung ương và địa phương cần tăng cường giám sát xã hội trong môi trường số, công khai kết quả chuyển đổi số, phản biện chính sách nhằm củng cố niềm tin của nhân dân. Bên cạnh đó, chính quyền cần xây dựng hệ thống phân tích dư luận số ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), nhằm cảnh báo sớm, xử lý kịp thời vấn đề phát sinh và nâng cao năng lực quản trị rủi ro truyền thông, qua đó khẳng định trách nhiệm giải trình và năng lực quản trị công của chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh.
4. Kết luận
Thực tiễn cho thấy, quản trị địa phương giữ vai trò quyết định đưa kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng mới của Thành phố Hồ Chí Minh. Dựa trên thể chế đặc thù, hạ tầng số ngày càng hoàn thiện và nỗ lực phát triển nhân lực, dữ liệu dùng chung, năng lực điều hành, Thành phố đang khẳng định vị thế tiên phong trong chuyển đổi số quốc gia. Tuy nhiên, để kinh tế số trở thành trụ cột phát triển bền vững, chính quyền Thành phố cần đổi mới tư duy quản trị, chuyển từ “quản lý hành chính” sang “kiến tạo phục vụ”, lấy dữ liệu, công nghệ và niềm tin xã hội làm nền tảng. Trong giai đoạn mới, cần tập trung xây dựng chính quyền số dẫn dắt kinh tế số, thúc đẩy sự tham gia của doanh nghiệp và công dân số như cấu phần trung tâm của mô hình quản trị hiện đại. Đồng thời, chính quyền Thành phố cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, tăng cường liên thông dữ liệu, phát triển nhân lực số, nâng cấp hạ tầng và nâng cao năng lực phản ứng chính sách, hướng tới mục tiêu đến năm 2030 trở thành đô thị thông minh, trung tâm đổi mới sáng tạo hàng đầu Đông Nam Á, nơi kinh tế số không chỉ là động lực tăng trưởng, mà còn là giá trị cốt lõi của mô hình quản trị đô thị hiện đại, bao trùm và bền vững trên nền tảng dữ liệu và đổi mới sáng tạo./.
—————————————————————-
(1) Lưu Niệm, Kinh tế số là động lực tăng trưởng mới cho siêu đô thị Thành phố Hồ Chí Minh, https://baotintuc.vn, ngày 12/8/2025
(2) Trần Anh Tuấn, Quản trị địa phương theo hướng hiện đại, hiệu quả trong tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp hiện nay, https://tcnn.vn, ngày 15/10/2025
(3) Võ Kim Sơn, Những vấn đề cần quan tâm khi bàn về Local Governance – Quản trị địa phương, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quản trị địa phương ở Việt Nam – Lý luận và Thực tiễn”, Học viện Hành chính và Quản trị công, Hà Nội, 2025
(4) Nguyễn Thị Hồng Hải, Quản trị địa phương ở Việt Nam trong bối cảnh mới: Thách thức và giải pháp, Kỷ yếu Hội thảo khoa học “Quản trị địa phương ở Việt Nam – Lý luận và Thực tiễn”, Học viện Hành chính và Quản trị công, Hà Nội, 2025
(5) Quyết định số 503/QĐ-UBND ngày 18/02/2022 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về phê duyệt Đề án “Phát triển kinh tế số, kinh tế chia sẻ và kinh tế tuần hoàn trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2020 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030”
(6) OECD, A roadmap toward a common framework for measuring the Digital Economy, 2020
(7) và (8) Trung Hiếu, Thành phố Hồ Chí Minh: Đột phá hạ tầng, kiến tạo động lực tăng trưởng mới, https://www.vietnamplus.vn, ngày 14/10/2025
(9) Bộ Khoa học và Công nghệ, Báo cáo tình hình thực hiện các nhiệm vụ phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia (Phục vụ Phiên họp lần thứ tư của Ban Chỉ đạo của Chính phủ về phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và Đề án 06), ngày 22/9/2025
(10) Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh lần thứ I, nhiệm kỳ 2025 – 2030, ngày 15/10/2025
(Tạp chí Khoa học chính trị Số 09/2025)
