PHÁT TRIỂN LOGISTICS XANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP(*)

PHÁT TRIỂN LOGISTICS XANH Ở THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH: THỰC TRẠNG VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP(*)

TS. HÀ THỊ VIỆT THÚY
Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt: Phát triển logistics xanh là xu thế tất yếu và yêu cầu cấp thiết đối với Thành phố Hồ Chí Minh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thực hiện cam kết quốc gia về giảm phát thải ròng bằng 0 (Net Zero). Bài viết hệ thống hóa cơ sở lý luận về logistics xanh dựa trên các nội dung cốt lõi; đồng thời, phân tích thực trạng, từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp chiến lược nhằm phát triển logistics xanh, góp phần hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng bền vững của Thành phố.
Từ khóa: logistics xanh, quản trị chuỗi cung ứng, Thành phố Hồ Chí Minh
GREEN LOGISTICS DEVELOPMENT IN HO CHI MINH CITY: CURRENT STATUS AND PROPOSED SOLUTIONS
Abstract: Green logistics development is an inevitable trend and an urgent requirement for Ho Chi Minh City to enhance its competitiveness and support the fulfillment of the national commitment to net-zero emissions. This article systematizes the theoretical foundations of green logistics based on its core dimensions and analyzes the current status of green logistics development in Ho Chi Minh City. On that basis, it proposes strategic solutions for green logistics development, thereby contributing to the achievement of the City’s sustainable growth objectives.
Keywords: green logistics; supply chain management; Ho Chi Minh City

1. Đặt vấn đề
Logistics là mắt xích quan trọng kết nối sản xuất, lưu thông và phân phối, đồng thời tác động trực tiếp đến năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Tuy nhiên, sự mở rộng của chuỗi cung ứng toàn cầu làm gia tăng áp lực lên môi trường và phát thải khí nhà kính từ hoạt động logistics. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 tại COP26 và các thị trường xuất khẩu ngày càng áp dụng yêu cầu, tiêu chuẩn, cơ chế, chính sách về môi trường, như Cơ chế Điều chỉnh Biên giới Carbon (CBAM), Chỉ thị Báo cáo Bền vững của Doanh nghiệp (CSRD), xanh hóa logistics trở thành yêu cầu quan trọng để doanh nghiệp Việt Nam duy trì khả năng tiếp cận thị trường và tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thành phố Hồ Chí Minh – trung tâm logistics trọng điểm và đầu tàu kinh tế của cả nước đang đứng trước yêu cầu cấp bách về chuyển đổi xanh, do lưu lượng hàng hóa lớn qua các cụm cảng và sự tập trung của các dự án FDI, tạo áp lực lớn lên hạ tầng và môi trường đô thị. Bên cạnh đó, Quyết định số 2229/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ Phê duyệt “Chiến lược phát triển dịch vụ logistics Việt Nam thời kỳ 2025 – 2035, tầm nhìn đến 2050” cũng đặt ra yêu cầu thúc đẩy logistics xanh. Vì vậy, đánh giá toàn diện thực trạng logistics xanh tại Thành phố Hồ Chí Minh là cần thiết để nhận diện điểm nghẽn và đề xuất giải pháp phát triển Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm logistics xanh, thông minh và bền vững.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng dữ liệu thứ cấp từ báo cáo logistics Việt Nam, báo cáo ngành logistics của Virac,… đồng thời kế thừa số liệu khảo sát đã được công bố về doanh nghiệp logistics, doanh nghiệp xuất nhập khẩu và số liệu thương mại điện tử trong giai đoạn 2024 – 2025. Từ đó, bài viết sử dụng phương pháp thống kê, mô tả, phân tích, so sánh và tổng hợp để đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp tiếp tục phát triển logistics xanh ở Thành phố Hồ Chí Minh.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Một số vấn đề lý luận về logistics xanh
Thuật ngữ “logistics xanh” hay các thuật ngữ tương tự như “logistics bền vững”, “logistics xanh bền vững”,… lần đầu tiên được đề cập vào những năm 1980, đánh dấu sự chuyển dịch tư duy từ việc chú trọng tối ưu hóa chi phí sang tích hợp các yếu tố bảo vệ môi trường vào quản trị chuỗi cung ứng. Theo đó, rất nhiều tổ chức và các nhà nghiên cứu đã đưa ra các quan niệm về logistics xanh. Logistics xanh được hiểu là các hoạt động logistics hướng tới mục tiêu bền vững, thân thiện và bảo vệ môi trường, nhằm giảm tối đa tác động tiêu cực đến hệ sinh thái (Bộ Công Thương, 2022). Quan niệm này cung cấp cơ sở định hướng cho phát triển logistics xanh, phù hợp với định hướng chiến lược quốc gia và mục tiêu Net Zero mà Việt Nam đang nỗ lực thực hiện.
Theo Kutkaitis & Župerkienė (2011), logistics xanh là một hệ thống logistics trong đó năng lượng được tiêu dùng hiệu quả, giúp giảm thiểu tác hại đến môi trường nhưng vẫn bảo đảm gia tăng hiệu quả lao động và tính cạnh tranh của doanh nghiệp. Định nghĩa này có ý nghĩa quan trọng đối với cộng đồng doanh nghiệp, nhằm hỗ trợ tối ưu hóa nguồn lực và giảm phát thải.
Quản lý logistics xanh tập trung trực tiếp vào việc tối ưu hóa quy trình vận chuyển, kho bãi, quản lý hàng tồn kho và phân phối (Dekker & cộng sự, 2012). Mục đích của quá trình này là giảm thiểu các tác động đến môi trường, điển hình như giảm phát thải khí nhà kính, giảm tiêu thụ năng lượng và thúc đẩy sử dụng vật liệu đóng gói có khả năng tái chế. Theo đó, logistics xanh được hiểu là hệ thống quản trị và vận hành chuỗi cung ứng, bao gồm tối ưu hóa vận tải, kho bãi, đóng gói và quản lý dữ liệu nhằm sử dụng hiệu quả năng lượng và tài nguyên, giảm tối đa lượng phát thải khí nhà kính cùng các tác động tiêu cực đến môi trường, đồng thời, là giải pháp chiến lược để doanh nghiệp giảm chi phí, tăng hiệu suất và cải thiện năng lực cạnh tranh dài hạn.
Nội dung phát triển logistics xanh được xem xét với 05 trụ cột cơ bản: (1) Xanh hóa hoạt động vận tải là mắt xích tác động lớn đến môi trường, tập trung giảm tiêu thụ nhiên liệu hóa thạch thông qua thay thế phương tiện động cơ đốt trong bằng phương tiện phát thải thấp (xe điện, xe hybrid), sử dụng nhiên liệu sinh học, tối ưu hóa tải trọng và lộ trình, tăng cường vận tải đa phương thức nhằm giảm phụ thuộc vào đường bộ (Đoàn Thị Hồng Anh, 2022); (2) Phát triển kho bãi bền vững tập trung thiết kế, xây dựng và vận hành kho theo tiêu chuẩn sinh thái, thông qua tối ưu vị trí, sử dụng vật liệu thân thiện môi trường, khai thác năng lượng tái tạo và ứng dụng thiết bị tiết kiệm năng lượng nhằm giảm “dấu chân sinh thái” của hoạt động lưu kho (Đỗ Huyền Mai, 2024); (3) Bao bì sinh thái và logistics ngược tập trung sử dụng bao bì có khả năng tái chế, phân hủy sinh học và hạn chế đóng gói dư thừa; quản lý dòng vật chất từ người tiêu dùng về nơi sản xuất để thu hồi, tái sử dụng, tái chế hoặc tiêu hủy an toàn, góp phần hình thành mô hình kinh tế tuần hoàn khép kín (Đoàn Thị Hồng Anh, 2022; Đỗ Huyền Mai, 2024); (4) Chuyển đổi số và ứng dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng 4PL/5PL là nền tảng kỹ thuật của logistics xanh. Ứng dụng công nghệ Công nghiệp 4.0, Big Data và các phần mềm quản lý vận tải (TMS), quản lý kho (WMS) giúp nâng cao khả năng hiển thị, tự động hóa, chia sẻ dữ liệu không giấy tờ, giảm xe chạy rỗng và tối ưu phân bổ nguồn lực, tạo điều kiện chuyển đổi sang mô hình 4PL/5PL (Đào Quốc Đạt & cộng sự, 2025); (5) Đào tạo nguồn nhân lực xanh là hoạt động cốt lõi nhằm trang bị cho người lao động hệ thống kiến thức, kỹ năng và thái độ về quản lý môi trường. Quá trình này giúp tổ chức tích lũy “vốn trí tuệ xanh”, cung cấp năng lực và sự hỗ trợ cần thiết để nhân viên thực hành thành công các sáng kiến sinh thái và chuỗi cung ứng xanh (Nguyễn Thanh Lâm & Đoàn Thị Chuyên, 2024).
3.2. Thực trạng phát triển logistics xanh ở Thành phố Hồ Chí Minh
Ngành logistics Việt Nam tăng trưởng bình quân 14-16%/năm, chi phí logistics giảm còn khoảng 16% GDP và xếp thứ 43/139 thế giới về Chỉ số Năng lực logistics năm 2023. Với hơn 34.000 doanh nghiệp, hạ tầng ngày càng đồng bộ và hội nhập sâu rộng qua các Hiệp định thương mại tự do (FTA), ngành logistics góp phần đưa quy mô thương mại quốc tế đạt khoảng 900 tỉ USD năm 2025 (VIRAC, 2026). Tuy nhiên, trước yêu cầu phát triển bền vững và các tiêu chuẩn môi trường ngày càng khắt khe, chuyển sang mô hình logistics xanh là xu thế tất yếu. Đặc biệt, năm 2025 đánh dấu bước ngoặt phát triển dịch vụ logistics bằng việc Chính phủ ban hành Quyết định số 2229/QĐ-TTg (Thủ tướng Chính phủ, 2025).
Hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh giữ vai trò đầu mối logistics của khu vực phía Nam và cả nước, với sản lượng hàng hóa qua cảng biển năm 2025 đạt trên 356 triệu tấn, đưa Thành phố vào nhóm 22 trung tâm cảng biển lớn trên thế giới. Tuy nhiên, mật độ lưu thông cao và hơn 840 dự án FDI trong lĩnh vực logistics (VIRAC, 2026) làm gia tăng áp lực phát thải carbon, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chuyển đổi sang mô hình logistics xanh để nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm phát triển bền vững của chuỗi cung ứng. Năm 2025, hệ sinh thái logistics của Thành phố Hồ Chí Minh đang từng bước chuyển từ mô hình vận hành truyền thống sang quản trị theo hướng xanh và bền vững.
Thứ nhất, về xanh hóa vận tải, đây là trụ cột quan trọng trong giảm phát thải. Thành phố Hồ Chí Minh đang tận dụng lợi thế hạ tầng để phát triển vận tải đa phương thức theo hướng phát thải thấp. Năm 2025, cảng vụ Thành phố Hồ Chí Minh xử lý 356.035.893 tấn hàng hóa và 21.837.647 TEU container, đưa khu vực này vào nhóm 22 cảng container bận rộn nhất thế giới. Từ Bảng 1, xu hướng dịch chuyển sang mô hình vận tải phát thải thấp được định hình rõ nét với sự bứt phá mang tính bước ngoặt của hệ thống đường thủy nội địa phía Nam (tăng 46,0%), kết hợp với việc giảm lượng phát thải trên mỗi đơn vị hàng hóa nhờ năng lực tiếp nhận các siêu tàu container 200.000 DWT tại cụm cảng nước sâu Cái Mép (tăng 29,2%), cho phép thiết lập các luồng hải hành trực tiếp xuyên đại dương, giảm các chặng trung chuyển phát thải cao.

Bảng: Hiệu suất khai thác hàng hóa tại các đầu mối vận tải trọng điểm ở Thành phố Hồ Chí Minh (2024 – 2025)

Đầu mối chiến lược Năm 2025 Tốc độ tăng trưởng so với năm 2024 (%)
Cảng vụ Thành phố Hồ Chí Minh Khối lượng: 356.035.893 tấn
Sản lượng container:
21.837.647 TEU
Cụm cảng Cái Mép Hơn 7,0 triệu TEU Tăng 29,2%
Cảng Hàng không Quốc tế Tân Sơn Nhất 596.927,476 tấn Tăng 6,37%

Cảng thủy nội địa phía Nam

  Tăng 46,0%

Nguồn: Bộ Công Thương (2025).
Thứ hai, về phát triển kho bãi xanh, với lợi thế là thủ phủ công nghiệp – dịch vụ, Thành phố Hồ Chí Minh thu hút dòng vốn FDI lớn nhất cả nước vào lĩnh vực hạ tầng logistics. Tính lũy kế đến năm 2024, khu vực này ghi nhận trên 840 dự án FDI trong ngành, lớn hơn so với Hà Nội (gần 380 dự án) và Hải Phòng (trên 150 dự án). Sự tập trung vốn này đã định hình rõ xu hướng xanh hóa kho bãi tại Thành phố Hồ Chí Minh thông qua mạng lưới kho bãi vệ tinh và cảng cạn ICD Thạnh Phước và ICD Phú Mỹ để gom hàng, tối ưu hóa hệ thống logistics đa phương thức của Thành phố (Bộ Công Thương, 2025). Hệ thống trung tâm logistics tại Thành phố Hồ Chí Minh và vùng phụ cận đang đẩy mạnh việc áp dụng các tiêu chuẩn công trình xanh (như LEED, LOTUS), thông qua việc tích hợp mạng lưới điện mặt trời áp mái. Bên cạnh đó, sự gia tăng nhu cầu đối với chuỗi cung ứng lạnh phục vụ xuất khẩu đã trở thành động lực chiến lược, thu hút mạnh mẽ dòng vốn FDI từ Nhật Bản và Hàn Quốc vào việc phát triển hệ thống kho lạnh công nghệ cao nhằm tối ưu hóa hiệu suất tiêu thụ năng lượng.
Thứ ba, sử dụng bao bì sinh thái và phát triển logistics ngược, sự bùng nổ mạnh mẽ của thương mại điện tử khi quy mô toàn ngành tại Việt Nam chạm mốc 38,5 tỉ USD vào năm 2025 (trong đó Thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội chiếm 70% thị phần) và có xu hướng tăng, theo đó, tỉ lệ thuận với áp lực rác thải bao bì tại đô thị. Một số sàn thương mại điện tử (Shopee, Lazada, Tiki) và đơn vị chuyển phát đã bắt đầu áp dụng giải pháp đóng gói xanh, như hộp carton tái chế đạt chuẩn, túi đệm khí sinh học hoặc dịch vụ “giao hàng không bao bì phụ” (Hiệp hội Thương mại điện tử Việt Nam, 2026). Mặc dù vậy, quy trình logistics ngược nhằm thu hồi và tái chế bao bì nhựa, xốp từ thương mại điện tử tại Thành phố vẫn đối mặt với rào cản do thiếu quy hoạch đồng bộ về mạng lưới thu gom chính thức.
Thứ tư, về thực hiện chuyển đổi số và ứng dụng mô hình quản trị chuỗi cung ứng 4PL/5PL. Dữ liệu toàn quốc chỉ ra 90,5% doanh nghiệp vẫn kẹt ở mức độ số hóa bề mặt (cấp độ 1 và 2), chưa khai thác triệt để các công nghệ nền tảng của công nghiệp 4.0 hay các phần mềm quản trị chuyên sâu (như TMS, WMS). Tuy nhiên, Thành phố Hồ Chí Minh đang đóng vai trò tiên phong nhờ sự dẫn dắt của các tập đoàn đầu ngành (điển hình như Tân Cảng Sài Gòn, Gemadept). Việc vận hành thành công nền tảng Cảng thông minh (SmartPort) và hải quan điện tử tại cụm cảng Cát Lái, Cái Mép là minh chứng rõ nét cho quá trình tự động hóa quy trình và chia sẻ dữ liệu không giấy tờ dựa trên hệ thống dữ liệu lớn. Những bước tiến này đang tạo tiền đề vững chắc để các doanh nghiệp tích hợp chuỗi cung ứng, tiến lên mô hình 4PL, 5PL; qua đó phân bổ tài nguyên tối ưu, giúp tăng 25% năng suất khai thác, giảm hơn 50% thời gian tàu nằm bến và giảm 15-20% chi phí vận hành (Bộ Công Thương, 2025).
Thứ năm, về đào tạo nguồn nhân lực cho logistics xanh, nhân tố con người là nền tảng để vận hành toàn bộ hệ sinh thái logistics hiện đại. Thành phố Hồ Chí Minh tập trung các cơ sở đào tạo chuyên sâu hàng đầu, như Đại học Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh, Đại học Quốc tế Thành phố Hồ Chí Minh. Trong năm 2025, việc đưa vào vận hành các phòng Lab logistics trang bị hệ thống nhận dạng qua tần số vô tuyến (RFID), phần mềm quản lý kho (WMS), phần mềm quản lý vận tải (TMS) và hệ thống định vị toàn cầu (GPS) tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh (Bộ Công Thương, 2025) đã tạo bước ngoặt lớn, giúp sinh viên tiếp cận môi trường mô phỏng chuỗi cung ứng số và xanh ngay trên giảng đường.
Bên cạnh những điểm sáng, thực trạng phát triển logistics xanh ở Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tồn tại những hạn chế sau:
Thứ nhất, phương thức vận tải ảnh hưởng đến môi trường vẫn chiếm tỉ trọng lớn. Năm 2025, vận tải đường bộ chiếm tỉ trọng lên tới 75,15% tổng khối lượng hàng hóa (đạt 2.275,38 triệu tấn, tăng 14,7%) và sự tăng trưởng liên tục của logistics hàng không tại Tân Sơn Nhất (tăng 6,37% so với năm 2024), dù hàng không mang lại giá trị cao, nhưng đây là phương thức có cường độ phát thải lớn nhất (602g CO2​/tấn-km). Trong khi đó, các phương thức vận tải có mức phát thải thấp và thân thiện với môi trường lại chiếm tỉ trọng rất khiêm tốn: đường sắt chỉ đạt 0,18% (5,45 triệu tấn), đường thủy nội địa chỉ đạt 19,75% (598,04 triệu tấn) (Bộ Công Thương, 2025).
Thứ hai, logistics ngược chưa thực sự được quan tâm, đặc biệt trong thu hồi phế phẩm, bao bì và chất thải để tái chế. Khảo sát năm 2025 cho thấy, logistics đầu ra đạt 4,51/5 điểm và đầu vào 4,47/5 điểm, trong khi logistics ngược chỉ đạt 4,34/5 điểm (Bộ Công Thương, 2025). Như vậy, hoạt động thu hồi, xử lý bao bì và tái chế tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa được khai thác hiệu quả, trong khi chất thải công nghiệp và bao bì thương mại điện tử tiếp tục tạo áp lực lên môi trường.
Thứ ba, sự khiêm tốn của các mô hình quản trị chuỗi cung ứng 4PL, 5PL.  Năm 2025, 3PL chiếm tỉ trọng cao nhất (30,8%), tiếp đến là 1PL (28,2%) và 2PL (25,6%), trong khi 4PL chỉ đạt 10,3% và 5PL là 5,1% (Bộ Công Thương, 2025). Tỉ lệ 4PL/5PL thấp tại Thành phố Hồ Chí Minh làm gia tăng tình trạng vận tải phân mảnh, xe chạy rỗng và kho bãi hoạt động riêng lẻ, hạn chế tối ưu hóa lộ trình, lãng phí nguồn lực và cản trở hình thành hệ sinh thái logistics xanh đồng bộ.
Thứ tư, thiếu hụt nguồn nhân lực chất lượng cao cho logistics xanh. Dự báo đến năm 2030, ngành logistics thiếu khoảng 1,03-1,06 triệu lao động chuyên nghiệp. Việc 85,7% doanh nghiệp phải tự đào tạo lại nhân sự làm tăng chi phí và tạo độ trễ trong việc ứng dụng Big Data, IoT, AI vào quản trị và kiểm soát phát thải tại các cụm cảng lớn như Cát Lái (Bộ Công Thương, 2025)
Thứ năm, chi phí logistics nội tại là gánh nặng đối với năng lực cạnh tranh. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, giá thuê đất kho bãi cao và tình trạng ùn tắc quanh các khu vực cảng làm gia tăng chi phí logistics. Theo doanh nghiệp, chi phí logistics tăng là khó khăn lớn nhất, với 3,23/5 điểm (Bộ Công Thương, 2025), khiến doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế nguồn lực tái đầu tư cho các giải pháp xanh như phương tiện điện và năng lượng tái tạo cho kho bãi.
Nguyên nhân của những hạn chế chủ yếu gồm: (i) Rào cản thể chế và thủ tục hành chính, hệ thống pháp lý phức tạp, tiêu chuẩn quản lý môi trường, phát thải chưa đồng bộ làm gia tăng chi phí, thời gian thông quan, giảm tính linh hoạt và hạn chế nguồn lực đầu tư công nghệ xanh; (ii) Áp lực vốn và rào cản tài chính, chuyển đổi sang kho bãi xanh, phương tiện điện và công nghệ AI, Blockchain đòi hỏi vốn lớn. Năm 2025, rào cản vốn được doanh nghiệp logistics đánh giá ở mức 3,15/5 điểm; trong năm 2025, có 9.343 doanh nghiệp logistics thành lập mới với tổng vốn 91.466 tỉ đồng, song phần lớn là doanh nghiệp nhỏ và vừa, hạn chế khả năng đầu tư dài hạn (Bộ Công Thương, 2025). Thiếu tín dụng xanh và các quỹ hỗ trợ đổi mới sáng tạo cũng làm giảm động lực chuyển đổi; (iii) Năng lực học hỏi, đổi mới sáng tạo và thích ứng hạn chế, nhiều doanh nghiệp chậm tích hợp các tiêu chuẩn xanh quốc tế vào hoạt động, làm suy giảm năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng với yêu cầu phát triển bền vững.
3.3. Giải pháp phát triển logistics xanh ở Thành phố Hồ Chí Minh
Thứ nhất, xây dựng thể chế về hạ tầng số và tái cơ cấu phương thức vận tải nhằm giảm áp lực sinh thái đô thị
Thành phố cần hoàn thiện cơ chế, tiêu chuẩn kết nối và lộ trình thúc đẩy các doanh nghiệp, cơ quan liên quan ứng dụng nền tảng cảng thông minh và cửa khẩu số liên thông nhằm cắt giảm thời gian phương tiện phải nổ máy chờ đợi. Đặc biệt, cần làm chủ công nghệ lõi và nhân rộng mô hình đã được các doanh nghiệp tiên phong (như công ty Portcoast) triển khai thành công tại khu vực cảng nước sâu Cái Mép – Thị Vải bằng cách tích hợp sâu các công nghệ IoT, Scan to BIM (Quét hiện trạng sang mô hình thông tin công trình), BIM (Mô hình thông tin công trình) và ArcGIS (nền tảng không gian địa lý), thành phố sẽ thiết lập được mô hình “Bản sao số” cho toàn bộ cụm cảng trọng điểm (như Cát Lái, Hiệp Phước). Mô hình này cho phép mô phỏng toàn diện hoạt động cảng theo thời gian thực từ điều phối luồng tàu, bốc xếp hàng hóa đến các kịch bản ứng phó sự cố khẩn cấp, qua đó hỗ trợ quy hoạch và tối ưu hóa vận hành một cách tuyệt đối. Cùng với đó, tận dụng mạng lưới sông ngòi dày đặc, Thành phố ban hành chính sách thu hút đầu tư theo hình thức đối tác công – tư (PPP) để khơi thông luồng tuyến, đẩy mạnh các mô hình vận tải đa phương thức (như đường bộ kết hợp đường sắt/đường thủy với hệ số phát thải chỉ 21g đến 26g CO2/tấn-km). Việc biến đường thủy nội địa thành phương thức vận chuyển chủ lực sẽ chia sẻ gánh nặng cho hệ thống giao thông, trực tiếp giải quyết điểm nghẽn về ách tắc giao thông và ô nhiễm môi trường.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế tài chính đặc thù và phát triển hệ sinh thái cảng – kho bãi xanh nhằm tối ưu hóa hiệu quả chuỗi cung ứng, Thành phố Hồ Chí Minh cần định hướng quy hoạch và phát triển các “Đặc khu logistics xanh” dọc theo các hành lang vành đai giao thông gắn liền với mạng lưới cảng cạn (ICD). Mô hình này giúp phát huy hiệu ứng kinh tế nhờ quy mô, tạo điều kiện để các doanh nghiệp chia sẻ cơ sở hạ tầng sinh thái dùng chung (như hệ thống điện mặt trời áp mái, giải pháp thông gió và chiếu sáng tự nhiên), qua đó tiết giảm đáng kể chi phí vận hành và giảm thiểu dấu chân carbon. Đồng thời, Thành phố cần thúc đẩy chuẩn hóa và tích hợp hệ thống quản trị nội bộ của doanh nghiệp với Hệ thống thông tin cộng đồng cảng (Port Community System – PCS), bảo đảm luồng thông tin liên thông thông suốt và minh bạch với các cơ quan quản lý nhà nước. Về khung chính sách, Thành phố cần tiên phong cụ thể hóa các cơ chế đặc thù thông qua các gói tín dụng xanh, ưu đãi thuế và miễn, giảm tiền thuê đất. Các chính sách này cần được áp dụng có điều kiện đối với các dự án đầu tư (bao gồm cả khu vực FDI và trong nước) cam kết phát triển đội phương tiện sử dụng nhiên liệu sạch, xây dựng cảng xanh, hoặc đạt tiêu chuẩn công trình xanh quốc tế (LEED/LOTUS) để kiến tạo nền tảng vững chắc cho hệ sinh thái logistics đô thị bền vững.
Thứ ba, hoàn thiện khung pháp lý cho kinh tế tuần hoàn, chuẩn hóa logistics ngược. Thành phố Hồ Chí Minh cần tổ chức thực hiện hiệu quả các quy định về trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất (EPR) đối với các nền tảng thương mại điện tử và các đơn vị giao nhận. Cần quy hoạch và cấp phép hệ thống thu hồi, phân loại rác thải bao bì (nhựa, carton) chuyên nghiệp. Thiết lập các vùng hạn chế phát thải tại khu vực trung tâm, áp dụng chính sách trợ giá để thúc đẩy các doanh nghiệp vận tải chặng cuối chuyển đổi sang phương tiện giao hàng xanh (xe điện, xe đạp điện) hoặc thử nghiệm các mô hình phân phối không phát thải bằng thiết bị tự hành.
Thứ tư, thúc đẩy các mô hình quản trị chuỗi cung ứng bậc cao (4PL/5PL) gắn với công nghệ 4.0, chính quyền Thành phố Hồ Chí Minh cần có cơ chế hỗ trợ các tập đoàn đầu ngành (như Tân Cảng Sài Gòn, Gemadept) trở thành các nhà điều phối 4PL/5PL hiệu quả. Các tập đoàn này cần chia sẻ nền tảng quản trị dữ liệu lớn (Big Data) dùng chung cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ, giúp tối ưu hóa quá trình định tuyến, giảm tình trạng xe tải chạy rỗng và minh bạch hóa trách nhiệm xả thải carbon.
Thứ năm, phát triển nguồn nhân lực cho ngành logistics xanh. Cần có cơ chế hợp tác ba bên “Nhà nước – Cơ sở đào tạo – Doanh nghiệp” nhằm gắn kết chặt chẽ đào tạo với thực tiễn, theo đó, các doanh nghiệp đầu ngành phối hợp cùng các trường đại học trọng điểm trên địa bàn xây dựng các phòng Lab mô phỏng (tích hợp WMS, TMS, RFID). Đồng thời, đưa các học phần về quản trị phát thải carbon, ESG và phân tích dữ liệu lớn vào chương trình đào tạo cốt lõi nhằm kiến tạo thế hệ nhân sự am hiểu công nghệ và tư duy sinh thái, sẵn sàng vận hành hệ sinh thái logistics hiện đại của Thành phố Hồ Chí Minh. Có chính sách đãi ngộ đột phá để thu hút chuyên gia logistics trình độ cao trong và ngoài nước. Điểm quan trọng là phải tăng cường bồi dưỡng tư duy quản trị logistics cho chính đội ngũ cán bộ quản lý nhà nước các cấp.
4. Kết luận
Phát triển logistics xanh là yêu cầu tất yếu với định hướng phát triển bền vững của Thành phố Hồ Chí Minh. Thực tiễn đã ghi nhận những thay đổi tích cực từ việc số hóa quy trình giao nhận, phát triển các kho bãi chuẩn sinh thái, đến xu hướng dịch chuyển sang vận tải đường thủy nội địa. Tuy nhiên, tiến trình này vẫn đang bị kìm hãm bởi những rào cản, như sự phụ thuộc quá mức vào vận tải đường bộ, áp lực do chi phí chuyển đổi công nghệ, sự phân mảnh của các dịch vụ chuỗi cung ứng và chất lượng nguồn nhân lực. Để phá vỡ các rào cản và hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược, Thành phố Hồ Chí Minh cần chuyển từ cách tiếp cận đơn lẻ sang tiếp cận hệ sinh thái gắn với khung 05 nội dung đồng bộ. Trọng tâm là sự gắn kết chặt chẽ giữa Nhà nước (kiến tạo thể chế, hạ tầng đa phương thức và tín dụng xanh) – Doanh nghiệp (đẩy mạnh chuyển đổi số, tích hợp 4PL/5PL) – Cơ sở đào tạo (cung cấp “nguồn nhân lực xanh”). Sự phối hợp đồng bộ này sẽ là điều kiện tiên quyết để Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết vấn đề giới hạn sinh thái, giữ vững vị thế trung tâm logistics chiến lược và đưa chuỗi cung ứng Việt Nam hội nhập sâu rộng vào chuỗi giá trị toàn cầu./.

—————————————————

(*) Trích từ kết quả nghiên cứu của Đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2026: “Giải pháp phát triển logistics xanh ở Thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2030”.
Ngày nhận bài: 17/7/2026; Ngày phản biện: 20/7/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email liên hệ: [email protected]


(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 06/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *