TS. NGUYỄN THỊ TRANG
Học viện Hành chính và Quản trị công
Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia và tinh gọn bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, văn hóa công vụ không chỉ là hệ chuẩn mực điều chỉnh hành vi, mà còn là nhân tố quyết định tính hiệu lực, hiệu quả của nền hành chính hiện đại. Bài viết tập trung phân tích, làm rõ những nội dung cốt lõi trong thực thi văn hóa công vụ của cán bộ, công chức trên môi trường số hiện nay, từ đó, bài viết đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ về thể chế, con người và hạ tầng công nghệ nhằm xây dựng môi trường văn hóa công vụ số chuyên nghiệp, minh bạch, liêm chính, tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển bền vững và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: cán bộ, công chức; chuyển đổi số; quản trị công; văn hóa công vụ
BUILDING PUBLIC SERVICE CULTURE AMONG CADRES AND CIVIL SERVANTS TO MEET CURRENT DIGITAL TRANSFORMATION REQUIREMENTS
Abstract: In the context of national digital transformation and the streamlining of the state apparatus under the two-tier local government model, public service culture is not only a system of norms governing conduct but also a determining factor in the effectiveness and efficiency of modern public administration. This article focuses on analyzing and clarifying the core elements in the practice of public service culture by cadres and civil servants in the current digital environment. On that basis, it proposes a coordinated set of solutions concerning institutions, human resources, and technological infrastructure to build an environment of digital public service culture characterized by professionalism, transparency, and integrity, thereby laying a solid foundation for sustainable development and enhanced national governance capacity in the new era.
Keywords: cadres and civil servants; digital transformation; public governance; public service culture
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh chuyển đổi số và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, văn hóa công vụ là trụ cột định hình đạo đức, trách nhiệm và chất lượng phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Văn hóa công vụ là hệ thống các giá trị, chuẩn mực, niềm tin, thói quen điều chỉnh hành vi của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ. Trong cấu trúc nền hành chính, văn hóa công vụ của cán bộ, công chức được thể hiện tập trung qua bốn phương diện cốt lõi, cụ thể: 1) Tinh thần, thái độ làm việc; 2) Chuẩn mực giao tiếp, ứng xử; 3) Chuẩn mực đạo đức, lối sống; 4) Trang phục công sở.
Trong bối cảnh chuyển đổi số với tốc độ phát triển không ngừng của hạ tầng số, mỗi cán bộ, công chức cần trang bị về tư duy quản trị số, đạo đức số, văn hóa số và nâng cao trách nhiệm giải trình trên môi trường số. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh việc xây dựng môi trường văn hóa và phát triển con người Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa và chuyển đổi số: “Xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đồng bộ trên nền tảng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.378). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị “về phát triển văn hóa Việt Nam” cũng xác định chiến lược xây dựng “văn hóa số toàn dân” (Bộ Chính trị, 2026a). Từ các định hướng chiến lược của Đảng, bài viết nhận diện nội dung thực thi văn hóa công vụ trên môi trường số, chỉ rõ một số vấn đề đặt ra trong thực thi văn hóa công vụ trên môi trường số, đồng thời đề xuất các giải pháp đồng bộ xây dựng văn hóa công vụ số chuyên nghiệp, minh bạch và liêm chính, đáp ứng yêu cầu quản trị nhà nước trong kỷ nguyên mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Để làm rõ chủ đề văn hóa công vụ trong bối cảnh chuyển đổi số, tác giả sử dụng các phương pháp nghiên cứu: 1) Phương pháp tổng hợp: nhằm hệ thống hóa cơ sở lý luận, chủ trương, chính sách và các chuẩn mực liên quan đến văn hóa công vụ, chuyển đổi số; 2) Phương pháp phân tích: nhằm khai thác các số liệu về biên chế, kỷ luật, thanh tra, kiểm toán từ đó làm rõ những vấn đề đặt ra đối với văn hóa công vụ hiện nay; 3) Phương pháp so sánh: nhằm nhận diện sự chuyển dịch về phương thức, chuẩn mực và hành vi công vụ từ môi trường truyền thống sang môi trường số. Các phương pháp được sử dụng nhằm đánh giá những kết quả, hạn chế và khái quát các vấn đề trọng tâm, từ đó đề xuất giải pháp xây dựng văn hóa công vụ phù hợp với yêu cầu của nền công vụ số.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Nội dung thực thi văn hóa công vụ của cán bộ, công chức trên môi trường số hiện nay
Trong kỷ nguyên số, những chuẩn mực về văn hóa công vụ của cán bộ, công chức đang được mở rộng sang không gian số. Luật Cán bộ, công chức năm 2025 tiếp tục hoàn thiện các quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm, kỷ luật, đánh giá cán bộ, công chức và nâng cao trách nhiệm giải trình, yêu cầu cán bộ, công chức không chỉ tuân thủ quy tắc đạo đức truyền thống, mà còn phải chịu trách nhiệm về tính chính xác, an toàn và bảo mật dữ liệu trong thực thi công vụ. Đây là cơ sở để thiết lập hệ thống định danh hành vi, giúp các cơ quan quản lý nhà nước theo dõi, đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ và đạo đức nghề nghiệp, bảo đảm tính kỷ luật trong bối cảnh tăng cường phân cấp, phân quyền và vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp. Dưới góc độ quản lý công, việc thực thi văn hóa công vụ trên môi trường số hiện nay được cụ thể hóa qua bốn nội dung sau:
Thứ nhất, về tinh thần, thái độ và phương pháp làm việc của đội ngũ cán bộ, công chức đang có sự chuyển dịch theo hướng chủ động, chuyên nghiệp và dựa nhiều hơn trên công nghệ, dữ liệu
Hệ thống quản lý văn bản, hồ sơ điện tử, chữ ký số, dịch vụ công trực tuyến và các nền tảng điều hành đã từng bước thay đổi phương thức xử lý công việc chủ yếu dựa vào giấy tờ và trao đổi trực tiếp. Theo đó, văn hóa làm việc cũng đứng trước yêu cầu chuyển từ “hoàn thành phần việc” sang chịu trách nhiệm đối với tiến độ, chất lượng và kết quả cuối cùng. Đảng nhấn mạnh xây dựng văn hóa lãnh đạo, văn hóa công vụ (giao tiếp, ứng xử, trách nhiệm nêu gương, làm gương) của người đảng viên trên môi trường số; đề cao phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, gần dân, vì dân và khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm (Bộ Chính trị, 2026b). Công vụ số là nền tảng để công nghệ được chuyển hóa thành hiệu quả thực thi.
Thứ hai, văn hóa giao tiếp, ứng xử và phục vụ đang chuyển mạnh từ không gian công sở sang môi trường kết hợp trực tiếp và trực tuyến
Người dân ngày càng tương tác với cơ quan hành chính thông qua hệ thống thông tin giải quyết thủ tục hành chính, dịch vụ công trực tuyến và các kênh điện tử. Vì vậy, tính chuyên nghiệp của cán bộ, công chức không chỉ thể hiện ở thái độ tiếp công dân, mà còn qua tốc độ phản hồi, sự rõ ràng của hướng dẫn, cách thức xử lý yêu cầu và trách nhiệm trong từng tương tác số. Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành tại Quyết định số 423/QĐ-BVHTTDL ngày 05/3/2026 tiếp tục đặt ra yêu cầu về ứng xử văn minh, lành mạnh, an toàn và có trách nhiệm trên không gian số (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2026). Điều đó cho thấy, văn hóa phục vụ đang được mở rộng thành văn hóa phục vụ số, trong đó trải nghiệm và kết quả giải quyết công việc của người dân trở thành thước đo ngày càng quan trọng đối với tính chuyên nghiệp của nền công vụ.
Thứ ba, quy mô và cơ cấu đội ngũ đặt ra yêu cầu lớn đối với việc chuẩn hóa văn hóa công vụ số
Theo Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026 của Bộ Chính trị “về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026”, tổng biên chế khối địa phương là 1.865.544 người, trong đó có 314.604 cán bộ, công chức và 1.550.940 viên chức (Bộ Chính trị, 2026c). Quy mô lớn và sự đa dạng về điều kiện công tác đặt ra yêu cầu cao đối với việc thống nhất chuẩn mực, kỹ năng và hành vi công vụ số. Bộ máy được tổ chức tinh gọn, trách nhiệm cá nhân và quy trình phối hợp được xác định rõ hơn, tạo thuận lợi cho sự chuyển dịch từ tư duy hành chính, sang tư duy phục vụ, trách nhiệm và làm việc dựa trên dữ liệu. Tuy nhiên, hiệu quả của quá trình này không phụ thuộc đơn thuần vào số lượng biên chế, mà trước hết vào chất lượng đội ngũ, năng lực số, tinh thần học hỏi và vai trò dẫn dắt của người đứng đầu.
Thứ tư, đạo đức, kỷ luật và trách nhiệm công vụ vẫn tồn tại những hạn chế nhất định
Năm 2025, cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên; 23 cán bộ diện Trung ương quản lý bị xử lý kỷ luật, trong đó 06 trường hợp bị xử lý hình sự. Qua thanh tra, kiểm toán đã kiến nghị thu hồi, xử lý tài chính 75.132 tỉ đồng và 633 ha đất, đồng thời kiến nghị xử lý hành chính 928 tập thể và 3.058 cá nhân (Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam, 2025). Số liệu này cho thấy yêu cầu chung về tăng cường kỷ luật, kỷ cương, liêm chính, trách nhiệm và kiểm soát quyền lực rất cấp thiết trong thực thi công vụ hiện nay. Bên cạnh đó, trong nền công vụ số, nội hàm đạo đức công vụ tiếp tục mở rộng sang đạo đức số, bao gồm trách nhiệm bảo vệ dữ liệu, sử dụng thông tin đúng mục đích, bảo mật tài khoản công vụ, kiểm chứng nội dung do AI tạo ra và bảo đảm con người chịu trách nhiệm cuối cùng đối với hoạt động thực thi công vụ có sự hỗ trợ của công nghệ.
Ngoài ra, văn hóa công vụ trong nền công vụ số vẫn bộc lộ một số hạn chế đáng chú ý. Một bộ phận cán bộ, công chức chậm thay đổi tư duy và phương pháp làm việc; kỹ năng số chưa đồng đều; phương thức hành chính truyền thống vẫn được duy trì khi những quy trình đã số hóa, dẫn đến tình trạng “số hóa hình thức”. Văn hóa phục vụ ở một số nơi chưa theo kịp yêu cầu lấy người dân làm trung tâm; vẫn còn biểu hiện phản hồi chậm, né tránh trách nhiệm hoặc thiếu chủ động trong giải quyết công việc.
Như vậy, có thể nhận thấy, đặc trưng nổi bật của văn hóa công vụ hiện nay là trạng thái chuyển tiếp giữa công vụ truyền thống và công vụ số. Công nghệ đã làm thay đổi tương đối nhanh phương tiện, quy trình và khả năng giám sát hoạt động công vụ, nhưng sự thay đổi về tư duy, phương pháp làm việc, đạo đức và văn hóa phục vụ chưa đáp ứng yêu cầu. Do đó, vấn đề cốt lõi không chỉ là số hóa được bao nhiêu quy trình hay đưa bao nhiêu dịch vụ lên môi trường trực tuyến, mà là số hóa đã tạo ra được bao nhiêu thay đổi thực chất trong cách cán bộ, công chức làm việc, ứng xử và chịu trách nhiệm. Khoảng cách giữa “số hóa công vụ” và “chuyển đổi văn hóa công vụ” chính là một trong những “điểm nghẽn mềm” cần được giải quyết để mô hình chính quyền địa phương 2 cấp không chỉ tinh gọn về tổ chức, mà còn hình thành một nền công vụ chuyên nghiệp hơn, minh bạch, liêm chính và thực sự phục vụ Nhân dân.
3.2. Đề xuất giải pháp xây dựng văn hóa công vụ cho đội ngũ cán bộ, công chức trong thực thi công vụ trên môi trường số
Xây dựng văn hóa công vụ trong kỷ nguyên số là quá trình tái cấu trúc các giá trị, niềm tin và hành vi ứng xử của cán bộ, công chức, đồng thời gắn công nghệ với đổi mới quy trình công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức. Vì vậy, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Một là, hoàn thiện thể chế, quy định rõ về các nội dung văn hóa công vụ của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ trên môi trường số
Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 của Thủ tướng Chính phủ “về việc phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ” tập trung vào các chuẩn mực về tinh thần, thái độ làm việc, giao tiếp, ứng xử, đạo đức, lối sống, trang phục. Trong bối cảnh mới, cần tiếp tục cụ thể hóa các chuẩn mực này khi công vụ được thực hiện trên môi trường số. Tuy nhiên, nhiều bộ, ngành chủ động xây dựng và ban hành các bộ quy tắc ứng xử riêng biệt phù hợp với đặc thù của từng bộ, ngành, nhưng chưa có một quy tắc thống nhất về văn hóa công vụ trên môi trường số áp dụng cho đội ngũ cán bộ, công chức. Sự thiếu đồng bộ này có thể gây khó khăn cho việc quản lý và thực thi chuẩn mực văn hóa công vụ chung. Do đó, việc xây dựng một bộ quy tắc ứng xử văn hóa số mang tính bắt buộc, thống nhất là yêu cầu cấp thiết. Khung thể chế này cần cụ thể hóa các chuẩn mực về giao tiếp điện tử, trách nhiệm phát ngôn và quản trị dữ liệu tạo hành lang pháp lý vững chắc để cán bộ, công chức tự tin thực thi nhiệm vụ, đồng thời ngăn ngừa hiệu quả các hành vi lệch chuẩn trên môi trường số.
Hai là, tăng cường đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực số, tư duy số, đạo đức số, văn hóa số cho đội ngũ cán bộ, công chức
Chuyển đổi số toàn diện trong hệ thống hành chính nhà nước đặt ra yêu cầu khách quan về việc đổi mới căn bản chất lượng nguồn nhân lực. Bên cạnh các kỹ năng công nghệ, điều cốt lõi là phải hình thành cho đội ngũ cán bộ, công chức tư duy số, cách tiếp cận và tăng cường sử dụng dữ liệu, bằng chứng trong tham mưu, ra quyết định, đồng thời tuân thủ đầy đủ thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Đạo đức số và văn hóa số đóng vai trò định hướng hành vi, giúp cán bộ, công chức nhận thức rõ trách nhiệm pháp lý khi xử lý thông tin, bảo vệ dữ liệu cá nhân của người dân cũng như kiểm tra độ tin cậy, phù hợp của các kết quả do các công cụ hỗ trợ thông minh tạo ra, trên cơ sở đó ra quyết định hành chính kịp thời, chính xác, bảo đảm tính hiệu lực, hiệu năng và hiệu quả của nền hành chính. Việc tổ chức các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên sâu sẽ giúp thu hẹp khoảng cách số, nâng cao bản lĩnh nghề nghiệp và sự tự tin cho đội ngũ cán bộ, công chức trong kỷ nguyên số.
Ba là, đề cao vai trò nêu gương và trách nhiệm giải trình của người đứng đầu, cán bộ giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý trong tổ chức
Việc phát huy tinh thần nêu gương và trách nhiệm giải trình của người lãnh đạo, quản lý sẽ tạo ra sức lan tỏa mạnh mẽ, chuyển hóa chủ trương, quyết sách thành hành động cụ thể cho cán bộ, công chức noi theo. Đây là yêu cầu được cụ thể hóa trong Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 “về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”. Trong đó, nhấn mạnh yêu cầu đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh, gắn trực tiếp với xây dựng văn hóa lãnh đạo và văn hóa công vụ. Trong bối cảnh chuyển đổi số, yêu cầu này cần được cụ thể trong môi trường số. Đồng thời, đề cao tính nêu gương, sự sâu sát thực tiễn, tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và kiên quyết khắc phục tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm của cán bộ, đảng viên trên môi trường số hiện nay.
Bốn là, tái cấu trúc quy trình công vụ theo hướng lấy người dân làm trung tâm trong thực thi công vụ trên môi trường số
Một trong những rủi ro lớn nhất của tiến trình chuyển đổi số là hiện tượng số hóa hình thức. Để khắc phục triệt để tình trạng này, tái cấu trúc quy trình công vụ phải lấy người dân, doanh nghiệp và chất lượng phục vụ làm trung tâm trong thiết kế, cung cấp dịch vụ công phù hợp. Các quy trình thủ tục cần được đơn giản hóa, cá nhân hóa và cung cấp qua phương thức đa kênh, bảo đảm tính minh bạch, giảm thiểu tối đa sự can thiệp thủ công và quy trình hành chính truyền thống. Trải nghiệm thực tế cùng mức độ hài lòng của người thụ hưởng dịch vụ cần được xem là một trong những thước đo quan trọng để đánh giá chất lượng phục vụ và hiệu quả thực thi công vụ.
Năm là, xây dựng bộ chỉ số đo lường văn hóa công vụ trên môi trường số nhằm đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức trong thực thi công vụ
Cần xây dựng và lượng hóa bộ chỉ số đánh giá văn hóa công vụ khoa học, minh bạch. Việc xây dựng một bộ chỉ số đo lường văn hóa công vụ trên môi trường số kết hợp với công nghệ phân tích dữ liệu hành vi sẽ cung cấp cho cơ quan quản lý cái nhìn khách quan, liên tục và toàn diện. Bộ chỉ số này có thể bao gồm các tiêu chí về tiến độ, chất lượng, mức độ tuân thủ các chuẩn mực đạo đức số, cũng như ghi nhận kịp thời các phản hồi theo thời gian thực từ phía người dân. Qua đó, kết quả đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức có căn cứ khách quan hơn, góp phần nâng cao chất lượng công tác đánh giá, xếp loại cán bộ, công chức và tinh thần trách nhiệm phục vụ trong kỷ nguyên số.
4. Kết luận
Trong tiến trình hiện đại hóa nền hành chính nhà nước, văn hóa công vụ không chỉ là hệ giá trị điều chỉnh hành vi của đội ngũ cán bộ, công chức, mà còn là nền tảng bảo đảm tính hiệu lực, hiệu quả và tính chính danh của hoạt động công vụ trong môi trường số. Xây dựng văn hóa công vụ trong nền công vụ số cần được tiếp cận như một quá trình tái cấu trúc tổng thể, trong đó các yếu tố thể chế, con người và công nghệ phải được phát triển đồng bộ, tương thích và hỗ trợ lẫn nhau. Đặc biệt, cần thúc đẩy sự chuyển đổi từ tư duy quản lý hành chính sang tư duy phục vụ, từ phương thức kiểm soát truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu và từ hành vi công vụ mang tính tuân thủ sang hành vi công vụ mang tính chủ động, sáng tạo và trách nhiệm. Việc hình thành và phát triển văn hóa công vụ số không chỉ là yêu cầu tất yếu của tiến trình chuyển đổi số, mà còn là điều kiện quan trọng để xây dựng một nền hành chính hiện đại, chuyên nghiệp, minh bạch và liêm chính, thực sự lấy người dân và doanh nghiệp làm trung tâm. Đây chính là nền tảng quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và nâng cao năng lực quản trị quốc gia trong kỷ nguyên số./.
———————————————————–
Ngày nhận bài: 30/7/2026; Ngày phản biện: 20/8/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email liên hệ: [email protected]
——————————————
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2026a). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 “về phát triển văn hóa Việt Nam”.
Bộ Chính trị (2026b). Chỉ thị số 07-CT/TW ngày 13/7/2026 “về đẩy mạnh học tập, thực hành tư tưởng, đạo đức, phương pháp, phong cách Hồ Chí Minh trong giai đoạn phát triển mới”.
Bộ Chính trị (2026c). Quyết định số 185-QĐ/TW ngày 02/6/2026 “về biên chế các ban, cơ quan, đơn vị sự nghiệp của Đảng ở Trung ương; cơ quan Mặt trận Tổ quốc, cơ quan tham mưu, giúp việc Đảng ủy Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể Trung ương, Đảng ủy các cơ quan Đảng Trung ương và các tỉnh, thành phố năm 2026”.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026). Quyết định số 423/QĐ-BVHTTDL ngày 05/3/2026 “ban hành Bộ Quy tắc ứng xử văn hóa trên môi trường số”.
Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam (2025). Năm 2025 thi hành kỷ luật hơn 330 tổ chức đảng và 9.600 đảng viên. https://dangcongsan.org.vn, ngày 26/12/2025
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2025). Luật Cán bộ, công chức
Thủ tướng Chính phủ (2018). Quyết định số 1847/QĐ-TTg ngày 27/12/2018 “về việc phê duyệt Đề án Văn hóa công vụ”.
(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 06/2026)
