TS. NGUYỄN VĂN ĐIỂN
Học viện Chính trị khu vực II
Tóm tắt: Mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên giai đoạn 2026 – 2030 đòi hỏi Việt Nam nâng cao năng suất và năng lực cạnh tranh quốc gia. Bài viết dựa trên kinh tế chính trị học Mác – Lênin, vận dụng mô hình kim cương Porter và tham chiếu IMD (Viện Phát triển Quản lý Quốc tế), WIPO (Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới) để phân tích: điều kiện các yếu tố sản xuất; điều kiện cầu; ngành liên quan, hỗ trợ; chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh doanh nghiệp, đồng thời xem xét vai trò của chính phủ và các yếu tố cơ hội. Kết quả cho thấy, Việt Nam có lợi thế về ổn định vĩ mô, thị trường, hội nhập và đầu ra đổi mới, nhưng còn điểm nghẽn về năng suất, nhân lực, công nghệ nội sinh, công nghiệp hỗ trợ, liên kết FDI và chất lượng thể chế. Hạn chế cốt lõi là sự bổ trợ chưa chặt chẽ giữa các cấu phần. Bài viết đề xuất hoàn thiện thể chế; nâng cấp nhân lực, công nghệ, hạ tầng; phát triển cụm ngành, cầu tinh thông và năng lực doanh nghiệp nhằm tạo nền tảng để tăng trưởng hai con số bền vững.
Từ khóa: lực lượng sản xuất; năng lực cạnh tranh quốc gia; tăng trưởng hai con số
ENHANCING NATIONAL COMPETITIVENESS TO ACHIEVE DOUBLE-DIGIT GROWTH IN THE 2026 – 2030 PERIOD
Abstract: Achieving average GDP growth of 10% or more per year during 2026-2030 requires Viet Nam to raise productivity and enhance national competitiveness. Drawing on Marxist-Leninist political economy, the article applies Porter’s Diamond Model, with reference to the International Institute for Management Development (IMD) and the World Intellectual Property Organization (WIPO), to analyze factor conditions; demand conditions; related and supporting industries; and firm strategy, structure, and rivalry, while also considering the role of government and chance factors. The findings show that Viet Nam has advantages in macroeconomic stability, market conditions, international integration, and innovation outputs, but continues to face bottlenecks in productivity, human resources, endogenous technological capacity, supporting industries, FDI linkages, and institutional quality. The core limitation lies in insufficient complementarity among these components. The article proposes improving the institutional framework; upgrading human resources, technology, and infrastructure; and developing industry clusters, sophisticated demand, and enterprise capabilities to lay the foundation for sustainable double-digit growth.
Keywords: productive forces; national competitiveness; double-digit growth
1. Đặt vấn đề
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác lập tầm nhìn phát triển dài hạn, gắn các mục tiêu của nhiệm kỳ 2026 – 2030 với khát vọng đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên mới. Trong tầm nhìn ấy, mục tiêu tăng trưởng GDP bình quân từ 10%/năm trở lên là điều kiện quan trọng để đất nước thoát khỏi bẫy thu nhập trung bình, là bệ phóng vật chất cho hai mục tiêu 100 năm: trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao vào năm 2030 và nước phát triển, thu nhập cao vào năm 2045. Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV “về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026 – 2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026a) chính là bước cụ thể hóa mục tiêu này thành kế hoạch trung hạn, đặt nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia vào vị trí nhiệm vụ then chốt.
Sau 40 năm đổi mới, cơ đồ và tiềm lực của đất nước đã ở một tầm vóc khác. Quy mô nền kinh tế năm 2025 lần đầu vượt mốc 500 tỉ USD, đạt khoảng 514 tỉ USD, đứng thứ 32 thế giới; GDP bình quân đầu người đạt 5.026 USD; tăng trưởng cả năm đạt 8,02% với quỹ đạo quý sau cao hơn quý trước, kết thúc năm 2025 bằng mức 8,46% của quý IV (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2026). Đặt cạnh bối cảnh nhiều tổ chức quốc tế từng hạ dự báo tăng trưởng của Việt Nam xuống quanh 6% vì ngại đứt gãy chuỗi cung ứng và rào cản thuế quan từ thị trường Mỹ, kết quả này phản ánh năng lực điều hành kinh tế vĩ mô và sức chống chịu của nền kinh tế (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2026).
Tuy nhiên, nền tảng vĩ mô chưa thật vững chắc; năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh tổng thể chưa cao; đóng góp của khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số còn hạn chế; chưa có cơ chế đủ mạnh để huy động nguồn lực tư nhân và đầu tư nước ngoài. Đây là những giới hạn mang tính cơ cấu. Khi vốn, đất đai và lao động giá rẻ đã “tới hạn”, một nền kinh tế muốn tăng trưởng hai con số một cách bền vững buộc phải đổi mới mô hình tăng trưởng, chuyển từ chiều rộng sang chiều sâu, từ khai thác tài nguyên và lao động giản đơn sang dựa vào năng suất, tri thức và năng lực sáng tạo, làm chủ công nghệ.
2. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
2.1. Khái niệm và tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia
Năng lực cạnh tranh quốc gia được hiểu là năng lực của một quốc gia kiến tạo các điều kiện thể chế, nguồn lực và thị trường để doanh nghiệp tạo ra năng suất, giá trị gia tăng và thu nhập cao hơn một cách bền vững; vì vậy, không thể đồng nhất năng lực cạnh tranh với quy mô GDP, kim ngạch xuất khẩu hoặc khả năng thu hút vốn. Năng suất và sức cạnh tranh phản ánh trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đồng thời chịu sự chi phối của mức độ phù hợp giữa lực lượng sản xuất với quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Điểm nghẽn về thể chế, phân bổ nguồn lực, chất lượng nhân lực hay năng lực công nghệ do đó phải được xem như những quan hệ cấu trúc, không phải các hạn chế rời rạc.
Bài viết tập trung vào sáu nhóm tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh quốc gia: (1) Điều kiện các yếu tố sản xuất, gồm nhân lực, vốn, hạ tầng, khoa học – công nghệ, dữ liệu và năng suất; (2) Điều kiện cầu, thể hiện ở quy mô, mức độ tinh thông và yêu cầu về chất lượng, số hóa, xanh hóa của thị trường trong nước; (3) Các ngành liên quan và hỗ trợ, gồm công nghiệp hỗ trợ, logistics, tài chính, nghiên cứu – phát triển và mạng lưới nhà cung ứng; (4) Chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp được quan sát qua năng lực quản trị, đổi mới, thương hiệu, liên kết chuỗi và cạnh tranh bình đẳng; (5) Vai trò của chính phủ trong kiến tạo thể chế, phân bổ nguồn lực và điều phối thực thi; (6) Các yếu tố cơ hội, như dịch chuyển chuỗi cung ứng, đột phá công nghệ, biến động địa chính trị và tiêu chuẩn xanh. Kết quả cuối cùng được xem xét thông qua năng suất, chất lượng tăng trưởng, giá trị gia tăng nội địa, năng lực đổi mới và mức sống của người dân.
2.2. Mô hình kim cương Porter và khung phân tích
Mô hình kim cương của Porter giải thích lợi thế cạnh tranh quốc gia bằng sự tương tác của bốn nhóm nhân tố nội sinh: (1) Điều kiện các yếu tố sản xuất; (2) Điều kiện cầu; (3) Các ngành liên quan và hỗ trợ; (4) Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của doanh nghiệp (Porter, 1990). Chính phủ và các yếu tố cơ hội không thay thế bốn cấu phần này, nhưng có thể làm tăng hoặc giảm tác động của từng cấu phần và của toàn hệ thống. Giá trị của mô hình nằm ở chỗ không xem lợi thế cạnh tranh là một nguồn lực tĩnh, mà là kết quả của áp lực nâng cấp, liên kết, cạnh tranh và đổi mới diễn ra đồng thời.
Trong bài viết, mô hình kim cương được sử dụng như công cụ phân tích cơ chế kinh tế cụ thể và đặt dưới phương pháp luận mác-xít. Điều kiện các yếu tố sản xuất phản ánh trình độ của lực lượng sản xuất; chiến lược, cơ cấu doanh nghiệp và mạng lưới ngành phản ánh cách thức tổ chức, phân công và liên kết sản xuất; điều kiện cầu tạo sức ép xã hội – thị trường đối với chất lượng sản phẩm; còn vai trò của Chính phủ thể hiện tác động của thể chế và quản trị nhà nước đối với việc phân bổ nguồn lực, tạo môi trường cạnh tranh và phát triển lực lượng sản xuất. Cách kết hợp này cho phép xác định rõ điểm nghẽn nằm ở cấu phần nào, quan hệ giữa các cấu phần và chính sách cần tạo ra kết quả đo lường nào.
2.3. Phương pháp nghiên cứu và nguồn dữ liệu
Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích tài liệu đối với Văn kiện Đại hội lần thứ XIV, Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”, các nghị quyết chiến lược của Bộ Chính trị và Trung ương; thống kê mô tả các chỉ tiêu kinh tế, lao động và đổi mới sáng tạo; so sánh với một số nền kinh tế ASEAN; đồng thời mã hóa các bằng chứng theo các cấu phần của mô hình kim cương. Nguồn số liệu chủ yếu gồm Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026), IMD (2026), cập nhật đến tháng 6/2026. Các bảng xếp hạng quốc tế được sử dụng như tham chiếu chẩn đoán, không được xem là thước đo duy nhất; kết luận được rút ra trên cơ sở đối chiếu giữa số liệu, chính sách và logic của mô hình. Do giới hạn của dữ liệu thứ cấp, bài viết không lượng hóa quan hệ nhân quả của từng cấu phần và tốc độ tăng trưởng.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Thực trạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam
3.1.1. Kết quả chung theo các tiêu chí năng lực cạnh tranh quốc gia
Xét theo nhóm tiêu chí hiệu quả kinh tế và ổn định vĩ mô, Việt Nam có nền tảng thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh. Lạm phát cả năm 2025 được giữ ở mức 3,31%, nằm dưới trần 4,5% mà Quốc hội đề ra, dù chịu sức ép chi phí đẩy từ dịch vụ y tế, nhà ở và điện sinh hoạt (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2026). Các cân đối lớn được bảo đảm, nợ công và bội chi trong giới hạn an toàn. Ổn định vĩ mô không chỉ là kết quả điều hành, mà còn là điều kiện làm giảm rủi ro, chi phí vốn và bất định cho các quyết định đầu tư dài hạn.
Xét theo quy mô thị trường, năng lực sản xuất và mức độ hội nhập, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa năm 2025 đạt 930,05 tỉ USD, tăng 18,2% so với năm trước; cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 20,03 tỉ USD. Giá trị tăng thêm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 9,97%, mức cao nhất trong giai đoạn 2019 – 2025, tiếp tục là động lực tăng trưởng kinh tế (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2026). Mạng lưới hiệp định thương mại tự do và vị trí trong chuỗi sản xuất khu vực tạo điều kiện để doanh nghiệp tiếp cận thị trường, công nghệ và tiêu chuẩn quốc tế. Tuy nhiên, giá trị của các điều kiện này phụ thuộc vào khả năng hình thành nhà cung ứng trong nước và chuyển hóa hội nhập thành năng suất.
Trên góc độ năng lực cạnh tranh đổi mới sáng tạo, Việt Nam giữ được vị thế vượt trội so với trình độ phát triển. Báo cáo GII 2025 của WIPO xếp Việt Nam hạng 44/139 nền kinh tế với 37,1 điểm, đứng thứ ba ASEAN sau Singapore (hạng 5) và Malaysia (hạng 34), trên Thái Lan (hạng 45); đặc biệt, lần đầu tiên nước ta vươn lên dẫn đầu thế giới về tỉ trọng xuất khẩu hàng hóa sáng tạo, bên cạnh hai chỉ số vốn đã đứng đầu là xuất khẩu và nhập khẩu công nghệ cao (WIPO, 2025). Cùng với việc chuyển mạnh tư duy quản lý nhà nước từ “quản lý” sang “phục vụ phát triển”, từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm”, những con số này cho thấy dư địa để biến đầu vào thành giá trị thực là rất khả quan.
3.1.2. Phân tích các cấu phần của mô hình kim cương Porter
Theo IMD (2026), Niên giám Năng lực cạnh tranh thế giới 2026 lần đầu đưa Việt Nam vào đánh giá và xếp hạng 27/70 nền kinh tế, ngay sau Thái Lan. Kết quả này ghi nhận sức mạnh về hiệu quả kinh tế và khả năng thích ứng, nhưng không đồng nghĩa mọi nền tảng cạnh tranh đã vững chắc. IMD đo lường theo bốn nhóm lớn gồm hiệu quả kinh tế, hiệu quả Chính phủ, hiệu quả doanh nghiệp và hạ tầng; khi đối chiếu với mô hình kim cương, có thể thấy, năng lực cạnh tranh của Việt Nam phát triển chưa cân đối giữa quy mô, đầu ra với chất lượng đầu vào, liên kết ngành và hiệu lực thể chế.Thứ nhất, về điều kiện các yếu tố sản xuất và liên kết ngành, kết quả tích cực về xuất khẩu chưa che lấp hạn chế về chất lượng. Phần lớn kim ngạch thuộc khu vực FDI và nhiều ngành vẫn ở công đoạn gia công, lắp ráp. Khảo sát năm 2024 của JETRO đối với các doanh nghiệp Nhật Bản tại Việt Nam cho thấy tỉ lệ thu mua tại chỗ đạt 36,6%, nhưng tỉ lệ thu mua từ doanh nghiệp địa phương chỉ đạt 15,7% (JETRO, 2025). Vì vậy, giá trị gia tăng giữ lại trong nước chưa tương xứng với quy mô thương mại. Hệ quả tập trung nhất là khoảng cách năng suất. Năng suất lao động năm 2025 đạt khoảng 245 triệu đồng/lao động, tương đương 9.809 USD, tăng 6,83% (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2026). Chất lượng nguồn nhân lực là điểm nghẽn trực tiếp: tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ bình quân cả năm 2025 mới đạt 29,2%, dù quý IV đạt 29,5%, cho thấy xu hướng cải thiện nhưng nền tảng vẫn mỏng (Cục Thống kê, Bộ Tài chính, 2026).
Thứ hai, về điều kiện cầu và các ngành liên quan, hỗ trợ, quy mô thị trường nội địa và tốc độ số hóa tạo dư địa lớn cho doanh nghiệp mở rộng sản xuất. Tuy nhiên, sức ép từ cầu trong nước đối với chất lượng, hàm lượng công nghệ, truy xuất nguồn gốc và tiêu chuẩn xanh chưa đồng đều; mua sắm công, hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật chưa phát huy đầy đủ vai trò dẫn dắt thị trường. Đồng thời, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ nghiên cứu – phát triển, logistics và kết nối hạ tầng liên vùng còn yếu. Chi phí logistics ở mức cao làm giảm lợi thế giá, còn mạng lưới nhà cung ứng nội địa chưa đủ sâu để doanh nghiệp hấp thụ công nghệ và tham gia các công đoạn có giá trị gia tăng cao.
Thứ ba, về chiến lược, cơ cấu và mức độ cạnh tranh của doanh nghiệp, khu vực kinh tế tư nhân năng động nhưng phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ, năng lực quản trị, nghiên cứu – phát triển, thương hiệu và tiếp cận nguồn lực còn hạn chế; liên kết giữa doanh nghiệp FDI với doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ.
Thứ tư, Chính phủ là yếu tố có ảnh hưởng quan trọng đến bốn cấu phần của mô hình kim cương thông qua chất lượng thể chế, chính sách và năng lực thực thi. GII 2025 xếp Việt Nam hạng 95 về chất lượng quy định và hạng 67 về pháp quyền (WIPO, 2025), cho thấy khoảng cách giữa chủ trương cải cách với chất lượng thực thi. Lãng phí, chậm giải ngân, phối hợp chính sách thiếu đồng bộ và tâm lý né tránh trách nhiệm làm tăng chi phí giao dịch. Bên cạnh đó, các yếu tố cơ hội, như dịch chuyển chuỗi cung ứng, AI và bán dẫn đi cùng thách thức từ bảo hộ thương mại, CBAM, ESG, biến động địa chính trị, “già hóa” dân số và biến đổi khí hậu. Vì vậy, năng lực cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng chuyển hóa cơ hội thành năng lực nội sinh, chứ không chỉ dựa vào việc đón nhận dòng vốn hoặc đơn hàng mới.
3.1.3. Khái quát năng lực cạnh tranh quốc gia theo mô hình kim cương Porter
Các kết quả trên được hệ thống hóa theo các cấu phần của mô hình kim cương, trong đó, mỗi cấu phần gắn với các tiêu chí quan sát, lợi thế hiện có và nội dung cần ưu tiên nâng cao.
Bảng cho thấy điểm nghẽn trung tâm không nằm ở một yếu tố riêng lẻ, mà ở mức độ bổ trợ còn yếu giữa các cấu phần. Quy mô thị trường và hội nhập chưa tạo đủ áp lực nâng cấp doanh nghiệp; đầu ra đổi mới chưa tương xứng với chất lượng nhân lực, nghiên cứu và thể chế; FDI và xuất khẩu chưa lan tỏa mạnh sang công nghiệp hỗ trợ và giá trị gia tăng nội địa. Vì vậy, trọng tâm nâng cao năng lực cạnh tranh phải là nâng cao chất lượng các yếu tố đầu vào, tạo cầu tinh thông, phát triển cụm liên kết ngành, củng cố cạnh tranh bình đẳng và nâng hiệu lực Chính phủ.
Bảng: Năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam theo mô hình kim cương Porter
| Cấu phần và tiêu chí quan sát | Lợi thế/kết quả nổi bật | Điểm nghẽn và nội dung cần nâng cao |
| 1. Điều kiện các yếu tố sản xuất: Nhân lực; vốn; hạ tầng; công nghệ; dữ liệu; năng suất. | Kinh tế vĩ mô ổn định; nền sản xuất và hạ tầng số đang mở rộng; năng suất lao động tăng; đầu ra đổi mới sáng tạo khá. | Mức năng suất còn thấp so với ASEAN; lao động có bằng cấp, chứng chỉ mới đạt 29,2%; công nghệ lõi và R&D nội sinh yếu; chi phí logistics cao. |
| 2. Điều kiện tổng cầu: Quy mô; mức độ tinh thông; yêu cầu chất lượng, số hóa và xanh hóa. | Thị trường trong nước lớn; tiêu dùng số phát triển; hội nhập và thị trường xuất khẩu tạo áp lực đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế. | Cầu chất lượng cao, xanh và truy xuất chưa đồng đều; mua sắm công, tiêu chuẩn và bảo vệ người tiêu dùng chưa tạo đủ sức ép nâng cấp. |
| 3. Ngành liên quan và doanh nghiệp hỗ trợ: Công nghiệp hỗ trợ; logistics; tài chính; R&D; mạng lưới nhà cung ứng. | Đã hình thành các cụm sản xuất, xuất khẩu; FDI và mạng lưới FTA tạo cơ hội kết nối công nghệ, vốn và thị trường. | Tỉ lệ nội địa hóa và liên kết FDI – doanh nghiệp nội địa thấp; thiếu nhà cung ứng cấp cao, tổ chức trung gian đổi mới và hạ tầng logistics đồng bộ. |
| 4. Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh doanh nghiệp: Quản trị; đổi mới; thương hiệu; liên kết chuỗi; cạnh tranh bình đẳng. | Khu vực tư nhân năng động; mô hình kinh doanh số phát triển; một số chỉ số xuất khẩu công nghệ cao và hàng hóa sáng tạo đứng nhóm đầu. | Phần lớn doanh nghiệp nhỏ; R&D, quản trị và thương hiệu yếu; tiếp cận nguồn lực chưa bình đẳng; năng lực tham gia công đoạn giá trị cao hạn chế. |
| 5. Vai trò của chính phủ: Chất lượng thể chế; điều phối; phân bổ nguồn lực; thực thi. | Ổn định chính trị; định hướng chiến lược rõ; chuyển dần từ tiền kiểm sang hậu kiểm và từ quản lý sang phục vụ phát triển. | Chất lượng quy định, pháp quyền và phối hợp thực thi hạn chế; thủ tục, lãng phí, chậm giải ngân và né tránh trách nhiệm làm tăng chi phí giao dịch. |
| 6. Yếu tố cơ hội: Công nghệ; chuỗi cung ứng; địa chính trị; khí hậu; tiêu chuẩn quốc tế. | Dịch chuyển chuỗi cung ứng; làn sóng AI, bán dẫn và tài chính xanh mở ra cơ hội thu hút nguồn lực và nâng cấp cơ cấu. | Bảo hộ thương mại, CBAM/ESG, rủi ro đứt gãy, già hóa dân số và biến đổi khí hậu có thể làm suy giảm lợi thế chi phí và thị trường. |
Nguồn: Tác giả tổng hợp từ Porter (1990), IMD (2026), WIPO (2025) và Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026).
3.2. Khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia
Các khuyến nghị được xây dựng trực tiếp từ kết quả phân tích mô hình kim cương: khắc phục điểm nghẽn về yếu tố sản xuất, cầu tinh thông, ngành hỗ trợ, năng lực doanh nghiệp và hiệu lực Chính phủ; đồng thời chủ động khai thác các yếu tố cơ hội. Ba nhóm giải pháp này quan hệ bổ trợ cho nhau và được triển khai bằng mục tiêu, chủ thể chịu trách nhiệm và kết quả cụ thể.
3.2.1. Hoàn thiện thể chế phát triển, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị của Chính phủ và chất lượng môi trường cạnh tranh
Tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với lĩnh vực kinh tế là điều kiện quan trọng để giải phóng nguồn lực, nâng cao năng suất và sức cạnh tranh. Hệ thống pháp luật cần được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định, khả thi, dứt khoát chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm gắn với bộ tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật tương thích thông lệ quốc tế, đưa môi trường đầu tư vào nhóm dẫn đầu ASEAN, đúng tinh thần của Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị “về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” coi thể chế là “đột phá của đột phá” (Bộ Chính trị, 2025a). Việc thể chế hóa cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm vì lợi ích chung phải đi liền với kiểm soát quyền lực và siết kỷ luật, theo tinh thần Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV “về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng”, gắn với yêu cầu kiểm soát quyền lực, phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2026b). Vì vậy, việc bảo vệ người dám đổi mới và xử lý nghiêm cán bộ né tránh, đùn đẩy, thiếu trách nhiệm, trì trệ là hai mặt không thể tách rời; chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực và kiểm soát quyền lực phải được thực hiện đồng bộ, qua đó củng cố kỷ luật, kỷ cương, nâng cao hiệu lực thực thi và tạo môi trường thuận lợi để mở đường cho sản xuất.
3.2.2. Nâng tầm các yếu tố sản xuất bằng khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao
Khoa học, công nghệ, dữ liệu, hạ tầng và con người sáng tạo là động lực của năng suất. Mô hình tăng trưởng cần dịch chuyển mạnh từ dựa nhiều vào vốn, tài nguyên và lao động sang dựa chủ yếu vào năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và tri thức. Cơ chế thử nghiệm có kiểm soát cho AI, tài sản số và công nghệ tài chính phải đi kèm chuẩn dữ liệu, bảo vệ quyền tài sản trí tuệ, an toàn thông tin và cơ chế đánh giá sau thử nghiệm. Đầu tư công cần ưu tiên hạ tầng giao thông – logistics, năng lượng, viễn thông và trung tâm dữ liệu có khả năng lan tỏa, thay vì phân tán nguồn lực.
Về nhân lực, cần tổ chức lại quan hệ giữa đào tạo và nhu cầu sử dụng thông qua cơ chế Nhà nước đặt hàng, doanh nghiệp tham gia xây dựng chuẩn đầu ra và các cơ sở giáo dục chịu trách nhiệm về kết quả việc làm. Trọng tâm là STEM, kỹ năng số, quản trị, ngoại ngữ, kỹ thuật bán dẫn, dữ liệu và AI; đồng thời mở rộng đào tạo lại cho lao động đang làm việc. Chính sách phải được theo dõi bằng các chỉ số, như tỉ lệ lao động có bằng cấp, chứng chỉ; năng suất theo ngành; tỉ lệ doanh nghiệp đầu tư R&D; số bằng sáng chế được thương mại hóa; mức độ sử dụng dữ liệu và công nghệ số trong doanh nghiệp.
3.2.3. Phát triển các cụm ngành công nghiệp hỗ trợ bảo đảm tinh thông và năng lực doanh nghiệp nội địa phù hợp
Không gian phát triển mới được mở ra từ sự hợp lực của ba cột trụ: khu vực tư nhân dân tộc, hội nhập quốc tế và hạ tầng. Chính sách thu hút FDI phải chuyển trọng tâm từ ưu đãi thuế diện rộng sang ưu đãi dựa trên kết quả đầu ra và cam kết chuyển giao công nghệ, thiết kế cơ chế ưu đãi dựa trên kết quả để khuyến khích các tập đoàn đa quốc gia đặt trung tâm nghiên cứu – phát triển tại Việt Nam, hình thành liên kết để doanh nghiệp nội địa tiến sâu vào chuỗi giá trị. Đồng thời, phải tạo môi trường minh bạch, an toàn pháp lý để hình thành các tập đoàn tư nhân lớn đủ sức dẫn dắt đổi mới sáng tạo, đúng định hướng Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị “phát triển kinh tế tư nhân” xem kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất và phấn đấu đến năm 2030, khu vực này đóng góp khoảng 50% GDP (Bộ Chính trị, 2025b).
Để biến hội nhập và dịch chuyển chuỗi cung ứng thành năng lực nội sinh, chính sách cần phát triển các cụm ngành gắn doanh nghiệp lớn, doanh nghiệp nhỏ và vừa, trường đại học, viện nghiên cứu, tài chính, logistics và chính quyền địa phương. Ưu đãi FDI phải dựa trên kết quả về tỉ lệ mua hàng trong nước, đào tạo nhân lực, R&D, chuyển giao công nghệ và phát triển nhà cung ứng; hỗ trợ doanh nghiệp nội địa gắn với chuẩn quản trị, chất lượng, số hóa và khả năng tham gia chuỗi. Đồng thời, Nhà nước cần sử dụng tiêu chuẩn, nhãn xanh, truy xuất nguồn gốc và mua sắm công đổi mới sáng tạo để tạo cầu tinh thông. Hiệu quả chính sách phải được đánh giá bằng năng suất cao, tỉ lệ giá trị gia tăng nội địa, số nhà cung ứng đạt chuẩn, chi phí logistics, tỉ lệ doanh nghiệp đổi mới, giá trị thương hiệu và cường độ phát thải, thay vì chỉ bằng số dự án hoặc quy mô vốn đăng ký.
4. Kết luận
Nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia, xét đến cùng, là quá trình giải phóng và phát triển lực lượng sản xuất thông qua việc hoàn thiện quan hệ sản xuất và kiến trúc thượng tầng. Phân tích theo mô hình kim cương cho thấy, Việt Nam đã có những lợi thế quan trọng về ổn định, quy mô thị trường, hội nhập, sản xuất và đầu ra đổi mới; song lợi thế chưa chuyển hóa đầy đủ thành năng suất và giá trị gia tăng nội địa vì chất lượng nhân lực, công nghệ nội sinh, công nghiệp hỗ trợ, năng lực doanh nghiệp và hiệu lực thể chế còn hạn chế.
Do đó, mục tiêu tăng trưởng hai con số chỉ bền vững khi các cấu phần của năng lực cạnh tranh được nâng cấp đồng bộ, thể chế minh bạch làm giảm chi phí; nhân lực, hạ tầng và công nghệ nâng năng suất; cầu tinh thông tạo sức ép đổi mới; cụm ngành và cạnh tranh bình đẳng thúc đẩy doanh nghiệp lớn lên; hội nhập và chuyển đổi xanh mở rộng thị trường. Thước đo cuối cùng không chỉ là thứ hạng hay tốc độ GDP, mà là năng suất, năng lực tự chủ công nghệ, chất lượng tăng trưởng và đời sống của Nhân dân ngày càng ấm no, hạnh phúc./.
—————————————–
Ngày nhận bài: 30/6/2026; Ngày phản biện: 02/7/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email liên hệ: [email protected]
———————————-
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026a). Kết luận số 18-KL/TW ngày 02/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, tài chính quốc gia và vay, trả nợ công, đầu tư công trung hạn 5 năm 2026-2030 gắn với thực hiện mục tiêu phấn đấu tăng trưởng “2 con số”.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026b). Nghị quyết số 05-NQ/TW ngày 07/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về đổi mới, nâng cao hiệu lực công tác kiểm tra, giám sát và kỷ luật đảng.
Bộ Chính trị (2025a). Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2025b). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Cục Thống kê, Bộ Tài chính (2026). Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội quý IV và năm 2025. https://www.nso.gov.vn/bai-top/2026/01/bao-cao-tinh-hinh-kinh-te-xa-hoi-quy-iv-va-nam-2025, ngày 05/01/2026.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
IMD (2026). World competitiveness ranking 2026 and methodology. IMD World Competitiveness Center.
JETRO (07/3/2025). Ý định mở rộng kinh doanh ở mức cao và yêu cầu ứng phó với chuyển dịch sản xuất (Việt Nam). https://www.jetro.go.jp/biz/areareports/2025/335eb595e82b8c31.html
Porter, M. E. (1990). The competitive advantage of nations. Free Press.
WIPO (2025). Global innovation index 2025: Innovation at a crossroads. World Intellectual Property Organization.
(Tạp chí Khoa học Chính trị số 06/2026)
