CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

CHÍNH QUYỀN CẤP XÃ VÙNG ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP

TS. NGUYỄN THỊ THANH NHÀN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Chính quyền cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số giữ vị trí quan trọng trong hệ thống chính quyền cơ sở ở Việt Nam, là cấp trực tiếp tổ chức thực hiện chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước tại những địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội và văn hóa đặc thù. Trong bối cảnh sắp xếp đơn vị hành chính và tổ chức chính quyền địa phương theo mô hình hai cấp, hoạt động của chính quyền cấp xã có những chuyển biến tích cực về tổ chức bộ máy, phương thức quản lý và chất lượng phục vụ Nhân dân. Tuy nhiên, hiệu năng vận hành, hiệu lực quản lý và hiệu quả cung ứng dịch vụ công ở một số nơi còn hạn chế. Trên cơ sở khái quát đặc điểm và thực trạng, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu năng, hiệu lực và hiệu quả hoạt động của chính quyền cấp xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số trong bối cảnh mới.
Từ khóa: chính quyền cấp xã; chính quyền địa phương hai cấp; vùng đồng bào dân tộc thiểu số

COMMUNE-LEVEL GOVERNMENT IN ETHNIC MINORITY AREAS UNDER THE TWO-TIER LOCAL GOVERNMENT MODEL
Abstract: Commune-level governments in ethnic minority areas occupy an important position within Vietnam’s local governance system, serving as the level directly responsible for implementing the Party’s guidelines and the State’s laws in localities characterized by distinctive socio-economic and cultural conditions. In the context of the reorganization of administrative units and the restructuring of local government under a two-tier model, the operation of commune-level governments has shown positive changes in organizational structure, modes of governance, and the quality of public service delivery. However, in many localities, limitations remain in operational performance, governing effectiveness, and the efficiency of public service provision. Based on an overview of their characteristics and current situation, this article proposes several solutions to enhance the performance, effectiveness, and efficiency of commune-level governments in ethnic minority areas under the new context.
Keywords: commune-level government; two-tier local government; ethnic minority areas

1. Đặt vấn đề
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, kinh tế nhà nước được xác định là lực lượng nòng cốt, giữ vai trò chủ đạo và là công cụ quan trọng để Nhà nước thực hiện các mục tiêu phát triển, ổn định vĩ mô, bảo đảm quốc phòng, an ninh, cũng như cung ứng các hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011). Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập sâu rộng và yêu cầu nâng cao chất lượng tăng trưởng, nội hàm vai trò chủ đạo không nên hiểu một chiều theo quy mô sở hữu hoặc mức độ hiện diện vật chất. Nếu đồng nhất vai trò chủ đạo với độc quyền hoặc đặc quyền, nguy cơ phát sinh méo mó thị trường, kỷ luật tài khóa lỏng lẻo và suy giảm động lực đổi mới là hiện hữu. Do đó, định vị lại vai trò chủ đạo theo hướng đo lường bằng năng lực thực thi, chất lượng quản trị và hiệu quả sử dụng nguồn lực là yêu cầu cấp thiết.
Nghị quyết số 79-NQ/TW tạo bước chuyển quan trọng: kinh tế nhà nước phải tiên phong kiến tạo phát triển, lấy khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính; đồng thời, tách bạch nguồn lực nhà nước dùng cho hàng hóa, dịch vụ công, nhiệm vụ chính trị với hoạt động kinh doanh theo nguyên tắc thị trường. Đây là cơ sở quan trọng để làm rõ tiêu chí đánh giá vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong giai đoạn 2026 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 (Bộ Chính trị, 2026). Bài viết tập trung vào ba vấn đề: (1) Vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước nên được hiểu theo những thành tố năng lực nào trong quản lý nhà nước hiện đại; (2) Thực trạng nguồn lực và hiệu suất khu vực doanh nghiệp nhà nước hiện nay gợi ra những điểm nghẽn nào cần tháo gỡ; (3) Nhóm giải pháp ưu tiên nào cần được triển khai nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 79-NQ/TW trong quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
2. Kết quả và thảo luận
2.1. Nhận thức đầy đủ nội hàm vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước theo Nghị quyết số 79-NQ/TW
Thứ nhất, cần đặt vai trò chủ đạo trong tổng thể nền tảng của kinh tế nhà nước. Nghị quyết số 79-NQ/TW xác định nền tảng kinh tế nhà nước bao gồm các nguồn lực do Nhà nước nắm giữ, quản lý, như đất đai, tài nguyên, kết cấu hạ tầng, ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia, các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, tổ chức tín dụng nhà nước và vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Do đó, vai trò chủ đạo không thể thu hẹp thành quy mô doanh nghiệp nhà nước, mà cần được đánh giá theo hiệu quả quản trị và sử dụng toàn bộ nguồn lực nhà nước trong tương tác với thị trường (Bộ Chính trị, 2026).
Thứ hai, vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần được thực hiện trên nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và cạnh tranh lành mạnh. Nghị quyết số 79-NQ/TW nhấn mạnh, các khu vực kinh tế cần được tiếp cận “công bằng, công khai, minh bạch” các nguồn lực và cơ hội phát triển; đồng thời yêu cầu hạch toán đầy đủ, đánh giá tác động và phân tích lợi ích, chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực nhà nước theo thông lệ quốc tế. Đây là nền tảng để chuyển dịch trọng tâm chiến lược từ quy mô sở hữu đơn thuần sang năng suất sử dụng vốn và những giá trị công cộng thực chất mà khu vực nhà nước đóng góp cho nền kinh tế.
Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, vai trò chủ đạo và tính bình đẳng có quan hệ biện chứng với nhau. Vai trò chủ đạo được thể hiện ở năng lực kiến tạo luật chơi, bảo đảm các cân đối lớn và cung ứng hàng hóa, dịch vụ công; còn bình đẳng là điều kiện để kỷ luật thị trường vận hành, ngăn ngừa đặc quyền, độc quyền làm méo mó phân bổ nguồn lực. Vì vậy, khu vực doanh nghiệp nhà nước chỉ có thể phát huy vai trò chủ đạo một cách bền vững khi tuân thủ nguyên tắc cạnh tranh trung lập, công khai cơ chế hỗ trợ của Nhà nước nếu có và chịu trách nhiệm giải trình về hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công; qua đó chuyển vai trò “chủ đạo” từ lợi thế thể chế sang năng lực thực thi có thể đo lường được (Bộ Chính trị, 2026).
Thứ ba, năng lực chủ đạo cần được biểu hiện thông qua các nhóm chức năng thực thi chủ yếu. Đó là: (i) ổn định vĩ mô và bảo đảm các cân đối lớn; (ii) kiến tạo thể chế, giảm chi phí giao dịch và bảo đảm thực thi pháp luật; (iii) cung ứng hàng hóa, dịch vụ công, xử lý thất bại thị trường và bảo đảm an sinh; (iv) dẫn dắt phát triển thông qua đầu tư vào ngành, lĩnh vực chiến lược, rủi ro cao và có khả năng lan tỏa công nghệ. Cách tiếp cận này nhất quán với định hướng của Đảng và cơ sở lý luận về vai trò của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế nhiều thành phần (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2021).
Thứ tư, về quản trị, vai trò chủ đạo phải đi kèm minh bạch và trách nhiệm giải trình. Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) khuyến nghị chuyên nghiệp hóa chức năng chủ sở hữu nhà nước, tăng cường vai trò của hội đồng quản trị/hội đồng thành viên, công bố thông tin đầy đủ và bảo đảm cạnh tranh trung lập. Thông lệ này có ý nghĩa đặc biệt đối với Việt Nam khi Nghị quyết số 79-NQ/TW yêu cầu áp dụng mô hình quản trị hiện đại theo chuẩn mực quốc tế (OECD, 2024).
Từ góc độ tổ chức chức năng đại diện chủ sở hữu, Việt Nam đã có những bước đi theo hướng tách bạch và chuyên nghiệp hóa thông qua Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước (SCIC) và Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp. So sánh quốc tế cho thấy, Temasek của Singapore vận hành như một công ty đầu tư theo nguyên tắc thương mại, công bố báo cáo thường niên và quản trị theo mô hình hội đồng quản trị chuyên nghiệp; trong khi đó, SASAC của Trung Quốc là cơ quan thuộc Quốc vụ viện, thực hiện quyền chủ sở hữu đối với doanh nghiệp nhà nước trung ương, gắn giám sát vốn với đánh giá hiệu quả và phê duyệt các tái cơ cấu lớn. Đặt trong bối cảnh Việt Nam, bài học chung là cần thống nhất đầu mối chủ sở hữu, giảm can thiệp hành chính vào điều hành doanh nghiệp, lượng hóa mục tiêu bảo toàn, phát triển vốn và trách nhiệm giải trình, tăng minh bạch công bố thông tin để thị trường giám sát; qua đó hiện thực hóa yêu cầu quản trị theo chuẩn mực quốc tế nêu trong Nghị quyết số 79-NQ/TW (Thủ tướng Chính phủ, 2005; Chính phủ, 2018; Temasek Holdings, 2025; SASAC, 2026).
2.2. Thực trạng nguồn lực và những vấn đề đặt ra đối với hệ thống doanh nghiệp nhà nước – bộ phận quan trọng của kinh tế nhà nước
Để đánh giá một cách khách quan, cần nhìn vào các chỉ số kinh tế cụ thể của khu vực doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn nhà nước – bộ phận quan trọng trực tiếp nắm giữ, quản lý và vận hành nguồn lực kinh tế nhà nước tại doanh nghiệp.
Một là, quy mô tài sản và hiệu quả sử dụng vốn của khối doanh nghiệp nhà nước
Theo số liệu tổng hợp từ các bộ, ngành và địa phương được công bố tại Diễn đàn “Doanh nghiệp nhà nước nâng cao năng lực cạnh tranh và vai trò dẫn dắt” ngày 20/11/2025, cả nước hiện có 866 doanh nghiệp có vốn nhà nước do 49 bộ, ngành, địa phương thực hiện vai trò đại diện chủ sở hữu phần vốn nhà nước tại doanh nghiệp. Tính đến cuối năm 2024, các doanh nghiệp có vốn nhà nước, không tính 4 ngân hàng thương mại nhà nước, đang quản lý tổng tài sản 4.336.285 tỉ đồng, vốn chủ sở hữu 1.948.977 tỉ đồng, tổng doanh thu 2.930.753 tỉ đồng và lợi nhuận trước thuế 256.243 tỉ đồng (Vũ Khuê, 2025). Trong 6 tháng đầu năm 2025, các doanh nghiệp do Bộ Tài chính làm đại diện chủ sở hữu đạt doanh thu hợp nhất trên 1,077 triệu tỉ đồng, lợi nhuận trước thuế hơn 82,115 nghìn tỉ đồng và nộp ngân sách trên 102,783 nghìn tỉ đồng (An Diệp, 2025).
Các dữ liệu cập nhật cho thấy, chỉ số vòng quay tổng tài sản năm 2024 của khu vực doanh nghiệp có vốn nhà nước ước đạt khoảng 0,68 lần/năm. Thông số này phản ánh đặc thù thâm dụng vốn trong các lĩnh vực chiến lược như hạ tầng, năng lượng và tài nguyên, đồng thời cho thấy áp lực lớn đối với khả năng luân chuyển vốn của khu vực nhà nước. Trong bối cảnh nguồn lực ngân sách có hạn, chỉ số này gợi mở yêu cầu cấp thiết phải chuyển dịch chiến lược từ phát triển theo chiều rộng sang tối ưu hóa chất lượng tài sản.
Để nâng cao hiệu suất vận hành, trọng tâm quản trị cần tập trung vào việc định hình lại danh mục đầu tư theo thứ tự ưu tiên chiến lược, thắt chặt kỷ luật về tiến độ và dự toán chi phí, kiên quyết thực hiện tái cơ cấu hoặc thoái vốn tại các mảng tài sản kém hiệu quả. Việc tinh gọn bảng cân đối kế toán và tập trung vào các dự án có giá trị gia tăng cao sẽ là điều kiện quan trọng để cải thiện năng suất vốn tổng thể của doanh nghiệp nhà nước mà không làm gia tăng gánh nặng lên nợ công. Tuy nhiên, một rủi ro lớn cần được cảnh báo là tình trạng ỷ lại vào nguồn lực nhà nước, khi doanh nghiệp hoạt động với tâm lý luôn có Nhà nước hỗ trợ hoặc ngầm bảo lãnh nợ. tâm lý này có thể làm suy yếu ý thức tiết kiệm và kỷ luật tài chính, dẫn đến các căn bệnh kinh niên như đầu tư dàn trải, dự án kéo dài và đội vốn.
Hai là, vai trò chiến lược của doanh nghiệp nhà nước trong các lĩnh vực thiết yếu của nền kinh tế
Trong các lĩnh vực huyết mạch, doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò quan trọng đối với ổn định vĩ mô và an ninh kinh tế. Chẳng hạn, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) năm 2024 duy trì cung ứng điện, sản lượng điện sản xuất và nhập khẩu toàn hệ thống đạt 308,73 tỉ kWh, tỉ lệ tổn thất điện năng ước đạt 6,05% (Toàn Thắng, 2025). Đối với dầu khí, Petrovietnam trong 9 tháng đầu năm 2024 đạt tổng doanh thu 736,5 nghìn tỉ đồng và nộp ngân sách nhà nước 115,2 nghìn tỉ đồng, đồng thời tiết giảm chi phí 2.117 tỉ đồng (Phương Thảo & Hiền Anh, 2024).
Bên cạnh đó, khu vực kinh tế nhà nước còn tham gia điều tiết một số thị trường có độ biến động cao, qua đó giảm nguy cơ đứt gãy chuỗi cung ứng và lan truyền cú sốc giá cả.
Đối với thị trường năng lượng, thông qua hệ thống dự trữ, phân phối và các doanh nghiệp đầu mối, khu vực nhà nước góp phần hạn chế đứt gãy chuỗi cung ứng trong giai đoạn biến động giá. Khung pháp lý hiện hành yêu cầu thương nhân đầu mối bảo đảm mức dự trữ xăng dầu bắt buộc tối thiểu 20 ngày cung ứng và cho phép sử dụng nguồn dự trữ bắt buộc để bảo đảm cân đối cung – cầu, bình ổn thị trường khi cần thiết (Chính phủ, 2021).
Đối với lĩnh vực tài chính – ngân hàng, các ngân hàng thương mại nhà nước giữ vai trò dẫn dắt tín dụng đối với lĩnh vực ưu tiên, góp phần ổn định thị trường vốn và hỗ trợ triển khai các chương trình tín dụng chính sách trong khuôn khổ an toàn hệ thống. Đồng thời, hệ thống ngân hàng tham gia thực hiện gói tín dụng 120.000 tỉ đồng cho nhà ở xã hội, nhà ở công nhân và cải tạo, xây dựng lại chung cư cũ theo Nghị quyết số 33/NQ-CP ngày 11/3/2023 của Chính phủ về một số giải pháp tháo gỡ và thúc đẩy thị trường bất động sản phát triển an toàn, lành mạnh, bền vững (Hoàng Thu Trang, 2023).
Như vậy, vai trò chủ đạo cần được nhìn nhận như năng lực bảo đảm cung ứng, ứng phó với cú sốc và điều tiết các cân đối lớn. Tuy nhiên, chính các lĩnh vực thâm dụng vốn và độc quyền tự nhiên lại dễ phát sinh rủi ro thất thoát, lãng phí nếu thiếu kỷ luật đầu tư, cơ chế định giá/đặt hàng dịch vụ công và chuẩn mực minh bạch. Vì vậy, củng cố vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước phải song hành với nâng cấp quản trị và kiểm soát quyền lực trong quản lý vốn nhà nước.
Ba là, một số điểm nghẽn chính sách – quản trị cần ưu tiên tháo gỡ
Thứ nhất, kỷ luật đầu tư chưa nghiêm, dự án chậm tiến độ và đội vốn làm giảm năng suất vốn, đồng thời tạo rủi ro tài khóa gián tiếp. Căn nguyên thường nằm ở chất lượng chuẩn bị dự án, cơ chế ra quyết định nhiều tầng nấc và thiếu cơ chế “cắt lỗ” khi giả định ban đầu thay đổi. Thực tiễn xử lý các dự án, doanh nghiệp chậm tiến độ, kém hiệu quả, điển hình là nhóm 12 dự án yếu kém ngành Công Thương do lịch sử để lại, cho thấy chi phí của đầu tư dàn trải không chỉ là thất thoát vốn, mà còn là chi phí cơ hội và gánh nặng quản trị kéo dài (Hoài Thu, 2025).
Thứ hai, quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro chậm đổi mới; công bố thông tin và kiểm soát nội bộ ở nhiều doanh nghiệp chưa theo kịp chuẩn mực hiện đại. Khoảng trống này làm giảm tốc độ ra quyết định, hạn chế khả năng huy động vốn dài hạn và làm suy yếu cơ chế giám sát của xã hội – thị trường đối với hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
Thứ ba, vẫn còn tình trạng chồng chéo giữa mục tiêu công ích và mục tiêu kinh doanh. Khi nghĩa vụ dịch vụ công không được lượng hóa và bù đắp minh bạch, dễ phát sinh bù chéo chi phí, làm sai lệch tín hiệu hiệu quả và tạo tranh luận về trung lập cạnh tranh. Trong lĩnh vực năng lượng, cơ chế điều tiết giá và bình ổn nếu không được chuẩn hóa tiêu chí và công khai đầy đủ sẽ làm mờ ranh giới giữa chính sách và kinh doanh. Nghị quyết số 79-NQ/TW đã yêu cầu tách bạch việc sử dụng nguồn lực nhà nước cho dịch vụ công, nhiệm vụ chính trị với hoạt động kinh doanh (Bộ Chính trị, 2026).
Thứ tư, rủi ro tuân thủ và tâm lý e ngại trách nhiệm còn là điểm nghẽn đáng chú ý. Khi quyền quyết định không tương xứng với rủi ro pháp lý, hành vi hợp lý của nhà quản lý là né rủi ro, kéo dài thủ tục và ưu tiên an toàn quy trình; từ đó cản trở chu trình đầu tư và đổi mới. Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp năm 2025, là bước cập nhật quan trọng, nhưng hiệu quả phụ thuộc lớn vào hướng dẫn thi hành, đặc biệt là phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu và thiết kế hậu kiểm dựa trên rủi ro, có cơ chế bảo vệ người dám làm đúng quy định (Quốc hội, 2025).
Thứ năm, tiến độ cơ cấu lại, cổ phần hóa và thoái vốn còn chậm, đặc biệt ở khâu phê duyệt đề án và xác định giá trị vốn nhà nước tại doanh nghiệp, trong đó có giá trị quyền sử dụng đất. Theo Thông báo số 17/TB-VPCP, số lượng doanh nghiệp nhà nước được phê duyệt đề án cơ cấu lại giai đoạn 2021 – 2024 mới đạt khoảng 17% về số lượng và vẫn còn 559 doanh nghiệp chưa được phê duyệt. Điều này cho thấy “nút thắt thủ tục – định giá – phối hợp liên ngành” vẫn là rào cản lớn trong tái cơ cấu khu vực kinh tế nhà nước (Văn phòng Chính phủ, 2025).
2.3. Giải pháp, kiến nghị nhằm hiện thực hóa Nghị quyết số 79-NQ/TW
Dựa trên việc nhận diện các rào cản hiện hữu, giai đoạn 2026 – 2030 cần triển khai đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm, cụ thể:
Thứ nhất, áp dụng quản trị danh mục vốn ở tầm đại diện chủ sở hữu, kết hợp siết chặt kỷ luật đầu tư nội bộ tại các doanh nghiệp nhà nước. Quá trình này đòi hỏi việc phân loại dự án dựa trên các tiêu chí về mức độ thiết yếu, lợi ích công cộng và khả năng sinh lời thực tế. Đồng thời, cần thiết lập các chốt kiểm soát bắt buộc xuyên suốt từ giai đoạn chuẩn bị đến khi vận hành, đi kèm cơ chế dừng hoặc điều chỉnh dự án khi các giả định về thị trường, công nghệ và tổng mức đầu tư có biến động vượt ngưỡng cho phép. Giải pháp này trực tiếp xử lý các điểm nghẽn về chậm tiến độ, đội vốn và khó khăn trong việc chấm dứt các dự án thua lỗ. Hiệu quả của giải pháp được bảo đảm thông qua tăng cường thẩm định độc lập và xác định rõ nghĩa vụ của người đại diện vốn cũng như hội đồng quản trị/hội đồng thành viên.
Thứ hai, chuẩn hóa quản trị doanh nghiệp, kiểm soát nội bộ và công bố thông tin theo chuẩn mực OECD, coi minh bạch là điều kiện để vận hành kỷ luật thị trường và thị trường vốn. Trọng tâm là tách rõ vai trò của hội đồng quản trị/hội đồng thành viên với ban điều hành; nâng cao chất lượng thành viên độc lập; nâng cấp kiểm toán nội bộ và quản trị rủi ro; chuẩn hóa bộ chỉ tiêu KPI/KRI vừa phản ánh hiệu quả sử dụng vốn, vừa phản ánh mức độ tuân thủ, kiểm soát rủi ro và trách nhiệm xã hội. Cách tiếp cận này nhằm tháo gỡ điểm nghẽn về quản trị doanh nghiệp, kiểm soát nội bộ và công bố thông tin.
Thứ ba, tách bạch nhiệm vụ công ích với hoạt động kinh doanh bằng cơ chế hợp đồng hóa nghĩa vụ dịch vụ công ích. Cần thực hiện đặt hàng/đấu thầu cung ứng dịch vụ, xác định rõ tiêu chuẩn chất lượng, đơn giá – định mức và cơ chế bù đắp minh bạch từ ngân sách hoặc quỹ hợp pháp, đồng thời hạn chế bù chéo chi phí trong nội bộ doanh nghiệp. Giải pháp này xử lý trực tiếp điểm nghẽn chồng chéo giữa mục tiêu công ích và mục tiêu kinh doanh, đặc biệt ở các thị trường nhạy cảm với biến động giá, như năng lượng và tài chính – ngân hàng. Trong năng lượng, cơ chế dự trữ và điều tiết nguồn cung, bao gồm dự trữ bắt buộc của thương nhân đầu mối, cần được vận hành theo tiêu chí minh bạch, kịp thời để hạn chế đứt gãy chuỗi cung ứng khi giá thế giới biến động; đồng thời, các công cụ bình ổn phải công khai quy trình kích hoạt và kết quả thực hiện. Trong tài chính – ngân hàng, cần lượng hóa rõ phần “nhiệm vụ chính sách” và cơ chế bù đắp chi phí nếu có khi triển khai các chương trình tín dụng ưu tiên như gói tín dụng 120.000 tỉ đồng, nhằm bảo đảm trung lập cạnh tranh và an toàn hệ thống (Hoàng Thu Trang, 2023).
Thứ tư, giảm rủi ro tuân thủ và khôi phục động lực ra quyết định đúng, kịp thời trong khuôn khổ pháp luật. Trọng tâm là phân định rõ chức năng quản lý nhà nước với chức năng đại diện chủ sở hữu để giảm chồng chéo; thiết kế hậu kiểm dựa trên rủi ro; hoàn thiện cơ chế bảo vệ người dám làm đúng quy định; chuẩn hóa ủy quyền, phân quyền gắn với trách nhiệm cá nhân và cơ chế giải trình. Qua đó, có thể xử lý điểm nghẽn về tâm lý e ngại, sợ trách nhiệm và tạo dư địa cho doanh nghiệp nhà nước phản ứng nhanh hơn trước biến động thị trường.
Thứ năm, đẩy nhanh cơ cấu lại, cổ phần hóa và thoái vốn dựa trên nguyên tắc thống nhất về đầu mối quản lý, thời hạn hoàn thành và mục tiêu kết quả. Việc số hóa toàn diện dữ liệu tài sản và đất đai là điều kiện tiên quyết để giảm tranh chấp kéo dài – một rào cản lớn trong xác định giá trị vốn nhà nước và quyền sử dụng đất. Cụ thể, đối với doanh nghiệp thuộc danh mục cổ phần hóa/thoái vốn, cần hoàn thành số hóa hồ sơ nhà, đất, bao gồm bản đồ thửa đất, quyết định giao/thuê đất, hiện trạng sử dụng, nghĩa vụ tài chính, gắn mã định danh và đối soát với Hệ thống thông tin quốc gia về đất đai/Cơ sở dữ liệu đất đai quốc gia; đồng thời công khai danh mục nhà, đất đủ điều kiện tính vào giá trị doanh nghiệp ngay trong hồ sơ xác định giá trị. Yêu cầu này phù hợp với định hướng tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng và xử lý nhà, đất tại doanh nghiệp nhà nước nhằm tháo gỡ vướng mắc trong định giá, cổ phần hóa (Thủ tướng Chính phủ, 2024).
Nhìn chung, hệ thống giải pháp nêu trên cần tập trung vào việc khơi thông các điểm nghẽn thể chế nhằm định hình lại vai trò “lực lượng vật chất nòng cốt” của khu vực kinh tế nhà nước. Mục tiêu trọng tâm là bảo đảm năng lực điều tiết vĩ mô, dẫn dắt các ngành công nghiệp nền tảng và cung ứng hiệu quả các hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu. Cùng với đó, quá trình vận hành phải tuân thủ kỷ luật thị trường và nguyên tắc cạnh tranh bình đẳng nhằm loại bỏ tâm lý ỷ lại vào các cơ chế bảo lãnh ngầm, đồng thời ngăn chặn rủi ro trong quản trị vốn. Việc đồng bộ hóa các nhóm giải pháp này không chỉ giúp tối ưu hóa hiệu năng của các nguồn lực quốc gia, mà còn tạo tiền đề để kinh tế nhà nước thực hiện vai trò chủ đạo và thúc đẩy phát triển bền vững.
3. Kết luận
Theo tinh thần Nghị quyết số 79-NQ/TW, vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước đang có sự chuyển dịch quan trọng. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy vẫn còn khoảng cách đáng kể giữa nguồn lực nắm giữ và hiệu quả sử dụng nguồn lực. Các doanh nghiệp nhà nước đang nắm giữ khối tài sản quốc gia rất lớn, nhưng hiệu suất sử dụng vốn chưa tương xứng với tiềm năng. Những rào cản chính đang kìm hãm sự bứt phá này bao gồm kỷ luật đầu tư chưa nghiêm, mô hình quản trị chưa theo kịp chuẩn mực quốc tế, sự chồng chéo giữa mục tiêu chính trị, mục tiêu công ích và mục tiêu kinh doanh, cùng rủi ro phát sinh trong quá trình tuân thủ quy định pháp luật. Do đó, để chuyển hóa vai trò chủ đạo thành năng lực thực thi có thể đo lường và kiểm soát được, các ưu tiên chiến lược cần tập trung vào chuyên nghiệp hóa thể chế đại diện chủ sở hữu; chuẩn hóa quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế; tách bạch nhiệm vụ công ích và hoạt động kinh doanh thông qua cơ chế đặt hàng và bù đắp minh bạch; siết chặt kỷ luật đầu tư dựa trên nền tảng quản trị danh mục vốn; thúc đẩy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh gắn với nghĩa vụ hậu kiểm và giám sát thực thi. Khi các giải pháp cải cách được triển khai nhất quán, khu vực kinh tế nhà nước sẽ phát huy hiệu quả vai trò ổn định kinh tế vĩ mô, dẫn dắt các ngành, lĩnh vực chiến lược và đóng góp thực chất vào mục tiêu phát triển nhanh, bền vững đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045./.

————————————————–

Tài liệu tham khảo
An Diệp (2025, ngày 22/7). Các doanh nghiệp thuộc Bộ Tài chính đạt tổng doanh thu hợp nhất trên 1,077 triệu tỉ đồng trong 6 tháng đầu năm. https://cafef.vn.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước. Tư liệu văn kiện Đảng. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2021). Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Chính phủ (2018). Nghị định số 131/2018/NĐ-CP ngày 29/9/2018 quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Ủy ban Quản lý vốn nhà nước tại doanh nghiệp.
Chính phủ (2021). Nghị định số 95/2021/NĐ-CP ngày 01/11/2021 sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 03/9/2014 về kinh doanh xăng dầu.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011). https://tulieuvankien.dangcongsan.vn
Hoài Thu (2025, ngày 03/01). Đã báo cáo Bộ Chính trị phương án xử lý 12 dự án nghìn tỉ thua lỗ. Dân trí. https://dantri.com.vn.
Hoàng Thu Trang (2023, ngày 04/04). Gói tín dụng 120 nghìn tỉ đồng được giải ngân kéo dài đến 31/12/2030. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://media.chinhphu.vn.
OECD (2024). OECD guidelines on corporate governance of state-owned enterprises. OECD Publishing. https://doi.org/10.1787/18a24f43-en.
Phương Thảo & Hiền Anh (2024, ngày 16/10). Petrovietnam về đích chỉ tiêu doanh thu và nộp ngân sách cả năm 2024. CafeF. https://cafef.vn.
Quốc hội (2025). Luật Quản lý và đầu tư vốn nhà nước tại doanh nghiệp số 68/2025/QH15 ngày 14/6/2025.
State-owned Assets Supervision and Administration Commission of the State Council (2026). About/What we do. https://en.sasac.gov.cn.
Temasek Holdings (Private) Limited (2025). Temasek Review 2025 (Full version). https://www.temasekreview.com.sg/downloads/Temasek-Review-2025-full-version.pdf.
Thủ tướng Chính phủ (2005). Quyết định số 151/2005/QĐ-TTg ngày 20/6/2005 về việc thành lập Tổng công ty Đầu tư và Kinh doanh vốn nhà nước.
Thủ tướng Chính phủ (2024). Chỉ thị số 47/CT-TTg ngày 24/12/2024 về việc tăng cường quản lý, nâng cao hiệu quả sử dụng, xử lý nhà, đất tại doanh nghiệp nhà nước. https://vanban.chinhphu.vn.
Toàn Thắng (2025, ngày 06/01). EVN: Năm 2024 đã hoàn thành nhiệm vụ bảo đảm cung ứng điện. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn.
Văn phòng Chính phủ (2025). Thông báo số 17/TB-VPCP ngày 14/01/2025: Kết luận của Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc tại cuộc họp giao ban Ban Chỉ đạo Đổi mới và Phát triển doanh nghiệp về tình hình sắp xếp, cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước và phát triển doanh nghiệp giai đoạn 2021 – 2024; các nhiệm vụ, giải pháp năm 2025. https://chinhphu.vn.
Vũ Khuê (2025, ngày 20/11). Năng lực cạnh tranh và vai trò dẫn dắt của doanh nghiệp nhà nước trong kỷ nguyên số. https://vneconomy.vn.

Ngày nhận bài: 02/3/2026; ngày thẩm định: 05/3/2026; ngày duyệt đăng: 27/4/2026
Email liên hệ: [email protected]

(Tạp chí Khoa học chính trị số 03/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *