CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC: KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

CHUYỂN ĐỔI SỐ TRONG QUẢN TRỊ ĐẠI HỌC: KINH NGHIỆM TỪ MỘT SỐ TRƯỜNG ĐẠI HỌC TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH HIỆN NAY

ThS. NCS. LÊ THỊ HOÀI NGHĨA
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Bài viết nghiên cứu quá trình chuyển đổi số trong quản trị đại học tại Việt Nam, tập trung vào kinh nghiệm thực hiện của một số cơ sở giáo dục đại học tiêu biểu tại Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu cho thấy, chuyển đổi số trong quản trị đại học không chỉ đơn thuần là ứng dụng công nghệ mà là quá trình tái cấu trúc mô hình quản trị dựa trên dữ liệu, có ý nghĩa chiến lược quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả quản lý. Nhiều kết quả tích cực đã đạt được trong thực tiễn nhưng vẫn còn những thách thức liên quan đến năng lực số, bảo mật dữ liệu và văn hóa tổ chức. Do đó, bài viết đề xuất các khuyến nghị nhằm cải thiện chính sách và nâng cao hiệu quả quản trị đại học trong bối cảnh chuyển đổi số.
Từ khóa: chuyển đổi số; giáo dục đại học; quản trị đại học; Thành phố Hồ Chí Minh

DIGITAL TRANSFORMATION IN UNIVERSITY GOVERNANCE: EXPERIENCES FROM SELECTED UNIVERSITIES
IN HO CHI MINH CITY TODAY
Abstract: This article examines digital transformation in university governance in Vietnam, focusing on the implementation experiences of several representative higher education institutions in Ho Chi Minh City. The study shows that digital transformation in university governance is not merely the application of technology, but a process of restructuring governance models on the basis of data, one that carries important strategic significance for improving management effectiveness. Although notable progress has been achieved in practice, major challenges remain, particularly with regard to digital capacity, data security, and organizational culture. The article therefore proposes several recommendations to improve policy and enhance the effectiveness of university governance in the context of digital transformation.
Keywords: digital transformation; higher education; university governance; Ho Chi Minh City

1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số hiện nay là xu hướng tất yếu mang tính chiến lược, tác động sâu sắc đến mọi khía cạnh của đời sống kinh tế – xã hội, trong đó có lĩnh vực giáo dục đại học. Trước những yêu cầu phát triển mới của thời đại, chuyển đổi số trong quản trị đại học được xác định là giải pháp then chốt nhằm nâng cao hiệu quả quản lý, tối ưu hóa sự phân bổ nguồn lực và kiến tạo một nền tảng hiện đại, linh hoạt, minh bạch cho các hoạt động nghiên cứu, học thuật cũng như dịch vụ hỗ trợ sinh viên. Việc tích hợp công nghệ số vào hệ thống giáo dục đại học không chỉ dừng lại ở việc số hóa quy trình giảng dạy, mà còn hướng tới mục tiêu tái cấu trúc toàn diện mô hình quản trị, đáp ứng yêu cầu chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Tại Việt Nam, tiến trình chuyển đổi số trong hệ thống giáo dục đại học đã ghi nhận nhiều bước tiến thông qua đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đã xác định giáo dục là một trong các lĩnh vực ưu tiên hàng đầu, với trọng tâm là ứng dụng triệt để công nghệ số vào công tác quản lý và giảng dạy. Dữ liệu từ thực tiễn và nhiều nghiên cứu trong nước những năm gần đây đã chỉ ra sự quan tâm ngày càng tăng đối với việc ứng dụng công nghệ trong giáo dục đại học, thể hiện qua sự phát triển của hệ thống quản lý học tập, mô hình học trực tuyến và thư viện số.
Mặc dù đã có những nền tảng chính sách và thành tựu bước đầu, các nghiên cứu phần lớn vẫn chỉ tập trung vào khía cạnh công cụ đào tạo mà thiếu đi những phân tích chuyên sâu về mô hình quản trị đại học số, cũng như chưa có những đánh giá toàn diện về các rào cản, thách thức trong quá trình thực thi. Đặc biệt, tại một trung tâm giáo dục và đổi mới sáng tạo cốt lõi như Thành phố Hồ Chí Minh, thực tiễn chuyển đổi số trong hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục đại học rất cần được tổng kết để đánh giá chính xác. Xuất phát từ thực trạng đó, nghiên cứu này tập trung phân tích kinh nghiệm chuyển đổi số tại một số trường đại học tiêu biểu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh nhằm làm rõ mô hình và năng lực quản trị số, đồng thời đề xuất các khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị đại học trong tình hình mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng cách tiếp cận nghiên cứu định tính là chủ yếu, kết hợp với một số phương pháp nghiên cứu cụ thể nhằm bảo đảm tính khoa học và độ tin cậy của kết quả nghiên cứu. Trong đó, phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu được sử dụng để hệ thống hóa các quan điểm lý luận về chuyển đổi số trong quản trị đại học, cũng như các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam liên quan đến lĩnh vực này. Phương pháp nghiên cứu trường hợp (case study) được vận dụng nhằm phân tích sâu kinh nghiệm chuyển đổi số trong quản trị tại một số cơ sở giáo dục đại học tiêu biểu trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Ngoài ra, phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu giữa các mô hình triển khai, qua đó làm nổi bật những điểm tương đồng, khác biệt và các yếu tố tác động đến hiệu quả chuyển đổi số trong quản trị đại học. Phương pháp phân tích logic – lịch sử được sử dụng nhằm đặt quá trình chuyển đổi số trong quản trị đại học vào bối cảnh phát triển chung của giáo dục đại học Việt Nam và xu hướng toàn cầu, từ đó lý giải các vấn đề đặt ra một cách hệ thống, toàn diện và có tính liên kết.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước gắn với chuyển đổi số trong quản trị đại học
Chuyển đổi số là một quá trình thay đổi mang tính chiến lược và toàn diện, khác biệt với số hóa vốn chỉ dừng lại ở việc chuyển dữ liệu từ dạng vật lý sang kỹ thuật số và tin học hóa chủ yếu là ứng dụng công nghệ để tối ưu các quy trình sẵn có. Trong bối cảnh giáo dục đại học, chuyển đổi số được hiểu là việc tích hợp công nghệ số nhằm tái cấu trúc toàn diện quản trị, đào tạo và nghiên cứu, hướng tới mô hình “đại học thông minh” (European University Association, 2023).
Quản trị đại học “là sự kết hợp hoạt động của các bộ phận (cơ cấu bộ máy) và toàn bộ nguồn lực để quyết định, giám sát, tạo cơ sở thực hiện các chính sách, định hướng phát triển, nhằm hướng tới việc tạo ra những giá trị cốt lõi của cơ sở đại học” (Phạm Thị Giang Thu và Nguyễn Văn Cừ, 2020, tr.62). Điều này cho thấy bản chất của chuyển đổi số trong quản trị đại học là tái cấu trúc quy trình quản trị và văn hóa tổ chức, chứ không đơn thuần là đổi mới công nghệ.
Đảng và Nhà nước Việt Nam trong quá trình lãnh đạo, quản lý đã ban hành nhiều chính sách quan trọng, thiết lập khung pháp lý cho chuyển đổi số, đặc biệt là trong giáo dục đại học. Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị “về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” nêu rõ chủ trương: “Đổi mới cách dạy và học trên cơ sở áp dụng công nghệ số; lấy đánh giá của doanh nghiệp làm thước đo cho chất lượng đào tạo của các trường đại học trong lĩnh vực công nghệ thông tin. Khuyến khích các mô hình giáo dục, đào tạo mới dựa trên các nền tảng số” (Bộ Chính trị, 2019). Theo tinh thần của Nghị quyết, chuyển đổi số là động lực chính thúc đẩy sự phát triển nhanh chóng và bền vững của quốc gia trong bối cảnh Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng nêu rõ: “Đa dạng hóa các loại hình đào tạo, các cơ sở đào tạo; chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và đào tạo; bảo đảm điều kiện học tập suốt đời cho người dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.102).
“Chương trình Chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030” đã xác định giáo dục và đào tạo là một trong tám lĩnh vực được ưu tiên hàng đầu, trong đó nội dung chuyển đổi số trong giáo dục bao gồm “ứng dụng triệt để công nghệ số trong công tác quản lý, giảng dạy và học tập” (Thủ tướng Chính phủ, 2020). Tinh thần này được cụ thể hóa sâu hơn qua Đề án “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030”, trong đó đưa ra quan điểm chỉ đạo: “Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số tạo đột phá trong đổi mới hoạt động giáo dục và đào tạo” (Thủ tướng Chính phủ, 2022).
Ở cấp độ chiến lược dành riêng cho giáo dục đại học, Luật Giáo dục đại học năm 2025 và các quy định thực thi đã mở rộng quyền tự chủ của các cơ sở giáo dục đại học, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về hiện đại hóa, minh bạch và quản trị hiệu quả. Trong bối cảnh đó, chuyển đổi số đã trở thành điều kiện cần thiết để các cơ sở giáo dục đại học đạt được quyền tự chủ và trách nhiệm giải trình.
Bên cạnh đó, “quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050” đã đặt ra những mục tiêu rất lớn. Văn bản này định hướng phát triển “mạng lưới giáo dục đại học số” như một trụ cột quan trọng của toàn hệ thống. Mục tiêu đến năm 2030 là “100% cơ sở giáo dục đại học phải cung cấp chương trình đào tạo từ xa, trực tuyến, và giáo dục số phải chiếm 30% tổng quy mô đào tạo (tính theo số tín chỉ được công nhận)” (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Quy hoạch này không chỉ xem chuyển đổi số là công cụ mà còn là một phương thức phát triển cốt lõi nhằm tái cấu trúc mô hình hoạt động và nâng cao hiệu quả của giáo dục đại học.
Để hiện thực hóa các chủ trương trên, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành các hướng dẫn nhiệm vụ hằng năm, chuyển hóa các mục tiêu chiến lược thành những nhiệm vụ cụ thể. Kế hoạch nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2024 – 2025 của ngành giáo dục đã đề ra các nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, trong đó có nhiệm vụ: “Đẩy mạnh chuyển đổi số, cải cách hành chính trong toàn ngành với nhiều yêu cầu cụ thể như: khuyến khích phát triển và khai thác dữ liệu lớn, ứng dụng trí tuệ nhân tạo phù hợp trong giáo dục và đào tạo” (Bộ Giáo dục và Đào tạo, 2024, tr.7).
Nhìn chung, khung chính sách quốc gia đã tạo ra một hành lang pháp lý và định hướng chiến lược toàn diện, thúc đẩy quá trình chuyển đổi số trong quản trị đại học một cách mạnh mẽ. Tuy nhiên, khung chính sách hiện hành vẫn đang trong quá trình phát triển và hoàn thiện, đặc biệt là trong các lĩnh vực dữ liệu giáo dục, bằng cấp và chứng chỉ điện tử, khả năng tương tác hệ thống và an ninh thông tin. Điều này đòi hỏi các cơ sở giáo dục đại học không chỉ chủ động thúc đẩy chuyển đổi số, mà còn phải tham gia vào việc đánh giá chính sách và đưa ra các khuyến nghị dựa trên kinh nghiệm thực tiễn.
3.2. Một số mô hình tiêu biểu về chuyển đổi số trong quản trị đại học trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Sau sáp nhập, Thành phố Hồ Chí Minh trở thành một siêu đô thị với diện tích tự nhiên hơn 6.772 km² và dân số vượt 14 triệu người (Thảo Lê, 2026). Cùng với sự mở rộng địa giới, quy mô hệ thống giáo dục đại học trên địa bàn cũng gia tăng mạnh mẽ. Bên cạnh nền tảng hơn 50 cơ sở giáo dục đại học vốn có, Thành phố nay tiếp nhận thêm mạng lưới các trường đại học từ Bình Dương (như Trường Đại học Việt Đức, Trường Đại học Quốc tế miền Đông, Trường Đại học Thủ Dầu Một,…) và từ Bà Rịa – Vũng Tàu (như Trường Đại học Bà Rịa – Vũng Tàu, Trường Đại học Dầu khí Việt Nam,…), nâng tổng số cơ sở đào tạo lên hơn 60 trường đại học và học viện. Sự đa dạng về loại hình, chênh lệch về năng lực hạ tầng công nghệ và sự phân mảnh dữ liệu giữa các cơ sở giáo dục mới sáp nhập đã đặt ra những sức ép chưa từng có đối với công tác đồng bộ hóa hệ thống. Chính quy mô khổng lồ và đặc thù đan xen này đòi hỏi quản trị đại học phải đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi số toàn diện nhằm tối ưu hóa nguồn lực, liên thông nền tảng học thuật và duy trì chất lượng đào tạo trên toàn hệ thống. Bài viết này sẽ phân tích ba mô hình tiêu biểu về chuyển đổi số trong quản trị đại học trên địa bàn Thành phố.
Thứ nhất, mô hình cấu trúc quản trị hệ thống tập trung và liên thông dữ liệu tại Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh có 09 đơn vị thành viên đào tạo đại học. Đến hết năm 2025, quy mô đào tạo đại học chính quy là 100.451 sinh viên (Minh Giảng, 2026). Mang đặc trưng của một hệ thống đại học lớn và đa ngành, chủ trương cốt lõi của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh là kiến tạo một không gian số dùng chung, trong đó dữ liệu được liên thông và các quy trình được chuẩn hóa trên quy mô toàn hệ thống nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp từ các đơn vị thành viên. Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh cũng là một trong năm đơn vị trụ cột được Bộ Giáo dục và Đào tạo giao phó trọng trách tiên phong thí điểm mô hình giáo dục đại học số tại Việt Nam, bao gồm chủ trì xây dựng đề án đào tạo nhân lực số và phát triển nền tảng khóa học trực tuyến mở dùng chung VN-MOOC. Nền tảng của mô hình quản trị này là Văn phòng điện tử (Trung tâm Điều hành thông minh – IOC) đã được hoàn thiện và đưa vào vận hành trong năm 2024. Hệ thống này đóng vai trò như một bộ não trung tâm, cho phép cấp lãnh đạo giám sát các hoạt động một cách trực quan theo thời gian thực, đồng thời tích hợp chữ ký số và kết nối thành công vào trục liên thông văn bản quốc gia. Cùng với đó, quá trình xây dựng cơ sở dữ liệu dùng chung về người học, nhà khoa học và viên chức đang được đẩy nhanh tiến độ, thiết lập tiền đề cho việc quản trị dựa trên dữ liệu (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2024, tr.36-37). Việc ứng dụng các nền tảng số này không chỉ tối ưu hóa quy trình quản trị nội bộ mà còn nhận được sự phản hồi tích cực từ phía người học. Sự kết hợp giữa nền tảng công nghệ mạnh mẽ và năng lực tiếp nhận của người học đã giúp hệ thống này phát triển thành công 21 khóa học trực tuyến đại chúng mở năm 2024 và mở rộng lên 44 môn học năm 2025; năm 2026 đặt mục tiêu phát triển thêm 66 môn học mới, nâng tổng số lên 110 môn học MOOC (Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh, 2025, tr.46-47).
Thứ hai, mô hình chiến lược xây dựng Hệ sinh thái số tích hợp (Integrated Digital Ecosystem) tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh. Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh tiếp cận chuyển đổi số như một cuộc tái cấu trúc toàn diện để hiện thực hóa tầm nhìn chiến lược trở thành một “đại học đa ngành và bền vững”, gắn kết chặt chẽ với trách nhiệm cộng đồng. Chủ trương của nhà trường là sử dụng công nghệ số để phá vỡ các rào cản quản trị hành chính truyền thống, thiết lập một hệ sinh thái mà ở đó mọi hoạt động từ quản trị nội bộ, cung cấp dịch vụ đào tạo đến phục vụ xã hội đều được kết nối chặt chẽ. Điểm sáng nổi bật trong quản trị học liệu và không gian học thuật của trường là dự án Thư viện thông minh (UEH Smart Library). Đây là một không gian học tập ứng dụng triệt để các công nghệ lõi của Cách mạng công nghiệp lần thứ tư theo tinh thần “Make in Vietnam”, mang lại khả năng cá nhân hóa trải nghiệm khai thác tài nguyên số cho người dùng (University of Economics Ho Chi Minh City, 2021). Bên cạnh việc nâng cao hiệu quả quản trị nội bộ, giúp rút ngắn thời gian xử lý các quy trình hành chính thông qua dịch vụ hồ sơ điện tử có xác thực và hệ thống Quản lý, chăm sóc, hỗ trợ đối tác/người học CRM, mô hình chuyển đổi số của nhà trường còn mở rộng biên giới quản trị ra ngoài khuôn viên trường học thông qua sáng kiến “UEH Global Learning”. Sáng kiến này tập trung hỗ trợ nền tảng chuyển đổi số miễn phí cho các trường phổ thông ở những khu vực khó khăn, qua đó khẳng định trách nhiệm xã hội và vai trò dẫn dắt cộng đồng của một cơ sở giáo dục đại học tự chủ (University of Economics Ho Chi Minh City, 2021). Việc chuyển đổi số tại Đại học Kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh không chỉ tập trung vào công nghệ, mà còn chú trọng đến văn hóa số và năng lực số hóa cho giảng viên, sinh viên.
Thứ ba, mô hình đại diện cho việc quản trị chuyển đổi số gắn liền với đặc thù giáo dục mở và đào tạo từ xa, được triển khai tại Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh. Đối với Trường Đại học Mở Thành phố Hồ Chí Minh, chuyển đổi số không phải là một sự bổ sung mang tính công cụ, mà là một quá trình tiến hóa tự nhiên và bắt buộc để thực hiện sứ mệnh tối ưu hóa khả năng tiếp cận giáo dục cho mọi đối tượng. Chủ trương của nhà trường tập trung vào việc quản lý chất lượng các nền tảng học tập trực tuyến, bảo đảm tính linh hoạt tối đa nhưng vẫn giữ vững các tiêu chuẩn học thuật nghiêm ngặt. Trọng tâm của việc triển khai mô hình này là đưa vào vận hành hệ thống quản lý học tập (LMS) được thiết kế và kiểm định theo bộ tiêu chuẩn quốc tế Quality Matters của Hoa Kỳ. Đến năm 2025, 100% học phần của trường đã sử dụng LMS (Tường San, 2026). Hạ tầng số cũng được hoàn thiện với việc đăng ký học phần và dịch vụ sinh viên trực tuyến, góp phần hiện đại hóa công tác quản trị đại học. Kết quả cho thấy nền tảng số của trường hiện đang duy trì hoạt động ổn định cho hơn 4.500 sinh viên theo học hoàn toàn trực tuyến và mở rộng phạm vi đào tạo ra nhiều quốc gia trong khu vực (Lệ Mỹ, 2021). Sự thành công của mô hình quản trị này còn thể hiện qua việc đa dạng hóa các sản phẩm giáo dục, quản lý hiệu quả các khóa học ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu nâng cao kỹ năng nghề nghiệp của thị trường lao động.
Mặc dù các mô hình triển khai thực tiễn đã mang lại những kết quả khả quan bước đầu, sự chuyển dịch từ phương thức quản lý hành chính truyền thống sang quản trị dựa trên dữ liệu (data-driven governance) vẫn đang đối diện với những thách thức phức tạp.
Một là, thách thức từ việc tìm kiếm nhà lãnh đạo phù hợp, có tầm nhìn, mục tiêu và sự cam kết khi thực hiện chuyển đổi số. Trong môi trường giáo dục đại học cạnh tranh và liên tục thay đổi, nhà lãnh đạo thường xuyên phải đối mặt với những thách thức mới, đòi hỏi phải có những kỹ năng và khả năng mới (Bùi Quang Hùng và cộng sự, 2021).
Hai là, thách thức từ việc phải tạo ra sự thông suốt và liên thông giữa các hệ thống vận hành bên trong trường đại học. Do nhiều bất cập, hạn chế về năng lực thực hiện của nguồn nhân lực công nghệ, áp lực triển khai ngay hệ thống để giải quyết nhu cầu cấp bách trước mắt, cùng với ngân sách phát triển công nghệ eo hẹp, đa số các trường đại học đều phải đối mặt với thách thức tìm ra giải pháp hữu hiệu và hiệu quả để kết nối, tích hợp các hệ thống hiện tại vốn có thể có nhiều khác biệt về thông số kỹ thuật (Bùi Quang Hùng và cộng sự, 2021). Nghiên cứu phân loại rào cản chuyển đổi số của Gkrimpizi, Peristeras và Magnisalis cũng xác định sự thiếu hụt các nền tảng công nghệ tích hợp toàn diện và rủi ro về an toàn thông tin là rào cản mang tính phổ quát nhất tại các trường đại học (Gkrimpizi, T., Peristeras, V., & Magnisalis, I., 2023).
Ba là, thách thức từ đội ngũ nhân sự và sự sẵn sàng thay đổi. Cần có đội ngũ nhân sự có chuyên môn về chuyển đổi số. Bên cạnh đó, nhà quản lý, đội ngũ giảng viên, chuyên viên và người học cũng cần có những kỹ năng cần thiết trong tương lai để làm chủ công nghệ. Thay đổi tư duy của từng cá nhân nhằm hình thành văn hóa chuyển đổi số là một quá trình đòi hỏi nhiều thời gian. Phân tích thực chứng từ Pimentel Si nhấn mạnh tâm lý kháng cự sự thay đổi (resistance to change) và sự thiếu hụt kỹ năng số của giảng viên, chuyên viên hành chính là điểm nghẽn kìm hãm tiến trình số hóa trên phạm vi toàn cầu (Amando Jr., 2025). Các nghiên cứu định lượng về các yếu tố tác động đến chuyển đổi số trong giáo dục đại học Việt Nam cũng khẳng định sự sẵn sàng của đội ngũ nhân sự và năng lực số của người học có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả vận hành của các mô hình mới (Thi Hoai Le, Ba Quyet Chu, Binh Minh Nguyen, 2024).
Bốn là, thách thức từ chi phí đầu tư. Thực hiện chuyển đổi số trong quản trị đại học cần tìm ra lời giải tối ưu cho bài toán chi phí đầu tư công nghệ, thiết bị, máy móc và đào tạo kỹ năng số cho giảng viên, chuyên viên, người học. Đây là thách thức lớn của tất cả các trường đại học.
Năm là, thách thức từ việc bảo đảm an toàn thông tin. Các hệ thống quản trị đại học hiện nay lưu trữ một lượng lớn dữ liệu nhạy cảm liên quan đến thông tin cá nhân, kết quả học tập, tài chính và nghiên cứu. Khi quá trình số hóa và kết nối dữ liệu tăng lên, nguy cơ vi phạm hoặc bị tấn công dữ liệu cũng tăng theo. Nhiều cơ sở giáo dục đại học vẫn chưa xây dựng được chiến lược an ninh thông tin toàn diện và đầu tư vào cơ sở hạ tầng an ninh còn hạn chế. Điều này nhấn mạnh sự cần thiết cấp bách phải xem bảo mật dữ liệu là một phần không thể thiếu của quản trị đại học số.
3.3. Một số khuyến nghị
Để giải quyết triệt để những rào cản mang tính hệ thống đã được nhận diện, quá trình chuyển đổi số trong quản trị đại học cần một hệ thống giải pháp đồng bộ, bao trùm từ tư duy lãnh đạo, tối ưu hóa nguồn lực đến củng cố hạ tầng công nghệ. Giải pháp tiên quyết là phải thu hút và phát triển đội ngũ lãnh đạo có tầm nhìn chiến lược, năng lực thích ứng cao và sự cam kết mạnh mẽ đối với mục tiêu số hóa. Thực tiễn khẳng định vai trò định hướng của nhà quản lý là yếu tố then chốt để kiến tạo lộ trình chuyển đổi số minh bạch, giúp cơ sở giáo dục vượt qua những biến động liên tục của môi trường học thuật và duy trì lợi thế cạnh tranh. Đi kèm với tầm nhìn lãnh đạo, các trường đại học cần thiết lập một chiến lược quản trị sự thay đổi (change management) bài bản nhằm tái định hình văn hóa tổ chức. Việc tổ chức thường xuyên các chương trình đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số không chỉ dừng lại ở đội ngũ chuyên trách về công nghệ, mà phải mở rộng đến toàn thể cán bộ, giảng viên và người học. Định hướng này đóng vai trò quyết định trong việc xóa bỏ tâm lý kháng cự sự thay đổi, từng bước kiến tạo môi trường giáo dục mà ở đó sự sẵn sàng tiếp nhận và làm chủ công nghệ trở thành thói quen, chuẩn mực của mọi thành viên.
Bên cạnh yếu tố con người, bài toán tối ưu hóa chi phí đầu tư và đồng bộ hóa hệ thống cần được giải quyết thông qua chiến lược quy hoạch kiến trúc công nghệ tổng thể. Thay vì đầu tư dàn trải, chắp vá các phần mềm rời rạc dưới áp lực giải quyết nhu cầu cấp bách ngắn hạn, các trường đại học cần ưu tiên lựa chọn những nền tảng quản trị có chuẩn giao tiếp dữ liệu mở, khả năng tích hợp cao và dễ dàng mở rộng. Việc thiết kế một hệ sinh thái công nghệ thông suốt sẽ khắc phục triệt để tình trạng đứt gãy dữ liệu và giải quyết bài toán chênh lệch thông số kỹ thuật giữa các phòng ban. Để giảm tải áp lực tài chính từ việc mua sắm trang thiết bị, máy móc và phần mềm, các cơ sở giáo dục cần linh hoạt đẩy mạnh các giải pháp chia sẻ tài nguyên số, thuê dịch vụ hạ tầng đám mây thay vì tự vận hành máy chủ vật lý tốn kém, đồng thời tăng cường mô hình hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ nhằm tối ưu hóa chi phí vòng đời của hệ thống.
Hơn thế, việc thiết lập và thực thi nghiêm ngặt chiến lược an toàn thông tin toàn diện là điều kiện bắt buộc để bảo vệ thành quả của quá trình số hóa. Quản trị rủi ro an ninh mạng không thể chỉ được xem là một giải pháp kỹ thuật bổ trợ, mà phải được định vị như một trụ cột không thể tách rời của hệ thống quản trị đại học hiện đại. Các cơ sở giáo dục cần phân bổ ngân sách thích đáng cho việc thiết lập hạ tầng bảo mật, áp dụng các chuẩn mã hóa đối với dữ liệu nhạy cảm liên quan đến thông tin cá nhân, kết quả học tập, tài chính và tài sản trí tuệ trong nghiên cứu. Sự đồng bộ giữa hạ tầng bảo mật vững chắc, công nghệ tích hợp thông suốt và năng lực số của con người chính là nền tảng cốt lõi để các cơ sở giáo dục đại học phát huy tối đa hiệu quả quản trị trong bối cảnh mới.
4. Kết luận
Chuyển đổi số trong quản trị đại học là một quá trình mang tính chiến lược, không chỉ dừng lại ở việc ứng dụng công nghệ, mà còn hướng tới tái cấu trúc toàn diện mô hình quản trị dựa trên dữ liệu và đổi mới văn hóa tổ chức. Kết quả nghiên cứu cho thấy Việt Nam đã hình thành được khung chính sách tương đối đầy đủ nhằm thúc đẩy chuyển đổi số trong giáo dục đại học, tạo điều kiện cho các cơ sở đào tạo chủ động triển khai các mô hình quản trị hiện đại.
Phân tích thực tiễn tại một số trường đại học tiêu biểu ở Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy những bước tiến đáng kể trong xây dựng hệ thống quản trị số, từ mô hình quản trị tập trung, hệ sinh thái số tích hợp đến giáo dục mở và đào tạo trực tuyến. Tuy nhiên, các thách thức về năng lực lãnh đạo số, hạ tầng công nghệ, nguồn nhân lực và an toàn thông tin vẫn là những rào cản lớn đối với tiến trình này. Do đó, để bảo đảm hiệu quả và tính bền vững, chuyển đổi số trong quản trị đại học cần được tiếp cận như một chiến lược tổng thể, kết hợp giữa đổi mới thể chế, phát triển nguồn nhân lực và hoàn thiện hạ tầng công nghệ. Đây chính là nền tảng quan trọng để xây dựng mô hình đại học thông minh và nâng cao năng lực cạnh tranh của giáo dục đại học Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóaq

Ngày nhận bài: 02/3/2026; ngày thẩm định: 05/3/2026; ngày duyệt đăng: 27/4/2026
Email liên hệ: [email protected]

————————————————

Tài liệu tham khảo

Bộ Chính trị (2019, ngày 27/9). Nghị quyết số 52-NQ/TW “về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.
Bộ Giáo dục và Đào tạo (2024). Quyết định ban hành kế hoạch nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm năm học 2024 – 2025 của ngành Giáo dục.
Bùi Quang Hùng và cộng sự (2021). Hướng tới Đại học thông minh thông qua chuyển đổi số toàn diện: trường hợp Đại học Kinh tế TP.HCM. https://digital.lib.ueh.edu.vn/handle/UEH/62520.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2024). Báo cáo thường niên năm 2024.
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Báo cáo thường niên năm 2025.
Lệ Mỹ (2021, ngày 18/6). Những dấu ấn chuyển đổi số tại Trường ĐH Mở TP.HCM. https://giaoduc.edu.vn.
Minh Giảng (2026). 100.000 sinh viên Đại học Quốc gia TP.HCM đến từ đâu? Thống kê gây bất ngờ. https://tuoitre.vn.
Phạm Thị Giang Thu, Nguyễn Văn Cừ (2020). Nội dung cơ bản của quản trị đại học và đặc thù quản trị đại học luật. Tạp chí Luật học, số 5.
Thảo Lê (2026, ngày 10/01). TP.HCM công bố 12 dấu ấn nổi bật năm 2025. https://tuoitre.vn.
Thủ tướng Chính phủ (2020). Quyết định số 749/QĐ-TTg “Phê duyệt Chương trình chuyển đổi số quốc gia đến năm 2025, định hướng đến năm 2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 131/QĐ-TTg “Phê duyệt Đề án Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và chuyển đổi số trong giáo dục và đào tạo giai đoạn 2022 – 2025, định hướng đến năm 2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2025, ngày 27/02). Quyết định số 452/QĐ-TTg “Phê duyệt Quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đại học và sư phạm thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050”.
Tường San (2026, ngày 18/02). Trường ĐH Mở TPHCM tiếp tục khẳng định vai trò dẫn dắt về lĩnh vực giáo dục mở và công nghệ giáo dục. https://giaoduc.net.vn.
Amando Jr (2025). Singun Unveiling the barriers to digital transformation in higher education institutions: A systematic literature review. Discover Education, 4(1), Article 37. DOI:10.1007/s44217-025-00430-9.
European University Association (2023). DIGI-HE final report: Digital transformation in European higher education. Brussels, Belgium: European University Association. https://eua.eu/resources/publications/1046:digi-he-final-report.html.
Gkrimpizi, T., Peristeras, V., & Magnisalis, I (2023). Classification of barriers to digital transformation in higher education institutions: Systematic literature review. Education Sciences, 13(7), 746. https://doi.org/10.3390/educsci13070746.
Thi Hoai Le, Ba Quyet Chu, Binh Minh Nguyen (2024). Exploratory study on factors influencing digital transformation in higher education in Vietnam. American Journal of Education and Information Technology, 8(1). https://doi.org/10.11648/j.ajeit.20240801.14
University of Economics Ho Chi Minh City (2021). Sustainable Development Goals (SDG) progress report 2021.

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *