CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ TRỌNG DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

CHÍNH SÁCH THU HÚT VÀ TRỌNG DỤNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP

TS. VŨ THỊ NGHĨA
Trường Chính trị thành phố Đồng Nai

ThS. LƯƠNG THỊ HỒNG VÂN
Trường Chính trị thành phố Đồng Nai

Tóm tắt: Trong bối cảnh thành phố Đồng Nai được thành lập theo Nghị quyết số 30/2026/QH16 của Quốc hội, yêu cầu xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao trở thành vấn đề cấp thiết đối với quản trị đô thị, phát triển công nghiệp công nghệ cao, logistics, hàng không, giáo dục đại học, y tế và chuyển đổi số. Bài viết phân tích chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao của Đồng Nai từ năm 2011 đến nay, từ đó, đề xuất định hướng hoàn thiện và thực thi chính sách theo hướng tổng thể, khả thi, gắn với nhu cầu phát triển của thành phố.
Từ khóa: chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; thành phố Đồng Nai

POLICIES FOR ATTRACTING AND UTILIZING HIGH – QUALITY HUMAN RESOURCES IN DONG NAI CITY: CURRENT SITUATION AND SOLUTIONS
Abstract: In the context of the establishment of Dong Nai City under Resolution No. 30/2026/QH16 of the National Assembly, developing high-quality human resources has become an urgent requirement for urban governance, high-tech industrial development, logistics, aviation, higher education, healthcare, and digital transformation. This article analyzes Dong Nai’s policies on attracting and utilizing high-quality human resources from 2011 to the present, then proposes orientations for improving and implementing policies in a comprehensive and feasible manner, closely aligned with the city’s development needs.
Keywords: policy on attracting and utilizing high-quality human resources; Dong Nai City

1. Đặt vấn đề
Dưới góc độ khoa học chính trị và chính sách công, chất lượng nguồn nhân lực là một trong những điều kiện quan trọng bảo đảm năng lực lãnh đạo, quản lý và tổ chức thực thi chính sách của chính quyền địa phương. Các nghiên cứu về trí thức và quản trị nguồn nhân lực công đều nhấn mạnh vai trò của tri thức, năng lực sáng tạo và khả năng đóng góp trong thực tiễn đối với sự phát triển của quốc gia và địa phương (Phạm Tất Dong, 2010; OECD, 2021). Từ cách tiếp cận này, nguồn nhân lực chất lượng cao được hiểu là bộ phận nhân lực có trình độ chuyên môn, năng lực nghề nghiệp, kinh nghiệm thực tiễn, khả năng sáng tạo và phẩm chất chính trị đáp ứng yêu cầu thực hiện các nhiệm vụ quan trọng của địa phương.
Đối với khu vực công, nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ đáp ứng yêu cầu vận hành bộ máy, mà còn đóng vai trò quyết định đối với khả năng hoạch định chiến lược, điều phối nguồn lực, xử lý các vấn đề phát triển phức tạp và nâng cao chất lượng phục vụ nhân dân. Nhóm nhân lực này bao gồm cán bộ lãnh đạo, quản lý; công chức, viên chức có chuyên môn sâu; chuyên gia, nhà khoa học; giảng viên, bác sĩ, kỹ sư, chuyên viên phân tích chính sách và những người có năng lực nổi trội trong các lĩnh vực then chốt. Vì vậy, chính sách đối với nguồn nhân lực chất lượng cao phải bao gồm cả thu hút và trọng dụng. Thu hút là quá trình xác định đối tượng, tiêu chuẩn, điều kiện tiếp nhận và chế độ hỗ trợ để đưa người có năng lực vào phục vụ địa phương; trọng dụng là quá trình bố trí, sử dụng đúng chuyên môn, giao nhiệm vụ phù hợp, tạo điều kiện làm việc, đánh giá theo kết quả thực hiện nhiệm vụ, từ đó phát huy năng lực của người được thu hút.
Về định hướng phát triển, Quyết định số 586/QĐ-TTg ngày 03/7/2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch tỉnh Đồng Nai thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050” xác định mục tiêu phát triển Đồng Nai theo hướng hiện đại, văn minh, giữ vai trò quan trọng trong vùng Đông Nam Bộ (Thủ tướng Chính phủ, 2024). Tiếp đó, ngày 24/4/2026, Quốc hội ban hành Nghị quyết số 30/2026/QH16 “về việc thành lập thành phố Đồng Nai”, có hiệu lực từ ngày 30/4/2026. Những văn bản này tạo cơ sở quan trọng cho việc nhận diện yêu cầu phát triển mới của Đồng Nai, trong đó có yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ quản trị đô thị và phát triển kinh tế – xã hội.
Trong bối cảnh đó, yêu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao của Đồng Nai thể hiện rõ trên nhiều lĩnh vực: quản trị đô thị, quy hoạch phát triển, công nghiệp công nghệ cao, logistics, hàng không, chuyển đổi số, y tế chuyên sâu, giáo dục đại học, khoa học, công nghệ, pháp luật và tài chính công. Riêng trong lĩnh vực giáo dục đại học, Trường Đại học Đồng Nai còn thiếu 47 tiến sĩ trong 12 ngành đang tuyển sinh, ảnh hưởng đến điều kiện duy trì ngành, mở ngành và nâng cao năng lực nghiên cứu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội của địa phương (Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai, 2026). Đến tháng 3/2026, trong 6.984 cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có 2.063 người có trình độ thạc sĩ và tương đương, chiếm 29,6%; 145 người có trình độ tiến sĩ và tương đương, chiếm 2,1% (Ban Tổ chức Thành ủy Đồng Nai, 2026). Những số liệu này cho thấy, yêu cầu nâng cao chất lượng đội ngũ nhân lực trong khu vực công là vấn đề cấp thiết, có ý nghĩa trực tiếp đối với năng lực quản trị và phát triển của thành phố.
Từ năm 2011 đến nay, Đồng Nai đã ban hành một số chính sách liên quan đến đào tạo, phát triển, thu hút và hỗ trợ nguồn nhân lực. Tuy nhiên, các chính sách này chủ yếu được thiết kế theo từng giai đoạn, từng ngành hoặc từng cơ sở, chưa hình thành khung chính sách thống nhất về thu hút và trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao cho thành phố Đồng Nai trong điều kiện mới. Vấn đề đặt ra không chỉ là thu hút được bao nhiêu người có trình độ cao, mà quan trọng là họ được bố trí, sử dụng như thế nào, tạo ra kết quả gì và có gắn bó lâu dài với địa phương hay không?.
Bài viết tập trung làm rõ ba nội dung: (1) Khái quát các chính sách của Đồng Nai về thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao; (2) Đánh giá ưu điểm, hạn chế của chính sách này; (3) Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện chính sách trong giai đoạn tới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích văn bản chính sách, tổng hợp số liệu thứ cấp từ các nguồn chính thức và đối sánh chính sách ở mức cần thiết nhằm làm rõ tính hợp lý, tính khả thi và tính cạnh tranh của chính sách.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Đồng Nai
3.1.1. Khái quát chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Đồng Nai
Từ năm 2011 đến nay, Đồng Nai đã ban hành một số chính sách liên quan trực tiếp đến đào tạo, thu hút và hỗ trợ nguồn nhân lực.
Thứ nhất, chính sách đào tạo, phát triển nguồn nhân lực tại chỗ. Quyết định số 2361/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai phê duyệt “Chương trình tổng thể đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015” tập trung vào đào tạo lao động kỹ thuật, đào tạo sau đại học, đào tạo nguồn nhân lực cho hệ thống chính trị và đào tạo năng khiếu. Quyết định số 4698/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai ban hành “Chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020” tiếp tục đặt trọng tâm vào đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ phục vụ phát triển địa phương. Nhóm chính sách này chú trọng nâng cao trình độ nguồn nhân lực hiện có trong hệ thống chính trị và hệ thống cung ứng dịch vụ công của địa phương.
Thứ hai, chính sách thu hút, hỗ trợ viên chức, nhân viên ngành y tế. Nghị quyết số 43/2016/NQ-HĐND ngày 09/12/2016 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai quy định “chính sách thu hút, hỗ trợ viên chức, nhân viên ngành y tế tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2017 – 2020” (Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai, 2016). Chính sách này nhằm bổ sung nhân lực cho cơ sở y tế công lập thông qua hỗ trợ tài chính một lần, hỗ trợ trong quá trình công tác và yêu cầu cam kết phục vụ. Đây là cách tiếp cận phù hợp với đặc thù ngành y tế, nơi quá trình đào tạo nhân lực kéo dài, chi phí đào tạo lớn và nhu cầu xã hội đối với dịch vụ y tế công lập luôn ở mức cao.
Thứ ba, chính sách thu hút, hỗ trợ nguồn nhân lực chất lượng cao cho Trường Đại học Đồng Nai. Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND ngày 10/4/2026 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai quy định “chính sách thu hút, hỗ trợ nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc tại Trường Đại học Đồng Nai giai đoạn 2026 – 2030”, có hiệu lực từ ngày 21/4/2026 và áp dụng đến hết ngày 31/12/2030. Theo đó, đối tượng chính sách là người có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư về làm việc tại Trường Đại học Đồng Nai; đồng thời, hỗ trợ viên chức hiện đang làm việc tại Trường nếu đáp ứng điều kiện về trình độ, chuyên ngành và cam kết làm việc. Theo Nghị quyết, tổng nhu cầu thu hút, hỗ trợ gồm 155 tiến sĩ, 37 phó giáo sư và 37 giáo sư; mức hỗ trợ một lần là 300 triệu đồng đối với tiến sĩ, 350 triệu đồng đối với phó giáo sư và 400 triệu đồng đối với giáo sư; người hưởng chính sách phải cam kết làm việc từ đủ 06 năm liên tục trở lên (Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai, 2026).
3.1.2. Ưu điểm của chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao của thành phố Đồng Nai
Thứ nhất, các chính sách của Đồng Nai cho thấy, địa phương đã sớm quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực. Việc ban hành chương trình tổng thể đào tạo, phát triển nguồn nhân lực từ năm 2011 cho thấy địa phương đã nhận thức khá sớm rằng, phát triển nguồn nhân lực là điều kiện quan trọng để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nâng cao chất lượng hoạt động của hệ thống chính trị. Là một địa phương có sự phát triển mạnh về công nghiệp, việc chú trọng đào tạo lao động kỹ thuật, đào tạo sau đại học và đào tạo nhân lực cho hệ thống chính trị là hướng đi phù hợp.

Bảng: Chính sách của Đồng Nai về đào tạo, thu hút, hỗ trợ và sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao

Tiêu chí Chương trình đào tạo, phát triển nguồn nhân lực Nghị quyết số 43/2016/NQ-HĐND    Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND
Đối tượng chính Cán bộ, công chức, viên chức và nhân lực tại chỗ được cử đi đào tạo, bồi dưỡng Viên chức, nhân viên ngành y tế theo điều kiện chính sách  Tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư làm việc tại Trường Đại học Đồng Nai
Phạm vi  Toàn tỉnh, nhiều lĩnh vực Ngành y tế công lập  Một cơ sở giáo dục đại học công lập
Công cụ chính sách Hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, phát triển nguồn nhân lực Thu hút một lần, hỗ trợ trong quá trình công tác, cam kết phục vụ   Hỗ trợ tài chính một lần, cam kết làm việc
Mục tiêu chính Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực tại chỗ Bổ sung nhân lực cho y tế công lập  Bảo đảm đội ngũ trình độ cao phục vụ đào tạo, mở ngành và nghiên cứu
Tình trạng thực hiện Đã kết thúc Giai đoạn 2017 – 2020   Áp dụng giai đoạn 2026 – 2030

Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ các văn bản chính sách của Đồng Nai

Thứ hai, chính sách thu hút, hỗ trợ nhân lực ngành y tế cho thấy Đồng Nai đã nhận diện được nhu cầu nhân lực trong một lĩnh vực dịch vụ công thiết yếu. Y tế là lĩnh vực gắn trực tiếp với quyền được chăm sóc sức khỏe của nhân dân, vì vậy, đòi hỏi đội ngũ nhân lực phải có chuyên môn sâu, đạo đức nghề nghiệp và thời gian đào tạo dài. Việc xây dựng chính sách riêng cho ngành y tế thể hiện sự ưu tiên có cơ sở thực tiễn, góp phần bổ sung nhân lực cho các đơn vị y tế công lập trong giai đoạn 2017 – 2020.
Thứ ba, Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND đã nhận diện tình trạng thiếu đội ngũ có trình độ tiến sĩ, phó giáo sư, giáo sư. Vì vậy, chính sách thu hút và hỗ trợ nhân lực chất lượng cao cho Trường Đại học Đồng Nai không chỉ có ý nghĩa đối với một cơ sở đào tạo, mà còn gắn trực tiếp vào chiến lược phát triển nguồn nhân lực của thành phố. Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND đã quy định tương đối cụ thể về đối tượng, điều kiện, chuyên ngành, số lượng, mức hỗ trợ, hồ sơ, nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường. Việc xác định rõ nhu cầu theo trình độ và chuyên ngành đã giúp hạn chế tình trạng thu hút chung chung, thiếu gắn kết với nhu cầu sử dụng. Quy định về cam kết làm việc từ đủ 06 năm liên tục trở lên cũng góp phần bảo vệ nguồn lực ngân sách và nâng cao trách nhiệm của người được hưởng chính sách.
Thứ tư, vấn đề nhân lực trong các chính sách gần đây đã bước đầu được đặt trong mối liên hệ với nhiệm vụ phát triển cụ thể của địa phương. Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND gắn thu hút nhân lực trình độ cao với mục tiêu duy trì ngành, mở ngành, nâng cao năng lực đào tạo, nghiên cứu và phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
3.1.3. Điểm nghẽn trong chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Bên cạnh những ưu điểm, chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao của Đồng Nai vẫn bộc lộ một số điểm nghẽn:
Một là, chính sách chưa bao quát các ngành, lĩnh vực có nhu cầu sử dụng nguồn nhân lực chất lượng cao. Quyết định số 2361/QĐ-UBND tập trung vào đào tạo phát triển nguồn nhân lực giai đoạn 2011 – 2015; Nghị quyết số 43/2016/NQ-HĐND tập trung vào ngành y tế; Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND tập trung vào Trường Đại học Đồng Nai. Cách tiếp cận này có thể giải quyết một số nhu cầu cụ thể, nhưng vẫn mang tính cục bộ theo giai đoạn, ngành hoặc cơ sở sử dụng nhân lực. Trong khi đó, sau khi trở thành thành phố trực thuộc Trung ương, Đồng Nai cần nguồn nhân lực chất lượng cao trên các lĩnh vực, trong đó có quy hoạch đô thị, quản trị đô thị, logistics, hàng không, công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, khoa học, công nghệ, pháp luật, tài chính công và quản trị công. Chính sách chưa bao quát các ngành, lĩnh vực trọng yếu khiến địa phương khó chủ động trong chuẩn bị nguồn nhân lực cho các nhiệm vụ phát triển mới.
Hai là, chính sách còn thiên về đào tạo hoặc hỗ trợ tài chính ban đầu, chưa hình thành chế độ đãi ngộ đồng bộ. Hỗ trợ một lần có ý nghĩa tạo điều kiện ban đầu cho người được thu hút, nhưng đối với nhân lực chất lượng cao, quyết định gắn bó lâu dài còn phụ thuộc vào thu nhập ổn định, điều kiện làm việc, nguồn lực nghiên cứu, quyền chủ động chuyên môn, cơ hội phát triển nghề nghiệp và sự ghi nhận đóng góp. Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND đã quy định mức hỗ trợ cụ thể, nhưng các nội dung về thu nhập định kỳ, điều kiện nghiên cứu, cơ chế giao nhiệm vụ và đánh giá theo sản phẩm chưa được thể hiện đầy đủ trong chính sách. Khi so sánh với một số địa phương đã có cơ chế thu nhập hằng tháng đối với chuyên gia, nhà khoa học và người có tài năng đặc biệt, chính sách của Đồng Nai cần tiếp tục hoàn thiện để tăng sức hấp dẫn và tính bền vững.
Ba là, nội dung trọng dụng và thu hút chưa được thiết kế tương xứng với nhau. Trong các chính sách hiện hành, quy định về đối tượng, mức hỗ trợ và trách nhiệm bồi thường thường cụ thể hơn quy định về bố trí công việc, giao nhiệm vụ, trao quyền, đánh giá kết quả và phát triển nghề nghiệp. Đây là khoảng trống quan trọng của thiết kế chính sách. Người có trình độ cao chỉ có thể phát huy năng lực khi được giao đúng việc, bảo đảm điều kiện làm việc và được đánh giá bằng kết quả thực hiện nhiệm vụ. Nếu thiếu cơ chế trọng dụng thực chất, chính sách có thể làm tăng số lượng người có bằng cấp nhưng chưa tạo được chuyển biến tương xứng về chất lượng hoạt động của cơ quan, đơn vị.
Bốn là, cơ chế giữ chân chủ yếu dựa vào cam kết và bồi thường. Cam kết thời gian làm việc và nghĩa vụ bồi thường là cần thiết để bảo vệ ngân sách nhà nước, nhưng đây không phải cơ chế duy nhất, càng không phải cơ chế bền vững nhất. Đối với nhân lực chất lượng cao, sự gắn bó thường được quyết định bởi môi trường làm việc, triển vọng nghề nghiệp, mức độ tôn trọng chuyên môn và khả năng tạo ra giá trị trong công việc. Nếu người được thu hút không được sử dụng đúng năng lực hoặc thiếu điều kiện phát triển, họ có thể rời khỏi hệ thống sau khi hoàn thành cam kết hoặc không phát huy được hiệu quả như kỳ vọng.
Năm là, kết quả thu hút và trọng dụng chưa được công bố đầy đủ theo hệ thống chỉ số đánh giá chính sách. Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND mới có hiệu lực từ ngày 21/4/2026 nên chưa đủ cơ sở để đánh giá kết quả thực hiện. Việc đánh giá chính sách mới dừng ở phân tích thiết kế chính sách và một số kết quả ban đầu, chưa đủ dữ liệu để lượng hóa tác động thực tế của chính sách. Vấn đề cốt lõi của Đồng Nai không chỉ là tăng mức hỗ trợ, mà là hoàn thiện cấu trúc chính sách. Thu hút, trọng dụng và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao phải được nhìn nhận thống nhất, trong đó chính sách tài chính là một thành tố, còn quan trọng hơn phải xác định đúng nhu cầu sử dụng, tạo lập môi trường làm việc phù hợp, thiết lập cơ chế đánh giá và mở rộng cơ hội phát triển nghề nghiệp.
3.2. Định hướng hoàn thiện và thực thi chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao
Để nâng cao hiệu quả chính sách thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao tại thành phố Đồng Nai, cần hoàn thiện nội dung chính sách và nâng cao năng lực tổ chức thực thi với các giải pháp cụ thể sau:
Thứ nhất, hoàn thiện khung chính sách chung và xác định rõ nhu cầu sử dụng nhân lực theo ngành, lĩnh vực. Đồng Nai cần nghiên cứu xây dựng nghị quyết khung về thu hút, trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao giai đoạn 2026 – 2035, bảo đảm bao quát các lĩnh vực trọng yếu, như quản trị đô thị, quy hoạch, logistics, hàng không, công nghiệp công nghệ cao, chuyển đổi số, y tế chuyên sâu, giáo dục đại học, khoa học, công nghệ, tài chính công và pháp luật. Trên cơ sở đó, thành phố phải xác định danh mục nhu cầu sử dụng nhân lực theo vị trí việc làm, nhiệm vụ phát triển và sản phẩm đầu ra. Cách tiếp cận này giúp khắc phục tình trạng chính sách phân tán theo ngành và hạn chế việc thu hút theo bằng cấp hình thức, thiếu gắn kết với vị trí việc làm.
Thứ hai, đổi mới chính sách thu hút và chế độ đãi ngộ theo hướng đồng bộ, có khả năng cạnh tranh. Bên cạnh hỗ trợ ban đầu, cần quan tâm đến thu nhập phù hợp với nhiệm vụ, điều kiện làm việc, kinh phí nghiên cứu hoặc triển khai nhiệm vụ, hỗ trợ đào tạo nâng cao, hợp tác chuyên môn và khen thưởng theo kết quả đóng góp. Phương thức thu hút cũng cần linh hoạt hơn, không chỉ dựa vào tuyển dụng toàn thời gian, mà có thể thông qua hợp đồng chuyên gia theo nhiệm vụ, đặt hàng nghiên cứu – tư vấn, hợp tác với người Việt Nam ở nước ngoài, viện nghiên cứu, cơ sở giáo dục đại học và doanh nghiệp. Cách tiếp cận này giúp khu vực công tiếp cận nguồn lực chuyên môn sâu, phù hợp với những lĩnh vực đòi hỏi tri thức chuyên biệt và khả năng đổi mới sáng tạo.
Thứ ba, nâng cao hiệu quả trọng dụng và giữ chân nhân lực sau thu hút. Mỗi trường hợp được thu hút cần có kế hoạch sử dụng cụ thể, trong đó, cần xác định rõ vị trí việc làm, nhiệm vụ, quyền hạn, điều kiện bảo đảm, chỉ tiêu kết quả và phương thức đánh giá. Đối với nhân lực chất lượng cao, cần chuyển trọng tâm từ đánh giá theo quy trình hành chính sang đánh giá theo sản phẩm, sáng kiến, công trình, giải pháp, hiệu quả tư vấn, chuyển giao hoặc tác động thực tiễn. Bên cạnh cam kết thời gian làm việc và trách nhiệm bồi thường, thành phố cần chú trọng các yếu tố tạo sự gắn bó tích cực, như giao nhiệm vụ phù hợp, trao quyền chủ động chuyên môn, ghi nhận thành tích, tôn vinh đóng góp, tạo cơ hội phát triển nghề nghiệp và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung.
Thứ tư, tăng cường liên kết và thiết lập cơ chế theo dõi, đánh giá chính sách. Cần có sự liên kết giữa Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và cơ sở giáo dục đại học để tạo môi trường làm việc hấp dẫn chuyên gia, nhà khoa học và giảng viên trình độ cao. Cần xây dựng hệ thống chỉ số đánh giá chính sách, gồm: số lượng nhân lực được thu hút theo lĩnh vực, tỉ lệ bố trí đúng chuyên môn, mức độ hoàn thành nhiệm vụ, số công trình hoặc sáng kiến được ứng dụng, mức độ hài lòng của cơ quan sử dụng, tỉ lệ tiếp tục gắn bó sau thời gian cam kết và hiệu quả sử dụng ngân sách. Cần tiếp cận nguồn nhân lực chất lượng cao như một hệ thống chính sách đồng bộ, trong đó mỗi công cụ đều phải gắn với mục tiêu phát triển cụ thể của thành phố.
4. Kết luận
Nguồn nhân lực chất lượng cao có ý nghĩa quyết định đối với năng lực quản trị và năng lực cạnh tranh của thành phố Đồng Nai trong giai đoạn phát triển mới. Việc thành lập thành phố Đồng Nai theo Nghị quyết số 30/2026/QH16 tạo ra cơ hội lớn, đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn đối với đội ngũ cán bộ, chuyên gia, nhà khoa học, giảng viên và nhân lực chuyên môn trong khu vực công. Các nhiệm vụ về quy hoạch đô thị, công nghiệp công nghệ cao, logistics, hàng không, chuyển đổi số, giáo dục đại học, y tế chuyên sâu và quản trị công khó có thể được thực hiện hiệu quả nếu thiếu đội ngũ nhân lực có trình độ cao và được sử dụng đúng cách.
Mặc dù Đồng Nai đã có một số kết quả trong đào tạo, phát triển, thu hút và hỗ trợ nguồn nhân lực, nhưng chính sách hiện hành vẫn còn phân tán, phạm vi hẹp, chủ yếu thiên về đào tạo hoặc hỗ trợ tài chính ban đầu, trong khi cơ chế trọng dụng, giữ chân và đánh giá kết quả chưa đầy đủ. Do đó, thành phố Đồng Nai cần chuyển từ tư duy hỗ trợ ban đầu sang xây dựng hệ thống chính sách đồng bộ về thu hút, sử dụng, phát triển và giữ chân nguồn nhân lực chất lượng cao./.

——————————————————-

Ngày nhận bài: 21/4/2026; ngày thẩm định: 23/4/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Ban Tổ chức Thành ủy Đồng Nai (2026). Báo cáo thống kê đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của Đồng Nai đến tháng 3/2026.
Phạm Tất Dong (2010). Trí thức Việt Nam: Thực tiễn và triển vọng. Nxb Chính trị quốc gia.
Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai (2016). Nghị quyết số 43/2016/NQ-HĐND ngày 09/12/2016 về chính sách thu hút, hỗ trợ viên chức, nhân viên ngành y tế tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2017 – 2020.
Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai (2026). Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND ngày 10/4/2026 quy định chính sách thu hút, hỗ trợ nguồn nhân lực chất lượng cao làm việc tại Trường Đại học Đồng Nai giai đoạn 2026 – 2030.
OECD (2021). Public employment and management 2021: The future of the public service. OECD Publishing.
Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh Đồng Nai (2026). Thông cáo báo chí văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân tỉnh ban hành trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo: Nghị quyết số 05/2026/NQ-HĐND ngày 10/4/2026.
Quốc hội (2026). Nghị quyết số 30/2026/QH16 ngày 24/4/2026 về việc thành lập thành phố Đồng Nai.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2011). Quyết định số 2361/QĐ-UBND ngày 21/9/2011 phê duyệt Chương trình tổng thể đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2011 – 2015.
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2016). Quyết định số 4698/QĐ-UBND ngày 30/12/2016 ban hành Chương trình đào tạo phát triển nguồn nhân lực tỉnh Đồng Nai giai đoạn 2016 – 2020.

(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *