PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI: TỪ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN ĐẾN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG

PHÁT HUY NHÂN TỐ CON NGƯỜI: TỪ LÝ LUẬN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC – LÊNIN ĐẾN VĂN KIỆN ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG

TS. NGUYỄN THỊ HUỲNH NHƯ
Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt: Trên cơ sở lý luận Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về con người, bài viết phân tích quá trình phát triển nhận thức của Đảng Cộng sản Việt Nam về vị trí, vai trò và phương thức phát huy nhân tố con người, đồng thời làm rõ những định hướng chiến lược được xác định tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng. Trong bối cảnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu phát triển toàn diện con người Việt Nam, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút và trọng dụng nhân tài. Bài viết đề xuất các giải pháp trọng tâm về hoàn thiện hệ giá trị con người, đổi mới giáo dục và đào tạo, nâng cao chất lượng công tác cán bộ, chăm sóc sức khỏe và bảo đảm an sinh xã hội, qua đó phát huy nguồn lực nội sinh phục vụ phát triển đất nước.
Từ khóa: chủ nghĩa Mác – Lênin; Đại hội XIV của Đảng; con người; nguồn nhân lực chất lượng cao
PROMOTING THE HUMAN FACTOR: FROM MARXIST – LENINIST THEORY TO THE DOCUMENTS OF THE 14TH NATIONAL PARTY CONGRESS
Abstract: Based on Marxist-Leninist theory and Ho Chi Minh Thought, this article summarizes the Communist Party of Viet Nam’s evolving perspective on the role of the human factor, highlighting key orientations from the 14th National Congress. The article emphasizes comprehensive human development, improving the quality of human resources, and effectively attracting, employing, and retaining talented people in the context of digital transformation and global integration. The article also outlines key solutions such as refining human values, reforming education, improving cadre management and talent policies, and strengthening social welfare to support sustainable development.
Keywords: 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam; human factor; Marxism-Leninism; high-quality human resources

1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử tư tưởng nhân loại, vấn đề con người luôn giữ vị trí trung tâm trong các học thuyết triết học, chính trị và xã hội. Đối với lý luận Mác – Lênin, con người là một thực thể thống nhất biện chứng giữa phương diện tự nhiên và phương diện xã hội; vừa là sản phẩm của hoàn cảnh lịch sử, vừa là chủ thể tích cực, sáng tạo ra lịch sử thông qua hoạt động thực tiễn. Hệ thống quan điểm khoa học về con người của chủ nghĩa Mác – Lênin đã đặt nền tảng lý luận cho sự nghiệp giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người khỏi các hình thức áp bức, bóc lột và tha hóa. Mục tiêu cao nhất của tiến trình đó là tạo lập những điều kiện xã hội để con người được phát triển tự do, toàn diện, trong đó sự phát triển tự do của mỗi người trở thành điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người. Kế thừa và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đặt con người ở vị trí trung tâm của sự nghiệp cách mạng. Theo Người, giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người có quan hệ thống nhất; độc lập dân tộc phải gắn với tự do, ấm no và hạnh phúc của nhân dân. Con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của cách mạng; mọi chủ trương, chính sách phải hướng đến nâng cao đời sống vật chất, tinh thần và phát huy quyền làm chủ của nhân dân.
Trải qua 40 năm đổi mới, nhận thức lý luận của Đảng Cộng sản Việt Nam về con người và phát huy nhân tố con người ngày càng được bổ sung, phát triển, phù hợp với yêu cầu thực tiễn và xu thế của thời đại. Từ quan điểm coi con người là mục tiêu và động lực của sự phát triển, Đảng từng bước xác định phát triển con người toàn diện, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao, phát huy giá trị văn hóa và sức mạnh con người Việt Nam là những nội dung có ý nghĩa chiến lược. Tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng, nhận thức này tiếp tục được phát triển trong bối cảnh đất nước đứng trước những thời cơ và thách thức mang tính bước ngoặt. Phát triển con người được đặt trong mối quan hệ hữu cơ với khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc; đồng thời trở thành nguồn lực nội sinh và động lực quan trọng đưa dân tộc bước vào kỷ nguyên phát triển mới.
Dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, bài viết phân tích con người trong mối quan hệ giữa điều kiện tự nhiên, hoàn cảnh xã hội và hoạt động thực tiễn; đồng thời làm rõ những điểm mới và giải pháp phát huy nhân tố con người được xác định tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Nội dung về con người và phát huy nhân tố con người trong lý luận Mác – Lênin
Với thế giới quan duy vật và phương pháp biện chứng, lý luận Mác – Lênin đã nghiên cứu con người một cách toàn diện, từ nguồn gốc, bản chất, vị trí, vai trò đến điều kiện và con đường giải phóng con người.
Một là, con người là thực thể thống nhất giữa phương diện tự nhiên và phương diện xã hội
C.Mác khẳng định con người là một thực thể tự nhiên mang đặc tính xã hội, trong đó phương diện tự nhiên và phương diện xã hội thống nhất biện chứng với nhau. Về phương diện tự nhiên, con người là một bộ phận của giới tự nhiên, là kết quả của quá trình tiến hóa lâu dài. Con người tồn tại bằng cơ thể sống, chịu sự tác động của các quy luật sinh học, vật lý, hóa học và phải thường xuyên trao đổi vật chất với môi trường để duy trì sự sống. Sự tồn tại vật chất của những cá nhân hiện thực là tiền đề của toàn bộ đời sống xã hội và lịch sử nhân loại. Tuy nhiên, con người không đồng nhất với các tồn tại tự nhiên khác mà còn mang bản tính xã hội. Trong Bản thảo kinh tế – triết học năm 1844, C.Mác viết: “Con người không chỉ là thực thể tự nhiên, nó là thực thể tự nhiên có tính chất người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.234). Sự hình thành con người không chỉ là kết quả của tiến hóa sinh học mà còn gắn với lao động, giao tiếp và ngôn ngữ. Thông qua hoạt động lao động có mục đích và mang tính xã hội, con người không chỉ thích nghi với tự nhiên mà còn chủ động cải biến tự nhiên, tạo ra của cải vật chất, các quan hệ xã hội và chính bản thân mình. Lao động tạo điều kiện cho sự hình thành ý thức, tư duy, ngôn ngữ và những năng lực xã hội đặc thù của con người. Trong quá trình đó, con người chế tạo, sử dụng công cụ lao động, tích lũy kinh nghiệm và truyền lại tri thức cho các thế hệ sau. Con người, với sức lao động, tri thức và khả năng sáng tạo, là chủ thể chế tạo, sử dụng công cụ lao động và giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong sự phát triển của lực lượng sản xuất. Như vậy, phương diện tự nhiên là tiền đề tồn tại, phương diện xã hội là đặc trưng bản chất phân biệt con người với thế giới động vật. Hai phương diện này không tách rời mà tác động qua lại, quy định sự hình thành và phát triển của mỗi cá nhân.
Hai là, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội
Khi phê phán quan điểm của L. Phoiơbắc xem bản chất con người như một cái trừu tượng cố hữu của cá nhân, tách khỏi tính lịch sử và các quan hệ xã hội hiện thực, C.Mác khẳng định: “Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.11). Luận điểm này khẳng định bản chất con người không phải là thuộc tính trừu tượng, bất biến, có sẵn trong mỗi cá nhân mà được hình thành trong toàn bộ các quan hệ xã hội hiện thực. Con người chỉ trở thành con người trong quá trình sống, lao động, giao tiếp và tham gia các quan hệ kinh tế, chính trị, pháp luật, đạo đức, gia đình, dân tộc, giai cấp và cộng đồng. “Tổng hòa những quan hệ xã hội” không phải là phép cộng đơn giản của các quan hệ riêng lẻ mà là một chỉnh thể có sự tác động, thâm nhập và chuyển hóa lẫn nhau. Trong những điều kiện lịch sử khác nhau, vị trí và tác động của từng quan hệ xã hội đối với con người cũng khác nhau. Các quan hệ xã hội góp phần hình thành nhu cầu, lợi ích, năng lực, ý thức, tình cảm, lý tưởng và nhân cách của con người. Thông qua hoạt động thực tiễn, cá nhân tiếp nhận những giá trị xã hội, đồng thời tác động trở lại và tham gia cải biến các quan hệ xã hội. Quan điểm của C.Mác không phủ nhận phương diện tự nhiên hoặc tính cá nhân của con người mà nhấn mạnh bản chất xã hội chỉ tồn tại, biểu hiện thông qua những cá nhân hiện thực. Mỗi cá nhân có đặc điểm riêng, nhưng sự hình thành và phát triển luôn chịu sự quy định của hoàn cảnh lịch sử, điều kiện sống, giáo dục, lao động và môi trường văn hóa. Từ đó, muốn phát triển con người, phải đồng thời cải thiện môi trường xã hội, hoàn thiện thể chế, phát triển giáo dục, xây dựng văn hóa và tạo lập các quan hệ xã hội tiến bộ.
Ba là, con người vừa là sản phẩm của lịch sử, vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử
Chủ nghĩa Mác – Lênin khẳng định con người là sản phẩm của lịch sử, bởi mỗi thế hệ đều sinh ra và hoạt động trong những điều kiện vật chất, kinh tế, văn hóa và xã hội do các thế hệ trước để lại. Tuy nhiên, con người không phải là sản phẩm thụ động của hoàn cảnh, mà thông qua hoạt động thực tiễn có khả năng nhận thức, cải biến hoàn cảnh và sáng tạo lịch sử. C.Mác và Ph.Ăngghen viết: “Toàn bộ cái gọi là lịch sử thế giới chẳng qua chỉ là sự sáng tạo của con người kinh qua lao động của con người, sự sinh thành của tự nhiên cho con người” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 2000, tr.182). Không có hoạt động thực tiễn của con người thì không có lịch sử xã hội. Những biến đổi trong lực lượng sản xuất, quan hệ sản xuất, thiết chế chính trị và đời sống văn hóa đều gắn với hoạt động có mục đích của con người. Tuy nhiên, con người không sáng tạo lịch sử một cách tùy tiện mà trong những điều kiện khách quan nhất định. Trong quá trình lãnh đạo xây dựng xã hội mới, V.I.Lênin đặc biệt nhấn mạnh vai trò của người lao động, trình độ tổ chức và năng suất lao động: “Xét đến cùng, thì năng suất lao động là cái quan trọng nhất, chủ yếu nhất cho thắng lợi của chế độ xã hội mới… Chủ nghĩa tư bản có thể bị đánh bại hẳn, và sẽ bị đánh bại hẳn, vì chủ nghĩa xã hội tạo ra một năng suất lao động mới, cao hơn nhiều” (V.I.Lênin, 2005, tr.25).
Quan điểm này cho thấy thắng lợi của chế độ xã hội mới không chỉ phụ thuộc vào mục tiêu chính trị mà còn phụ thuộc vào năng lực tổ chức, trình độ khoa học, kỹ thuật, ý thức lao động và khả năng sáng tạo của con người. Phát huy nhân tố con người phải gắn với nâng cao dân trí, trình độ chuyên môn, năng suất lao động, ý thức trách nhiệm và năng lực làm chủ của nhân dân.
Bốn là, giải phóng con người gắn với phát triển con người toàn diện
Mục tiêu xuyên suốt trong lý luận Mác – Lênin là giải phóng con người khỏi những điều kiện kinh tế, chính trị và xã hội làm cho con người bị áp bức, bóc lột và tha hóa. Giải phóng con người không chỉ là giải phóng về chính trị mà còn phải tạo ra những điều kiện vật chất và tinh thần để con người phát triển tự do, toàn diện. Phát triển toàn diện đòi hỏi khắc phục tình trạng con người bị lệ thuộc vào sự phân công lao động cứng nhắc, bị giới hạn trong một chức năng nghề nghiệp đơn nhất hoặc bị tách khỏi sản phẩm lao động của mình. Trong xã hội tiến bộ, mỗi người phải có điều kiện phát triển hài hòa năng lực thể chất, trí tuệ, đạo đức, thẩm mỹ và khả năng sáng tạo. Phát triển con người toàn diện không có nghĩa là mọi cá nhân phát triển giống nhau mà là tạo điều kiện để mỗi người phát huy tiềm năng, sở trường trong mối quan hệ hài hòa với cộng đồng. Tự do cá nhân phải thống nhất với trách nhiệm xã hội; lợi ích cá nhân chính đáng phải gắn với lợi ích cộng đồng và sự phát triển chung.
2.2. Định hướng phát huy nhân tố con người tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng
2.2.1. Những điểm mới về phát huy nhân tố con người
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định những quyết sách chiến lược nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV nhấn mạnh yêu cầu phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển; khơi dậy truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường và tự hào dân tộc. Những định hướng này phù hợp với bối cảnh thế giới có nhiều biến động nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo; cạnh tranh về khoa học, công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao ngày càng gay gắt. Trong bối cảnh đó, Việt Nam phải phát triển với tư thế chủ động, tự chủ, tự cường, đồng thời tích cực hội nhập và nâng cao vị thế quốc gia.
Một là, phát huy nhân tố con người gắn với phát triển toàn diện con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu của thời đại mới
Đại hội lần thứ XI xác định xây dựng con người Việt Nam giàu lòng yêu nước, có ý thức làm chủ, trách nhiệm công dân, có tri thức, sức khỏe, lao động giỏi, sống có văn hóa, nghĩa tình và có tinh thần quốc tế chân chính (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.76-77). Đại hội lần thứ XII nhấn mạnh nhiệm vụ xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.126). Đại hội lần thứ XIII tiếp tục xác định phát triển con người toàn diện gắn với xây dựng nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc; chú trọng sức khỏe, năng lực, trình độ, ý thức và trách nhiệm đối với bản thân, gia đình, xã hội và Tổ quốc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.37). Kế thừa các quan điểm đó, Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định phát triển con người Việt Nam toàn diện về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp và kỹ năng số; đồng thời khơi dậy tinh thần tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, văn minh, hạnh phúc (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.99).
So với các kỳ Đại hội trước, nội hàm phát triển con người tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng được đặt trực tiếp trong bối cảnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế sâu rộng. Kỹ năng số, năng lực sáng tạo, khả năng thích ứng và tinh thần tự tin trở thành yêu cầu quan trọng đối với con người Việt Nam trong thời đại mới. Việc bổ sung những năng lực mới không làm thay đổi các giá trị truyền thống mà tạo sự kết hợp giữa bản lĩnh dân tộc với năng lực hiện đại. Con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới phải có lòng yêu nước, đạo đức, trách nhiệm cộng đồng, có tri thức, kỹ năng, tư duy sáng tạo và khả năng làm việc trong môi trường quốc tế.
Hai là, phát huy nhân tố con người lấy phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao làm trọng tâm đột phá chiến lược
Đại hội lần thứ X của Đảng khẳng định yêu cầu phát triển nhanh nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là đội ngũ chuyên gia đầu ngành, nhà khoa học, nhà quản lý giỏi, lao động lành nghề; đồng thời chú trọng bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.96). Đại hội lần thứ XI xác định phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, là một trong ba đột phá chiến lược; gắn phát triển nguồn nhân lực với đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.32). Đại hội lần thứ XII tiếp tục yêu cầu thực hiện đồng bộ các cơ chế, chính sách, giải pháp phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.295-296). Đại hội lần thứ XIII nhấn mạnh ưu tiên phát triển nguồn nhân lực cho công tác lãnh đạo, quản lý và các lĩnh vực then chốt; gắn nâng cao chất lượng giáo dục, đào tạo với cơ chế tuyển dụng, sử dụng và đãi ngộ nhân tài (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.203-204). Đại hội lần thứ XIV tiếp tục xác định ưu tiên phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; chuyển đổi cơ cấu nhân lực phù hợp với mô hình tăng trưởng mới, kinh tế số, kinh tế xanh, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và hội nhập quốc tế (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.245).
Nguồn nhân lực chất lượng cao không chỉ bao gồm đội ngũ chuyên gia, nhà khoa học và cán bộ lãnh đạo, quản lý mà còn gồm người lao động có kỹ năng nghề nghiệp cao, khả năng sử dụng công nghệ, thích ứng với sự thay đổi và học tập suốt đời. Đây là điều kiện để Việt Nam nâng cao năng suất lao động, làm chủ công nghệ và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu. Đại hội lần thứ XIV đồng thời đặt phát triển nguồn nhân lực trong mối quan hệ với thu hút, trọng dụng nhân tài và bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Vì vậy, phát huy nhân tố con người không chỉ là đào tạo mà còn phải tạo lập môi trường thể chế để tài năng được phát hiện, sử dụng và phát huy hiệu quả.
2.2.2. Một số giải pháp phát huy nhân tố con người
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV đặt mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao. Tốc độ tăng năng suất lao động được xác định đạt khoảng 8,5%/năm; tỉ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội giảm xuống dưới 20%; tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng cấp, chứng chỉ đạt 35 – 40% (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.375-376). Để thực hiện các mục tiêu đó, việc phát huy nhân tố con người cần tập trung vào những giải pháp chủ yếu sau:
Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện hệ giá trị con người Việt Nam trong thời đại mới
Cần tiếp tục nghiên cứu, ban hành và tổ chức thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam. Các hệ giá trị phải được cụ thể hóa thành những chuẩn mực có khả năng định hướng nhận thức, thái độ và hành vi của cá nhân trong đời sống xã hội. Hệ giá trị con người Việt Nam phải kết hợp hài hòa giữa các giá trị truyền thống và yêu cầu của thời đại mới. Lòng yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, cần cù và trách nhiệm gắn với tinh thần thượng tôn pháp luật, tư duy khoa học, năng lực sáng tạo, kỹ năng số và khả năng hội nhập. Các giá trị không chỉ tồn tại dưới dạng lý luận mà cần được tích hợp vào chương trình giáo dục, hoạt động văn hóa, truyền thông, môi trường công vụ và sinh hoạt cộng đồng. Đồng thời, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp và không gian mạng để các giá trị tốt đẹp được nuôi dưỡng, chuyển hóa thành phẩm chất bền vững.
Thứ hai, xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới
Giáo dục và đào tạo là con đường cơ bản để phát triển trí tuệ, năng lực, nhân cách và chất lượng nguồn nhân lực. Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Giáo dục cần chuyển mạnh từ trang bị kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực, tư duy sáng tạo, khả năng giải quyết vấn đề và học tập suốt đời. Người học phải được chuẩn bị để thích ứng với những thay đổi nhanh chóng của khoa học, công nghệ và thị trường lao động. Cần tăng cường dạy và học ngoại ngữ, phát triển năng lực sử dụng tiếng Anh; đẩy mạnh giáo dục tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật và toán học; phát triển năng lực số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục và xây dựng các cơ sở giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao. Giáo dục đại học phải gắn chặt hơn với nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo, nhu cầu của doanh nghiệp và chiến lược phát triển quốc gia. Giáo dục nghề nghiệp cần tổ chức linh hoạt, gắn với nhu cầu thị trường lao động, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; khắc phục tâm lý coi trọng bằng cấp hơn kỹ năng. Xây dựng nền giáo dục hiện đại không chỉ nhằm cung cấp nguồn nhân lực cho nền kinh tế mà còn góp phần hình thành công dân có đạo đức, trách nhiệm, năng lực làm chủ và ý thức cống hiến.
Thứ ba, xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể trong xây dựng và phát huy nhân tố con người
Phát huy nhân tố con người là nhiệm vụ của toàn xã hội trong đó, Đảng giữ vai trò lãnh đạo, định hướng chiến lược; Nhà nước thể chế hóa các chủ trương thành chính sách, pháp luật và tổ chức thực hiệnh; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội vận động Nhân dân tham gia, giám sát và phản biện xã hội. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Việc phát huy quyền làm chủ tạo điều kiện để người dân tham gia thực chất vào quá trình xây dựng, thực hiện và đánh giá chính sách. Gia đình có trách nhiệm hình thành phẩm chất đạo đức, lối sống và nền tảng văn hóa đầu tiên cho mỗi cá nhân. Nhà trường phát triển tri thức, kỹ năng và năng lực xã hội. Doanh nghiệp tạo môi trường lao động, đào tạo và phát huy sáng kiến. Mỗi cá nhân phải nâng cao ý thức tự học, tự rèn luyện và chịu trách nhiệm đối với sự phát triển của mình. Cùng với đó, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế thu hút, sử dụng và trọng dụng nhân tài trong khu vực công; khuyến khích, bảo vệ người năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Thứ tư, đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ
Cán bộ là nhân tố quyết định chất lượng tổ chức và hiệu quả thực hiện đường lối, chính sách. Vì vậy, công tác cán bộ phải được thực hiện khách quan, dân chủ, công khai, minh bạch, thực chất và hiệu quả. Các khâu tuyển chọn, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sử dụng, đánh giá và luân chuyển cán bộ cần được đổi mới đồng bộ. Đánh giá cán bộ cần căn cứ vào phẩm chất, năng lực, uy tín, kết quả và sản phẩm thực hiện nhiệm vụ; đối với những vị trí trực tiếp phục vụ người dân, tổ chức, có thể sử dụng mức độ hài lòng như một chỉ báo bổ sung; khắc phục tình trạng đánh giá hình thức, nể nang hoặc cào bằng. Cần thực hiện nghiêm chủ trương “có vào, có ra”, “có lên, có xuống”; kịp thời thay thế cán bộ năng lực hạn chế, uy tín thấp, không hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, phải phát hiện, đào tạo và bố trí những cán bộ có phẩm chất, năng lực, tư duy đổi mới và khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển. Cơ chế thu hút nhân tài cần mở rộng nguồn tuyển dụng, tạo điều kiện cho chuyên gia, nhà khoa học, nhà quản lý giỏi và người có kinh nghiệm trong khu vực ngoài nhà nước tham gia đóng góp cho khu vực công. Chính sách đãi ngộ, môi trường làm việc và cơ hội phát triển phải đủ sức thu hút, giữ chân người có năng lực. Cùng với kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, cần bảo vệ cán bộ có động cơ trong sáng, dám đổi mới vì lợi ích chung; phân biệt sai phạm do vụ lợi với rủi ro phát sinh trong quá trình thử nghiệm sáng tạo.
Thứ năm, nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe, bảo đảm an sinh xã hội và phát triển xã hội bền vững
Cần tổ chức lại và nâng cao năng lực của hệ thống y tế cơ sở, y tế dự phòng, bảo đảm mọi người dân được tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe ban đầu có chất lượng. Chăm sóc sức khỏe phải chuyển mạnh từ điều trị bệnh sang phòng bệnh, quản lý sức khỏe toàn dân và nâng cao chất lượng sống. Hệ thống an sinh xã hội cần được xây dựng theo hướng đa tầng, hiện đại, linh hoạt, bao trùm và bền vững; từng bước mở rộng diện bao phủ bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội và các dịch vụ cơ bản. Chính sách lao động, việc làm phải thích ứng với chuyển đổi số, các mô hình việc làm mới và biến đổi cơ cấu dân số. Người lao động cần được hỗ trợ đào tạo lại, nâng cao kỹ năng và chuyển đổi nghề nghiệp khi công nghệ làm thay đổi nhu cầu của thị trường lao động. Cần tiếp tục phát triển nhà ở xã hội, nhà ở cho người lao động tại các khu công nghiệp và các nhóm có thu nhập thấp; tạo điều kiện để người dân tiếp cận giáo dục, y tế, nước sạch, thông tin và môi trường sống an toàn. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV đặt mục tiêu đến năm 2030, chỉ số phát triển con người đạt khoảng 0,8; tuổi thọ trung bình đạt khoảng 75,5 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều giảm 1 – 1,5 điểm phần trăm mỗi năm; phấn đấu thuộc nhóm 40 quốc gia có chỉ số hạnh phúc cao nhất (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.376). Những mục tiêu này cho thấy phát triển con người không chỉ được đo lường bằng tăng trưởng kinh tế mà còn bằng sức khỏe, giáo dục, mức sống, cơ hội việc làm và mức độ hạnh phúc của người dân.
3. Kết luận
Phát huy nhân tố con người từ lý luận Mác – Lênin đến định hướng chiến lược tại Đại hội lần thứ XIV của Đảng là một quá trình kế thừa và phát triển có tính biện chứng. Lý luận Mác – Lênin đã làm rõ con người là thực thể thống nhất giữa phương diện tự nhiên và xã hội; bản chất con người là tổng hòa những quan hệ xã hội; con người vừa là sản phẩm, vừa là chủ thể sáng tạo lịch sử; mục tiêu phát triển xã hội phải hướng tới giải phóng và phát triển con người toàn diện. Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước bổ sung và hoàn thiện quan điểm về con người qua quá trình lãnh đạo cách mạng. Tại Đại hội lần thứ XIV, phát triển toàn diện con người, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, thu hút và trọng dụng nhân tài tiếp tục được xác định là một trong những nội dung có ý nghĩa chiến lược. Phát huy hiệu quả nhân tố con người là điều kiện có ý nghĩa quyết định để thực hiện mục tiêu đến năm 2030, Việt Nam trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; tạo nền tảng để đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo định hướng xã hội chủ nghĩaq

Ngày nhận bài: 15/4/2026; Ngày thẩm định: 17/4/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email liên hệ: [email protected]

—————————————————

Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam (2006). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
V.I.Lênin (2005). Toàn tập (Tập 39). Nxb Chính trị quốc gia.
C.Mác và Ph.Ăngghen (1995). Toàn tập (Tập 3). Nxb Chính trị quốc gia.
C.Mác và Ph.Ăngghen (2000). Toàn tập (Tập 42). Nxb Chính trị quốc gia.

(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *