CUỘC CHIẾN NGA – UKRAINE SAU BỐN NĂM VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

CUỘC CHIẾN NGA – UKRAINE SAU BỐN NĂM VÀ KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM TRONG BẢO VỆ TỔ QUỐC TỪ SỚM, TỪ XA

TS. ĐẶNG THỊ THẢO
Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt: Xung đột quân sự giữa Nga và Ukraine đã diễn ra hơn 04 năm, là cuộc chiến phản ánh rõ đặc điểm, tính chất của một cuộc chiến tranh hiện đại, các bên không ngừng làm tiêu hao lực lượng, ý chí đối phương bằng các đòn tâm lý chiến, thực địa chiến và sự cộng hưởng của các loại khí tài hiện đại. Đến nay cả hai bên đều chưa đạt được mục tiêu ban đầu, vẫn ở thế giằng co chiến lược, chưa tìm được những điểm sáng trên bàn đàm phán nhằm chấm dứt cuộc chiến trong thời gian ngắn. Qua cuộc chiến Nga – Ukraine, Việt Nam đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm quý giá về chuẩn bị và sử dụng nguồn lực, tác chiến, khí tài, đặc biệt là xử lý các mối quan hệ để không rơi vào tình huống chiến tranh, giữ vững hòa bình, ổn định nhằm bảo vệ và phát triển đất nước bền vững.
Từ khóa: bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; cuộc chiến Nga – Ukraine; kinh nghiệm; Việt Nam

RUSSIA – UKRAINE WAR AFTER FOUR YEARS AND LESSONS FOR VIETNAM IN EARLY AND PROACTIVE NATIONAL DEFENSE
Abstract: The military conflict between Russia and Ukraine has lasted for more than four years and clearly reflects the characteristics and nature of modern warfare, in which the parties continuously seek to wear down each other’s forces and will through psychological operations, battlefield operations, and the combined effects of modern military equipment. To date, neither side has achieved its initial objectives; both remain in a state of strategic deadlock, with no clear breakthrough at the negotiating table that could bring the war to an end in the near term. From the Russia–Ukraine war, Viet Nam has drawn many valuable lessons regarding the preparation and use of resources, combat operations, and military equipment, particularly in handling external relations so as to avoid being drawn into war, maintain peace and stability, and safeguard and sustainably develop the country.

Keywords: early and proactive national defense; Russia – Ukraine war; lessons; Viet Nam

1. Đặt vấn đề
Do theo đuổi những tham vọng và toan tính chiến lược khác nhau, xung đột quân sự Nga – Ukraine đã chính thức diễn ra vào ngày 24/02/2022. Về bản chất, đây là cuộc chiến có nhiều yếu tố của chiến tranh ủy nhiệm, bởi không chỉ có sự đối đầu quân sự trực tiếp giữa Nga và Ukraine, mà còn có sự đối đầu chiến lược gay gắt giữa Nga với các nước lớn ở khu vực châu Âu, giữa Nga với Hoa Kỳ. Tham gia cuộc chiến, mỗi bên đều có những mục tiêu riêng. Nga khẳng định Ukraine không chỉ là nước láng giềng, mà còn là một phần không thể tách rời của lịch sử, văn hóa và không gian tinh thần Nga; Nga muốn giữ Ukraine như một vùng đệm an toàn về an ninh chiến lược, không muốn Ukraine trở thành tiền tiêu để châu Âu và Hoa Kỳ chống phá sự ổn định, phát triển của Nga. Ngược lại, “kể từ sau Chiến tranh Lạnh đến nay, NATO luôn xem Nga là mối đe dọa an ninh số 1; còn Mỹ coi Nga và Trung Quốc là những ‘đối thủ cạnh tranh chiến lược’ hàng đầu. Mỹ và phương Tây luôn muốn dập tắt những hy vọng của Nga trong việc phục hồi vị thế cường quốc toàn cầu của Liên Xô như trước đây thông qua quá trình “Đông tiến” của NATO” (Phan Thị Thu Dung, 2024), muốn biến Ukraine thành công cụ để chống phá Nga, làm cho Nga suy yếu, không còn đủ sức đe dọa, không có cơ hội trở thành một nước phát triển và làm lu mờ hình ảnh, uy tín của nước Nga trên trường quốc tế. Trong khi đó, với mong muốn tách khỏi ảnh hưởng của Nga, Ukraine xích lại gần châu Âu, trở thành thành viên của EU, NATO, lấy lại Crimea và khôi phục ảnh hưởng chính trị đối với một số vùng lãnh thổ của Ukraine thân Nga, nhằm có thêm nhiều nguồn lực phát triển đất nước.
Tuy nhiên, sau 04 năm, tham vọng, mục tiêu mà các bên mong muốn từ cuộc chiến đều chưa hoàn thành, thậm chí có thể được xem là thất bại, bởi những thiệt hại to lớn về con người, cơ sở hạ tầng, kinh tế, an ninh chính trị. Điều này “đã tạo ra cuộc khủng hoảng địa – chính trị lớn nhất châu Âu kể từ sau Chiến tranh Lạnh, đã gây tác động tới hòa bình và an ninh khu vực, để lại những hệ lụy khôn lường trên phạm vi toàn cầu về kinh tế, cả về an ninh, chiến lược” (Vũ Duy Thành, 2026). Với Việt Nam, cuộc xung đột này tác động toàn diện đến cả an ninh truyền thống và an ninh phi truyền thống, từ lĩnh vực kinh tế đến lĩnh vực đối ngoại, quốc phòng. Dẫu vậy, từ cuộc chiến này, Việt Nam đã tích lũy được nhiều bài học kinh nghiệm, nhất là những bài học liên quan đến tác chiến chiến lược của một cuộc chiến tranh hiện đại, ổn định thế trận lòng dân, ngoại giao nước lớn, góp phần khẳng định vị thế, uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế và bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
2. Tổng quan nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu
Các nguồn tài liệu được sử dụng trong bài cho thấy, xung đột Nga – Ukraine được tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau, như địa chính trị, chiến lược quân sự, tác chiến công nghệ cao, ngoại giao và an ninh khu vực. Trên cơ sở kế thừa các nghiên cứu, bài viết tập trung làm rõ hai vấn đề chính: cục diện xung đột Nga – Ukraine sau 04 năm và những bài học kinh nghiệm có giá trị tham khảo cho Việt Nam trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa.
Bài viết sử dụng chủ yếu phương pháp phân tích tài liệu thứ cấp, phương pháp lịch sử và logic, phương pháp phân tích – tổng hợp, so sánh và khái quát hóa. Trên cơ sở các nguồn tư liệu đã công bố, bài viết nhận diện diễn biến chính của cuộc xung đột Nga – Ukraine, những đặc điểm nổi bật của chiến tranh hiện đại và từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Cục diện xung đột Nga – Ukraine sau 04 năm
Sau 04 năm, xung đột Nga – Ukraine đã để lại hậu quả nặng nề. Tính đến thời điểm hiện tại, cục diện chiến sự này thể hiện một số điểm sau:
Thứ nhất, sự thất bại về mục tiêu ban đầu của các bên tham chiến, thực địa chiến trường dù khốc liệt nhưng vẫn ở thế giằng co chiến lược.
Khi tiến hành cuộc chiến, Nga theo đuổi mục tiêu “đánh nhanh, thắng nhanh”, muốn mau chóng tiến vào Kiev. Với lối đánh này, Nga kỳ vọng làm cho Ukraine (một chủ thể có nguồn lực nhỏ hơn) không kịp trở tay, quân đội trở nên rệu rã, mất phương hướng, làm các nước phương Tây không kịp chi viện và đặt vào thế đã rồi. Tuy nhiên, thực tế đã chứng minh, “vì không đánh giá chính xác tình hình, việc tình báo cung cấp thông tin thiếu chính xác, cùng với sự kháng cự quyết liệt ngoài dự kiến của quân và dân Ukraine, đồng thời sự hỗ trợ tình báo, vũ khí nhanh chóng từ phương Tây đã làm phá sản hoàn toàn kế hoạch “đánh nhanh thắng nhanh” này. Hậu quả là, Nga phải rút quân khỏi Kiev vào tháng 4/2022 và cuộc chiến dần chuyển sang hình thái chiến tranh chiến hào, tiêu hao kéo dài tàn khốc” (Nguyễn Đình Thiện & Nguyễn Thị Hoài Thu, 2022).
Về phía Ukraine, là bên bị tấn công nên giai đoạn đầu ở thế bị động, lúng túng trong triển khai các hoạt động tác chiến chiến lược. Tuy nhiên, với địa hình, địa thế thuận lợi, “cùng sự hỗ trợ về thông tin tình báo và thiết bị chiến tranh của Mỹ và phương Tây, Ukraine đã nhanh chóng phá hủy cầu cống, cắt đứt các con đường vận tải khiến lực lượng Nga bị chia cắt ở các tuyến và trên các mặt trận” (Nguyễn Đình Thiện & Nguyễn Thị Hoài Thu, 2022), buộc Nga phải rút quân khỏi Kiev. Trên đà thắng lợi đó, Ukraine nuôi tham vọng đánh bật Nga, bảo vệ chủ quyền, thu hồi lãnh thổ và nhanh chóng được gia nhập NATO. Tuy nhiên, ở thời điểm hiện tại, với sự suy kiệt toàn diện, Ukraine buộc phải chuyển về thế phòng thủ; mục tiêu cũng không chỉ đơn thuần là giành lại lãnh thổ bằng mọi giá mà chuyển sang thế “ăn miếng, trả miếng”, “vừa đánh, vừa đàm” để giữ vững thế trận cho đến khi kết thúc cuộc chiến.
Trên thực địa, dù hiện tại Nga kiểm soát khoảng 20% lãnh thổ Ukraine, ranh giới tiền tuyến dài hơn 1.000 km vẫn ở trạng thái giằng co quyết liệt. “Tính đến cuối tháng 02 năm 2026, chiến sự đang ở giai đoạn tiêu hao khốc liệt với việc Nga duy trì thế chủ động tấn công ở nhiều điểm nóng, hiện Nga đang duy trì sức ép lớn tại Donbass, đặc biệt là hướng tới các trung tâm hậu cần như Pokrovsk và Kramatorsk. Dù thiếu hụt quân số và đạn dược, Ukraine vẫn giữ vững các tuyến phòng thủ chính và liên tục thay đổi chiến thuật bằng cách sử dụng UAV tự sát và tên lửa tầm xa để đánh phá sâu vào các kho dầu, sân bay trong lãnh thổ Nga” (Học viện Chính trị Công an nhân dân, 2026).
Thứ hai, cuộc chiến Nga – Ukraine là một “phòng thí nghiệm” khổng lồ chứng minh tầm quan trọng của các loại máy bay không người lái (UAV)
Xung đột quân sự Nga – Ukraine ban đầu chủ yếu là cuộc tấn công theo mô hình thế trận pháo binh trên bộ làm nòng cốt. Tuy nhiên, trong bối cảnh cần những quyết chiến chiến lược, tận dụng sức mạnh công nghệ, cả Nga và Ukraine đã sử dụng các loại máy bay không người lái để công kích, thu thập thông tin và tiêu hao sinh lực đối phương. “Máy bay không người lái nhanh chóng nổi lên như một nhân tố thay đổi cục diện chiến trường, định hình lại cách thức tiến hành chiến tranh. Từ trinh sát, điều chỉnh hỏa lực, tấn công trực tiếp đến chiến tranh tâm lý”, UAV đã biến cuộc chiến từ kiểu pháo binh truyền thống thành một trận địa đầu tiên trên thế giới chủ yếu do máy bay không người lái tiến hành (Đăng Khôi, 2025). “Theo báo cáo của Trung tâm Nghiên cứu Chiến lược và Quốc tế (CSIS), Ukraine sử dụng hơn 10.000 UAV/tháng trong các hoạt động quân sự nhằm vào quân đội và các cơ sở hạ tầng thiết yếu của Nga, trong khi Nga cũng tăng cường sản xuất và triển khai UAV với quy mô tương tự” (Đăng Khôi, 2025).
Kể từ khi xuất hiện trong cuộc chiến đến nay, UAV đã giúp Nga và Ukraine có được nhiều lợi thế nhất định, làm tê liệt đối phương, phá hủy nhiều cơ sở hạ tầng quan trọng, thay đổi cục diện “áp đảo” hay “thất thủ” trên chiến trường. “UAV đã làm đảo lộn hoàn toàn bài toán kinh tế trong chiến tranh. Một chiếc UAV góc nhìn thứ nhất (FPV) được lắp ráp bằng linh kiện dân dụng với giá chỉ khoảng 500 – 1.000 USD, nếu được điều khiển khéo léo, hoàn toàn có thể phá hủy một chiếc xe tăng chiến đấu chủ lực trị giá hàng triệu USD hay các hệ thống radar phòng không đắt đỏ” (Đăng Khôi, 2025). Vũ khí truyền thống hạng nặng trở nên dễ bị tổn thương hơn trước những thiết bị bay bằng nhựa nhỏ bé. Hiện tại, trên chiến trường, cả Nga và Ukraine vẫn tiếp tục sử dụng các loại UAV khác nhau, trong đó đáng chú ý là UAV trinh sát, chỉ điểm hỏa lực, UAV tự sát tầm trung và tầm xa, UAV ném bom trong thực hiện các mục tiêu đánh phá liên tục các nhà máy lọc dầu, kho nhiên liệu và sân bay hoặc để tấn công áp đảo, vắt kiệt đạn phòng không của đối phương nhằm chiếm ưu thế trên thực địa và làm điều kiện cho quá trình đàm phán.
Thứ ba, những tổn thất nặng nề và sự bế tắc về ngoại giao
Sau 04 năm giao tranh ác liệt, thiệt hại do cuộc chiến gây ra rất nặng nề đối với các bên tham chiến. Đến nay, “Ukraine chịu thiệt hại khoảng 800 tỉ USD. Các cơ quan và tổ chức quốc tế ước tính, khoảng 70% hệ thống năng lượng, 13% tổng quỹ nhà ở của Ukraine bị hư hại hoặc phá hủy. Cuộc chiến đã khiến gần 05 triệu người dân Ukraine phải di cư ra nước ngoài, trên 06 triệu người phải di tản trong nước. Về thương vong quân sự, Ukraine công bố số binh sĩ tử trận là khoảng 55.000 người. Tuy nhiên, một số phân tích của các cơ quan nghiên cứu phương Tây đưa ra ước lượng thương vong còn cao hơn nhiều, có thể từ 500.000 – 600.000 người. Các chuyên gia cũng cho rằng, ngay cả sau khi xung đột chấm dứt, Ukraine sẽ phải mất nhiều thập kỷ để dọn sạch bom mìn, vật liệu nổ còn sót lại”. Đối với Nga, có “khoảng 1,2 triệu thương vong, trong đó khoảng 275.000 – 325.000 binh sĩ tử trận – đây là mức tổn thất quân sự lớn nhất của một cường quốc từ sau Chiến tranh thế giới thứ hai. Mức độ thiệt hại về kinh tế và tài chính cũng rất lớn, theo các quan chức cấp cao Nga, Moscow đang chịu khoảng 30.000 lệnh trừng phạt của phương Tây. Trên 300 tỉ USD của Nga đang bị đóng băng tại các ngân hàng phương Tây. Riêng thiệt hại từ thu nhập xuất khẩu dầu khí đã lên đến gần 160 tỉ USD. Cuộc xung đột đã đẩy Nga rơi vào thế bị cô lập về ngoại giao và gián đoạn nghiêm trọng liên kết với hệ thống tài chính, kinh tế phương Tây, điều này dự kiến sẽ còn gây nhiều hệ lụy tiêu cực cho Nga về dài hạn” (Vũ Duy Thành, 2026).
Trước những hậu quả nặng nề do cuộc chiến gây ra, hai nước theo nhiều cách khác nhau cũng tính toán và chấp nhận giải quyết xung đột trên bàn đàm phán. Dưới trung gian hòa giải của Hoa Kỳ từ cuối năm 2025 đến đầu năm 2026, các vòng đàm phán ba bên gồm Mỹ – Nga – Ukraine đã diễn ra tại Geneva và Abu Dhabi. Tuy nhiên, lập trường của hai nước vẫn còn nhiều khác biệt. Phía Ukraine coi việc cắt nhượng lãnh thổ là “lằn ranh đỏ” không thể chấp nhận. Dữ liệu cho thấy 74% người dân Ukraine kịch liệt phản đối việc đổi đất lấy hòa bình. Ukraine kiên quyết yêu cầu khôi phục toàn vẹn lãnh thổ. Theo đó, “bất kỳ thỏa thuận ngừng bắn và hòa bình nào cũng phải đáp ứng ít nhất ba điều kiện: 1) Bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Ukraine, ít nhất về mặt pháp lý; 2) Phải có các đảm bảo an ninh cho Ukraine để tránh xung đột tái diễn; 3) Vấn đề tái thiết sau chiến tranh, Ukraine muốn phương Tây dùng một phần tài sản của Nga bị đóng băng ở nước ngoài để bù đắp tổn thất chiến tranh và chi phí tái thiết” (Vũ Duy Thành, 2026).
Về phía Nga, Nga coi các vùng lãnh thổ đã sáp nhập Crimea, Donetsk, Luhansk, Kherson và Zaporizhzhia là một phần không thể tách rời theo Hiến pháp Nga và kiên quyết yêu cầu Ukraine phải rút quân hoàn toàn khỏi các vùng này. Đồng thời, Nga đòi hỏi Ukraine phải duy trì trạng thái trung lập vĩnh viễn, không gia nhập NATO; “Ukraine cần cam kết đặt ra những giới hạn nghiêm ngặt hơn về quy mô và thành phần của lực lượng vũ trang và sẽ không bao giờ nhận viện trợ quân sự từ các đồng minh cũng như bảo đảm quyền lợi của những người nói tiếng Nga ở Ukraine…” (Vũ Duy Thành, 2026). Bên cạnh đó, việc Hoa Kỳ đang tập trung lực lượng giải quyết tình hình khu vực Trung Đông và nội bộ NATO cũng có nhiều bất đồng xoay quanh cuộc chiến, vấn đề viện trợ cho Ukraine, đã làm cho những nỗ lực ngoại giao để kết thúc chiến tranh trở nên mong manh, bế tắc.
3.2. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Cuộc chiến giữa Nga và Ukraine dù chưa rõ hồi kết, nhưng 04 năm qua đã gây ra nhiều hệ lụy, tác động đa chiều đến đời sống kinh tế, chính trị, an ninh không chỉ của hai nước, mà còn của cả khu vực và thế giới. Với Việt Nam, cuộc chiến này không đơn thuần là một sự kiện quốc tế, quan trọng hơn, ở cấp chiến lược, nó như một thao trường giả lập lớn để Việt Nam có thể kiểm định các học thuyết về an ninh và rút ra các bài học trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa. Cụ thể:
Thứ nhất, bài học trong tự chủ chiến lược, tự chủ nền công nghiệp quốc phòng
Tự chủ chiến lược cho phép các quốc gia tự quyết định vận mệnh và bước đi của mình trong mối quan hệ quốc tế mà không bị nước lớn nào chi phối. Tự chủ chiến lược biểu hiện ở nhiều phương diện, nhưng trước hết và quan trọng nhất là tự chủ về tư duy chính trị, quyết định chính trị. Trong điều kiện địa chính trị nhạy cảm, Ukraine lựa chọn “nghiêng về một phía” với mong muốn được NATO bao bọc, được phương Tây hậu thuẫn nên vô hình trung đã làm cho Ukraine lệ thuộc phương Tây, trở thành quân cờ trong bàn cờ chiến lược. Khi cuộc chiến diễn ra, dù được phương Tây hứa hẹn hỗ trợ nhưng khi tình hình địa chính trị thay đổi, thì nguồn viện trợ cho Ukraine bị cắt giảm, gián đoạn. Thậm chí, Hoa Kỳ sẵn sàng nới lỏng trừng phạt dầu mỏ cho Nga để cứu kinh tế của mình, ngay lập tức Nga có cơ hội vực dậy nền kinh tế, có thêm nguồn lực để ứng phó với Ukraine, đẩy Ukraine trước những rủi ro cao hơn về thiếu hụt nguồn lực, yếu thế hơn trong cuộc chiến tranh.
Từ thực tế này, Việt Nam đúc rút bài học kinh nghiệm sâu sắc: phải tự lực, tự cường, tự chủ bằng cách tận dụng tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài để phát triển kinh tế, ổn định chính trị và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ. Tự chủ chiến lược không phải là tự cô lập mình, mà là duy trì khả năng tự quyết định đường lối đối nội, đối ngoại và quốc phòng dựa trên lợi ích quốc gia – dân tộc, dựa trên sức mạnh tổng hợp quốc gia và tôn trọng luật pháp quốc tế, để không bị lôi kéo, ép buộc hay thao túng bởi bất kỳ sức ép nào từ bên ngoài. Đây là bài học xương máu về gìn giữ hòa bình và sự thịnh vượng quốc gia.
Xung đột Nga – Ukraine cho thấy, đây là cuộc chiến tiêu hao khốc liệt về vũ khí và đạn dược. Dù quân đội có tinh nhuệ đến đâu, nếu không thể tự chủ sản xuất đạn pháo, súng hay UAV thì sẽ mất thế chủ động và chịu thương vong lớn khi nguồn cung đứt gãy. Điểm yếu lớn của Ukraine là phụ thuộc nhiều vào khí tài phương Tây; trên chiến trường đã nhiều lần quân đội Ukraine không còn đủ sức kháng cự vì thiếu đạn dược.
Hơn thế, chiến trường hiện tại giữa Nga và Ukraine cho thấy các khí tài trị giá hàng tỉ USD, như xe tăng, máy bay, liên tục bị vô hiệu hóa bằng các UAV có giá rẻ hơn nhiều lần, giúp Ukraine giảm bớt áp lực kinh tế, nguồn lực cho quốc phòng, nhất là trong đầu tư nghiên cứu, sản xuất các khí tài mới, tốn kém mà cũng chưa chắc phát huy hiệu quả như các UAV. Nền quốc phòng Việt Nam hiện đã được đầu tư, nâng cấp bằng nhiều khí tài hiện đại có khả năng bảo vệ vùng trời, vùng biển, lãnh thổ đất liền hay ngoài khơi, nhưng so với các cường quốc quân sự thì Việt Nam vẫn ở thế “bất đối xứng”. Do vậy, từ cuộc chiến Nga – Ukraine, Việt Nam có thêm bài học kinh nghiệm trong nhìn nhận, đánh giá thực lực chiến trường, phương cách, phương tiện tác chiến, từ đó quan tâm, đầu tư nhiều hơn cho ngành công nghiệp quốc phòng nội địa; khuyến khích, tạo điều kiện cho các tập đoàn công nghiệp quốc phòng trong nước phát triển các UAV dân sự, từng bước làm chủ công nghệ và sẵn sàng kết hợp với nhà nước đầu tư phát triển các UAV chiến lược nhằm hiện đại hóa tiềm lực quốc phòng. Đặc biệt, cần đa dạng hóa nguồn cung, tránh lệ thuộc vào một thị trường. Điều này giúp Việt Nam đủ sức mạnh bảo vệ độc lập, chủ quyền, củng cố nguồn lực quốc phòng trong dài hạn, củng cố năng lực tự chủ chiến lược trong bối cảnh an ninh, chính trị quốc tế, khu vực ngày càng có nhiều bất ổn, khó lường.
Thứ hai, bài học về sức bền nội địa và bảo vệ hạ tầng thiết yếu
Trong cuộc chiến với Ukraine, Nga có nguồn lực kinh tế và quân sự quốc phòng mạnh hơn. Một mặt, Nga tập trung quân đội, khí tài đánh các căn cứ quân sự; mặt khác, tập trung tấn công liên tục vào các cơ sở hạ tầng trọng yếu của Ukraine, như mạng lưới điện, trạm biến áp, đường ống dẫn dầu, khí đốt, nhằm làm suy giảm ý chí kháng cự của quân đội, nhân dân và làm tê liệt nền kinh tế Ukraine. Ở chiều ngược lại, Ukraine đã tấn công vào cơ sở hạ tầng quân sự, thiết yếu của Nga, đặc biệt là các cuộc tấn công bằng UAV vào các nhà máy lọc dầu ở Tuapse, sân bay Shagol ở Chelyabinsk. Những đòn tấn công này ảnh hưởng trực tiếp đến năng lực chiến đấu của Nga, nền kinh tế, tương quan lực lượng, tình trạng ô nhiễm môi trường, thậm chí gieo rắc sự hoài nghi, làm giảm niềm tin của người dân với cuộc chiến, với chính quyền Tổng thống Putin.
Nhìn vào thực tế này, Việt Nam cần thực hiện đồng bộ từ khâu quy hoạch đến khâu xây dựng các hạ tầng quan trọng, như điện, nước, viễn thông, kho bãi có tính dự phòng cao; tránh tập trung quá mức vào các siêu dự án lớn ở một khu vực địa lý nhất định, hoặc phải có những tính toán chiến lược thay thế kịp thời khi có biến cố xảy ra. Điều này giúp ổn định thế trận, tránh nguy cơ khủng hoảng, tê liệt các nhu cầu thiết yếu trên diện rộng và tình trạng ô nhiễm phóng xạ, môi trường.
Thứ ba, bài học về chiến tranh thông tin và sự ủng hộ của dư luận quốc tế
Trong các mảnh ghép của cuộc chiến tranh hiện đại, thông tin truyền thông được xem là một mặt trận quan trọng. Chính nghĩa không tự nhiên có nếu không được lan tỏa, đón nhận, ủng hộ từ bên ngoài một cách bài bản, có chủ đích. Trong cuộc chiến Nga – Ukraine, Ukraine đẩy mạnh thông tin truyền thông quốc tế, kêu gọi cộng đồng thế giới ủng hộ, tôn trọng luật pháp quốc tế, qua đó lên án Nga, làm cho Nga bị ảnh hưởng uy tín, nguồn lực. Ngược lại, Nga cũng tập trung truyền thông lên án sự mở rộng của NATO áp sát phía Tây nước Nga, đe dọa an ninh nước Nga. Nga khẳng định: “việc Ukraine muốn gia nhập NATO và sự hỗ trợ của phương Tây cho Ukraine là lý do chính dẫn đến xung đột” (Việt Dũng, 2025).
Việc hai nước đẩy mạnh truyền thông theo hướng có lợi cho mình đã dẫn đến những lựa chọn, phản ứng khác nhau của các quốc gia trong ứng xử với hai nước. Tại các cuộc họp của Đại hội đồng Liên hợp quốc đã cho thấy sự khác biệt này: ngày 02/3/2022, nghị quyết liên quan đến tình hình Ukraine được thông qua với 141 phiếu thuận, 35 phiếu trắng và 05 phiếu chống; ngày 24/3/2022, Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua nghị quyết kêu gọi Nga chấm dứt chiến dịch quân sự đặc biệt tại Ukraine. Nghị quyết này do Ukraine đưa ra và được hơn 100 nước thành viên Liên hợp quốc bảo trợ, được thông qua với 140 phiếu thuận, 38 phiếu trắng và 05 phiếu chống (Công thông tin điện tử Chính phủ, 2022). Thực tế trên cho thấy, trong cuộc chiến truyền thông, dư luận quốc tế đa số vẫn lựa chọn ủng hộ Ukraine, kêu gọi tôn trọng luật pháp quốc tế vì hòa bình, ổn định và phát triển.
Với Việt Nam, công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ vẫn là một chặng đường dài, còn nhiều khó khăn. Vì vậy, Việt Nam cần đẩy mạnh truyền thông quốc tế, nhằm đề cao tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, bởi trong tổng số 193 quốc gia thành viên Liên hợp quốc có khoảng 2/3 là những nước vừa và nhỏ. Những nước này cũng giống như Việt Nam, khi tham gia sân chơi chung rất cần sự bảo hộ của luật pháp quốc tế trong bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. Thành công ở điểm này sẽ giúp Việt Nam tìm được tiếng nói chung, sự đồng thuận, ủng hộ nhằm bảo vệ độc lập, chủ quyền. Do vậy, có thể khẳng định, việc đẩy mạnh truyền thông, tận dụng dư luận quốc tế cũng luôn là công cụ hữu ích, đắc lực, hiệu quả, là đòn đánh trực diện lên tâm lý của đối phương.
Thứ tư, bài học về sự đoàn kết toàn dân trong bảo vệ Tổ quốc và tiếp tục thực hiện “ngoại giao cây tre”, chính sách quốc phòng “bốn không” nhằm duy trì hòa bình, độc lập, phát triển
Khi nhìn vào thực lực của hai bên tham chiến, rõ ràng Ukraine yếu hơn Nga. Tuy nhiên, sau 04 năm, Ukraine vẫn cầm cự chiến đấu và giành được những mục tiêu nhất định, vẫn đứng vững bảo vệ Tổ quốc. Điều này cho thấy, tham gia chiến đấu chống Nga không chỉ có chính quyền Kiev, quân đội, mà còn có cả dân tộc Ukraine cùng sự trợ giúp từ các nước phương Tây. Sự đoàn kết giữa các lực lượng này đã tạo nên sức mạnh to lớn về vật chất và tinh thần cho Ukraine.
Thực tế này cũng chứng minh quan điểm về nền quốc phòng toàn dân của Việt Nam là một trụ cột không thể thay thế. Công nghệ, xét cho cùng, cũng chỉ là đòn bẩy, con người mới là nhân tố cốt lõi. Chiến tranh hiện đại là chiến tranh sức bền, không phải chỉ là đánh nhanh, thắng nhanh nên rất cần sự đoàn kết, bền bỉ của cả dân tộc. Vì vậy, để bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, thời gian tới Việt Nam phải tiếp tục “củng cố nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân và nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân gắn với xây dựng thế trận lòng dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026).
Thông qua cuộc chiến, có thể khẳng định rõ hơn sự lựa chọn chính sách quốc phòng “bốn không” và “ngoại giao cây tre” của Việt Nam là đúng đắn. Trong một thế giới nhiều biến cố, sự gia tăng cạnh tranh chiến lược ngày càng gay gắt, không nên để quốc gia – dân tộc mình trở thành đấu trường của cuộc đọ sức giữa các nước lớn. Việt Nam là một quốc gia có địa chiến lược, địa kinh tế quan trọng nên luôn nằm trong vùng ảnh hưởng của các nước lớn, nhưng Việt Nam không chọn bên, không đi theo nước này chống lại nước kia mà chọn cân bằng, lẽ phải, công lý dựa trên luật pháp quốc tế. Việt Nam uyển chuyển, linh hoạt trong xử lý quan hệ với các cường quốc nhằm cân bằng và kiềm chế tham vọng của họ, tránh cho Việt Nam những nguy cơ chiến tranh như Ukraine. Bắt đầu một cuộc chiến đã khó nhưng để kết thúc chiến tranh còn khó hơn. Sự tài tình của nghệ thuật “ngoại giao cây tre” Việt Nam cho thấy lợi ích của quốc gia muốn được bảo đảm, chủ quyền muốn được giữ vững thì mọi lựa chọn đều phải xuất phát từ lý trí và trái tim của cả dân tộc biết trân quý hòa bình, biết nhu, biết cương, biết thời, biết thế.
4. Kết luận
Sau 04 năm, cuộc chiến Nga – Ukraine cho thấy rõ hơn những đặc điểm cốt lõi của chiến tranh hiện đại: sự giằng co chiến lược kéo dài, vai trò ngày càng lớn của công nghệ quân sự, nhất là UAV, tổn thất nặng nề về người và của, cũng như sự phức tạp trong tìm kiếm một giải pháp ngoại giao bền vững. Từ thực tiễn đó, Việt Nam có thể rút ra nhiều bài học quan trọng về tự chủ chiến lược, phát triển công nghiệp quốc phòng, tác chiến phi đối xứng, bảo vệ hạ tầng thiết yếu, chiến tranh thông tin, củng cố nền quốc phòng toàn dân và vận dụng sáng tạo đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ. Những bài học này có ý nghĩa thiết thực trong bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước./.

———————————————————

Ngày nhận bài: 06/4/2026; ngày thẩm định: 09/4/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Cổng thông tin điện tử Chính phủ (25/3/2022). Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua Nghị quyết thứ 2 liên quan đến Ukraine. https://baochinhphu.vn.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đăng Khôi (23/5/2025). Vai trò của UAV trong thay đổi cục diện chiến trường Nga – Ukraine. https://dantri.com.vn.
Học viện Chính trị Công an nhân dân (28/02/2026). Chiến sự giữa Nga và Ukraine – 4 năm nhìn lại. https://hvctcand.bocongan.gov.vn.
Nguyễn Đình Thiện, & Nguyễn Thị Hoài Thu (29/12/2022). Một góc nhìn về “Chiến dịch quân sự đặc biệt” của Nga tại Ukraine. https://hvctcand.edu.vn.
Phan Thị Thu Dung (2024). Một số lý giải về cuộc xung đột Nga – Ukraine hiện nay và tính toán chiến lược của các bên. https://www.tapchicongsan.org.vn.
Việt Dũng (14/7/2025). Tổng thống Putin nêu nguyên nhân mâu thuẫn giữa Nga và phương Tây. https://vietnamnet.vn.
Vũ Duy Thành (12/3/2026). Nhìn lại cuộc xung đột Nga – Ukraine và triển vọng phía trước. https://tapchiqptd.vn.

(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *