PGS, TS. NGUYỄN TẤN VINH
ThS. VŨ THỊ QUÝ
Học viện Chính trị khu vực II
Tóm tắt: Bài viết đề xuất một mô hình tăng trưởng kinh tế mới cho nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn tới với ba trụ cột chính được xác định gồm: “Green (Xanh) – Digital (Số) – Civilization (Văn minh) (GDC)”. Trên cơ sở lý thuyết kinh tế học hiện đại, thực tiễn phát triển kinh tế Việt Nam trong 40 năm đổi mới đất nước, trọng tâm là các điểm nghẽn trong mô hình hiện tại và các xu thế toàn cầu mang tính thời đại, bài viết làm rõ sự cần thiết phải đặt các vấn đề về chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và xây dựng thể chế, văn hóa, con người hướng tới tăng trưởng bao trùm và bền vững ở vị trí ba trụ cột chính trong mô hình tăng trưởng mới.
Từ khóa: chuyển đổi xanh; chuyển đổi số; mô hình tăng trưởng; tăng trưởng bao trùm
TOWARD A NEW GROWTH MODEL FOR VIETNAM: THEORETICAL AND PRACTICAL FOUNDATIONS
Abstract: This article proposes a new growth model for Vietnam in the forthcoming period, structured around three core pillars: Green, Digital, and Civilization. Drawing upon modern economic theory and Vietnam’s development experience over nearly four decades of Đổi Mới with particular emphasis on structural bottlenecks in the current growth model and emerging global megatrends, the study elucidates the necessity of positioning green transition, digital transformation, and the development of institutional, cultural, and human foundations conducive to inclusive and sustainable growth as the core pillars of the proposed model.
Keywords: green transformation; digital transformation; growth model; inclusive growth
1. Dẫn nhập
Mô hình tăng trưởng mục tiêu của Việt Nam được đề xuất xác lập dựa trên ba trụ cột cốt lõi là “Green (Xanh) – Digital (Số) – Civilization (Văn minh)” – gọi tắt là mô hình GDC. Nhóm tác giả đề xuất mô hình này dựa trên ba luận cứ: lý thuyết kinh tế học hiện đại, thực tiễn tổng kết 40 năm đổi mới mà trọng tâm là các điểm nghẽn của mô hình tăng trưởng hiện nay và các xu thế phát triển mới ở quy mô toàn cầu. Mục tiêu chiến lược của mô hình này là chuyển đổi từ tăng trưởng theo chiều rộng sang tăng trưởng theo chiều sâu, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính, nhằm đưa Việt Nam trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045.
Trụ cột “Xanh” được thiết kế nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững, giảm phát thải và chuyển đổi sang mô hình kinh tế có trách nhiệm với môi trường. Quan điểm “không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế” định hướng các chính sách hướng tới kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn. Việt Nam thúc đẩy tái cơ cấu sản xuất theo hướng hiện đại, sử dụng công nghệ sạch, giảm cường độ phát thải và mở rộng năng lượng tái tạo, như điện gió và điện mặt trời. Chuyển đổi xanh không chỉ góp phần bảo vệ môi trường, mà còn tạo lập các không gian tăng trưởng mới, nâng cao năng suất và khả năng cạnh tranh của nền kinh tế.
Trụ cột “Số” đóng vai trò then chốt trong việc giải quyết điểm nghẽn về năng suất lao động, mở rộng động lực tăng trưởng dựa trên khoa học, công nghệ. Việt Nam cần đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện trên cả ba phương diện: chính phủ số, kinh tế số và xã hội số. Cơ sở hạ tầng số, trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn và các nền tảng số là điều kiện để cải thiện hiệu quả quản trị, nâng cao năng suất và hình thành các mô hình kinh doanh mới. Đồng thời, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho các lĩnh vực, như AI, khoa học dữ liệu và bán dẫn, chính là yếu tố quyết định để chiếm lĩnh động lực từ lĩnh vực kinh tế số.
Trụ cột “Văn minh” nhấn mạnh vai trò của thể chế, văn hóa và con người trong bảo đảm tăng trưởng bao trùm và bền vững. Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng minh bạch, hiệu quả và kiến tạo phát triển là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, văn hóa được coi là nền tảng tinh thần và động lực nội sinh, là “tài nguyên”, là “sức mạnh mềm” để phát triển nhanh và bền vững; cần đưa văn hóa thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, trở thành hệ điều tiết hướng tới sự phát triển bền vững. Con người được đặt ở vị trí trung tâm, là động lực, mục tiêu và là chủ thể của quá trình phát triển. Việt Nam cần hướng tới xây dựng con người phát triển toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, có khát vọng cống hiến; giáo dục – đào tạo và khoa học, công nghệ là những quốc sách hàng đầu. Trụ cột này nhấn mạnh mục tiêu gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm phân bổ lợi ích hài hòa, hợp lý, nâng cao phúc lợi toàn dân.
2. Kết quả và thảo luận
2.1. Luận cứ xác lập mô hình GDC
Thứ nhất, luận cứ từ khung khổ lý thuyết kinh tế học hiện đại
Lý thuyết kinh tế hiện đại cung cấp cơ sở lý luận vững chắc cho việc lựa chọn các trụ cột chính của mô hình tăng trưởng mới của Việt Nam.
Một là, sự chuyển dịch lý thuyết tăng trưởng từ mô hình ngoại sinh sang nội sinh cho thấy các quốc gia có thể chủ động thúc đẩy tăng trưởng thông qua đầu tư vào khoa học, công nghệ và vốn nhân lực (vốn tri thức), thay vì chỉ dựa vào tích lũy vốn truyền thống. Các mô hình tân cổ điển ban đầu coi tiến bộ công nghệ là yếu tố ngoại sinh, ngụ ý rằng tăng trưởng bình quân đầu người dài hạn sẽ bị giới hạn bởi quy luật lợi suất giảm dần của vốn (Solow, 1956). Tuy nhiên, lý thuyết tăng trưởng nội sinh đã thay đổi luận điểm này, khẳng định rằng tri thức, vốn nhân lực và đổi mới công nghệ là các yếu tố nội sinh, có thể được tạo ra và duy trì thông qua các chính sách công (Romer, 1990). Theo đó, các quốc gia có thể chủ động thúc đẩy tăng trưởng thông qua đầu tư vào khoa học, công nghệ, nghiên cứu và phát triển (R&D) và nguồn nhân lực chất lượng cao. Luận điểm này được củng cố bởi lý thuyết kinh tế đổi mới sáng tạo, nơi quá trình “phá hủy sáng tạo” liên tục đóng vai trò là cơ chế để đạt được tăng trưởng nội sinh bền vững (Aghion & Howitt, 1992).
Hai là, thể chế đóng vai trò dẫn dắt, tạo môi trường thuận lợi để khuyến khích đổi mới sáng tạo. Các lý thuyết kinh tế thể chế hiện nay khẳng định rằng mô hình tăng trưởng hiệu quả phải đặt thể chế vào vị trí trung tâm, vượt ra ngoài khuôn khổ tích lũy yếu tố sản xuất đơn thuần. Lý thuyết của North cho rằng, chất lượng của thể chế (khung pháp lý, cơ chế bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, mức độ minh bạch) là nhân tố quyết định hiệu suất kinh tế (North, 1990). Thể chế hiệu quả giảm thiểu chi phí giao dịch và rủi ro chính sách, tạo ra môi trường thuận lợi để khuyến khích đầu tư dài hạn và đổi mới sáng tạo, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao. Hơn nữa, theo Acemoglu và Robinson, sự thịnh vượng của một quốc gia gắn liền với việc thiết lập thể chế kinh tế bao trùm, tạo điều kiện cho mọi thành phần xã hội tham gia và hưởng lợi từ các chính sách phát triển (Acemoglu & Robinson, 2013). Do đó, sự kết hợp thành công của các lý thuyết tăng trưởng nội sinh đòi hỏi một nền tảng thể chế vững chắc để dẫn dắt và điều phối các nỗ lực đổi mới.
Ba là, các chính sách phát triển phải tập trung đồng bộ vào cả mục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường. Quan điểm về tăng trưởng xanh lập luận rằng, việc chuyển đổi sang nền kinh tế carbon thấp và tăng cường bảo vệ môi trường có thể trở thành nguồn động lực tăng trưởng mới, chứ không phải là chi phí (Porter, 1991). Sự đồng bộ này củng cố nguyên tắc phát triển bền vững, bảo đảm thành quả tăng trưởng kinh tế nhờ công nghệ số không làm suy giảm vốn tự nhiên của các thế hệ tương lai, mà thay vào đó thúc đẩy sự hài hòa giữa phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường (Brundtland Commission, 1987).
Thứ hai, luận cứ từ những điểm nghẽn nội tại
Một là, tăng trưởng kinh tế vẫn chủ yếu phụ thuộc vào yếu tố truyền thống, khoa học, công nghệ chưa phải là động lực chính, dẫn đến hiệu quả đầu tư thấp và năng suất tăng chậm lại, nguy cơ rơi vào bẫy thu nhập trung bình. Giai đoạn đổi mới vừa qua, tốc độ tăng trưởng mỗi thập niên lại suy giảm so với thập niên trước (xem Bảng 1).
Bảng 1: Tăng trưởng GDP Việt Nam trung bình năm qua các giai đoạn
| Giai đoạn | Tăng trưởng GDP trung bình năm (%) |
| 1990 – 1999 | 7,42 |
| 2000 – 2009 | 6,65 |
| 2010 – 2019 | 6,58 |
| 2020 – 2024 | 5,22 |
| 2025 | 8,02 |
Nguồn: Dữ liệu thống kê từ Cục Thống kê và Ngân hàng thế giới
Nền kinh tế về cơ bản còn phát triển theo chiều rộng (đóng góp từ năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) dưới 50%), chủ yếu được thúc đẩy bởi lợi thế so sánh, chứ chưa phải nhờ tăng năng suất và hiệu quả; chuyển dịch sang phát triển theo chiều sâu dựa trên khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nguồn nhân lực chất lượng cao còn chậm (xem Bảng 2).
Bảng 2: Năng suất các nhân tố tổng hợp của Việt Nam qua các giai đoạn
| Giai đoạn | Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) (%) |
| 2011 – 2015 | 34,75 |
| 2016 – 2020 | 46,04 |
| 2021 – 2023 | 39,48 |
Nguồn: Dữ liệu thống kê từ Cục Thống kê
Rủi ro khi tăng trưởng phụ thuộc kéo dài vào các yếu tố truyền thống là mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình, trong khi các lợi thế của một nền kinh tế ở giai đoạn đầu phát triển (năng suất cận biên ở mức cao, dư địa phát triển rộng mở,…) sụt giảm nhưng không kịp thời tích lũy các lợi thế của một nền kinh tế tiên tiến, không thể bứt phá lên nền kinh tế năng suất cao, dựa trên đổi mới sáng tạo.
Hai là, thể chế phát triển, cơ chế, chính sách, khung pháp lý vẫn là một điểm nghẽn kéo dài, là “điểm nghẽn của điểm nghẽn”. Từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, Việt Nam đã chuyển mình theo nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Những thay đổi thể chế thuận theo các nguyên tắc thị trường đã và đang diễn ra cùng với sự phát triển của khu vực tư nhân, nhưng vẫn tồn tại những điểm nghẽn kéo dài trong thể chế kinh tế như hệ thống pháp luật chưa đồng bộ; nhiều quy định, cơ chế, chính sách và thủ tục hành chính còn tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp với thực tế, tạo rào cản lớn cho các hoạt động đầu tư và sản xuất, kinh doanh.
Cụ thể, về thể chế huy động, phân bổ, sử dụng các nguồn lực sản xuất còn bộc lộ nhiều yếu kém, đặc biệt trong huy động và phối hợp nguồn lực phát triển vùng, liên kết vùng, khiến nguồn lực quốc gia chưa được khơi thông hiệu quả. Về tổ chức và hoạt động của bộ máy hành chính còn chậm đổi mới, quyền lực quản lý vẫn tập trung nhiều ở cấp Trung ương, năng lực quản lý nhà nước về kinh tế chưa đáp ứng yêu cầu phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Mặc dù chỉ số Chính phủ hiệu quả (CGGI) của Việt Nam có sự cải thiện đáng kể, xếp hạng 48 năm 2025, tăng 12 bậc so với hạng 60 năm 2021 (Chandler Institute of Governance, 2025), nhưng trên thực tế, thực thi vẫn là khâu yếu. Sự chậm trễ trong việc hoàn thiện thể chế không chỉ gây lãng phí nguồn lực, mà còn làm gia tăng rủi ro pháp lý, gây ra tâm lý đùn đẩy, né tránh trong một bộ phận cán bộ, công chức, từ đó làm chậm nhịp độ phát triển chung của đất nước.
Ba là, chất lượng nguồn nhân lực hạn chế. Năng suất lao động của Việt Nam, dù có cải thiện với tốc độ khá ấn tượng (tăng trung bình 6,05%/năm trong giai đoạn 2016 – 2020), nhưng vẫn còn rất thấp so với các quốc gia trong khu vực và khoảng cách tuyệt đối có xu hướng gia tăng (Tổng cục Thống kê, 2023). Giai đoạn từ năm 2021 tới nay, tốc độ cải thiện năng suất lao động chậm lại đáng kể, thấp hơn mục tiêu được đặt ra trong Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2021 – 2030 (trên 6,5%/năm) (xem Bảng 3).
Bảng 3: Tăng trưởng năng suất lao động Việt Nam qua các năm
| Năm | Tăng trưởng NSLĐ (%/năm) |
| 2016 – 2020 | 6,05 |
| 2021 | 4,71 |
| 2022 | 4,8 |
| 2023 | 3,8-4,8 |
| 2024 | 5,56 |
| Mục tiêu 2021 – 2030 | >6,5 |
| Mục tiêu 2026 – 2030 | >8,5 |
Nguồn: Nhóm tác giả tổng hợp từ Văn kiện Đại hội lần thứ XIII, lần thứ XIV của Đảng
Theo số liệu của Cục Thống kê, tỉ lệ lao động qua đào tạo có bằng, chứng chỉ tính đến quý I/2026 là 29,6% (Cục Thống kê, 2026), đồng nghĩa với hơn 70% lực lượng lao động Việt Nam chưa được đào tạo để đạt trình độ chuyên môn kỹ thuật nào đó. Điều này có nghĩa lợi thế về quy mô, số lượng lao động dồi dào chưa được chuyển hóa hiệu quả thành đầu ra có giá trị cao. Trong khi đó, lợi thế về quy mô lao động (trong thời kỳ cơ cấu dân số vàng) và lợi thế về nguồn lao động dồi dào, giá rẻ đang dần giảm sút trong xu thế chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Hệ thống giáo dục và đào tạo chưa được đổi mới căn bản, toàn diện và đồng bộ. Chất lượng giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp có cải thiện nhưng chậm, còn khoảng cách xa so với các nước trong khu vực và trên thế giới. Hơn thế, chưa có cơ chế hiệu quả để phát huy động lực từ nhóm lao động tinh hoa, nhân tài đất nước. Có thể thấy, điểm nghẽn về chất lượng nguồn nhân lực tại Việt Nam hiện nay là tổng hợp từ các hạn chế, như thiếu hụt kỹ năng trình độ cao, hệ thống đào tạo chậm đổi mới và thiếu cơ chế trọng dụng nhân tài hiệu quả.
Bốn là, điểm nghẽn về năng lực nội tại của doanh nghiệp Việt Nam. Cụ thể, điểm nghẽn này thể hiện ở vai trò của doanh nghiệp trong hệ thống đổi mới sáng tạo, quy mô phát triển, năng lực quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Mặc dù số lượng doanh nghiệp tăng nhanh nhưng ở trạng thái “đông nhưng chưa mạnh”. Theo thống kê của Bộ Tài chính, tính đến đầu năm 2026, Việt Nam hiện có khoảng 01 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, trong đó doanh nghiệp nhỏ và vừa chiếm khoảng 97-98% tổng số doanh nghiệp (Thanh Hằng, 2026). Doanh nghiệp nội địa chưa thực sự trở thành trung tâm của hệ thống đổi mới sáng tạo, đầu tư cho khoa học và công nghệ còn hạn chế, khiến năng suất lao động và giá trị gia tăng thấp, đặc biệt khi đặt trong tương quan so sánh với doanh nghiệp FDI (xem Bảng 4).
Bảng 4: So sánh một số chỉ tiêu hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước giai đoạn 2016 – 2023
| Chỉ số | Doanh nghiệp FDI (%) | Doanh nghiệp nội địa (%) |
| ROA | 4,20 | 0,80 |
| ROE | 10,80 | 2,50 |
| ROS | 4,80 | 1,40 |
| Tỉ trọng lợi nhuận trước thuế trong tổng lợi nhuận của toàn bộ doanh nghiệp cả nước 44,5 26 | 44,5 | 26 |
Nguồn: Bộ Tài chính, Sách trắng Doanh nghiệp Việt Nam năm 2025
Bên cạnh đó, khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển còn bất bình đẳng, môi trường pháp lý và thủ tục hành chính chưa thuận lợi, làm suy giảm động lực mở rộng đầu tư dài hạn. Doanh nghiệp trong nước khó kết nối và lan tỏa với khu vực FDI, chưa tham gia sâu vào các khâu có giá trị gia tăng cao của chuỗi cung ứng toàn cầu. Những hạn chế này tạo thành “nút thắt” cản trở quá trình chuyển đổi mô hình tăng trưởng theo chiều sâu, làm cho nền kinh tế chưa phát huy được đầy đủ tiềm năng và lợi thế trong giai đoạn phát triển mới.
Năm là, vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu ngày càng trở nên thách thức hơn. Các vấn đề môi trường và biến đổi khí hậu đang gia tăng mức độ phức tạp và trở thành một trong những thách thức an ninh phi truyền thống nghiêm trọng nhất. Trong bối cảnh nhu cầu tài nguyên toàn cầu, đặc biệt từ các nền kinh tế mới nổi, tiếp tục tăng mạnh, cạnh tranh tài nguyên vốn đã gay gắt càng trở nên căng thẳng hơn. Biến đổi khí hậu làm gia tăng tần suất và cường độ của các hiện tượng thời tiết cực đoan, như bão, lũ, hạn hán, mưa lớn, nắng nóng và giông lốc, gây rủi ro diện rộng cho các ngành kinh tế, đặc biệt tại các khu vực dễ tổn thương, như duyên hải miền Trung, miền núi Bắc Bộ – Bắc Trung Bộ, đồng bằng Bắc Bộ và đồng bằng sông Cửu Long (Bộ Tài nguyên và Môi trường, 2021). Sự biến đổi khí hậu cũng làm suy giảm hệ sinh thái biển, đe dọa rạn san hô và rừng ngập mặn, đồng thời tác động tiêu cực đến nông nghiệp thông qua thay đổi cơ cấu sản xuất, gia tăng sâu bệnh và suy giảm năng suất, qua đó ảnh hưởng đến an ninh lương thực.
Ở cấp độ kinh tế – xã hội, biến đổi khí hậu làm suy yếu năng lực cạnh tranh của Việt Nam trong chuỗi cung ứng toàn cầu khi các ngành xuất khẩu chủ lực tập trung tại các vùng đồng bằng dễ bị ngập và xâm nhập mặn. Khu vực tài chính cũng đối mặt với rủi ro kép: rủi ro vật chất từ thiệt hại tài sản, gián đoạn hoạt động và rủi ro chuyển đổi khi doanh nghiệp phát thải cao chịu sức ép thị trường.
Thách thức môi trường càng trầm trọng do các hạn chế kéo dài trong quản lý và nhận thức. Hệ thống pháp luật và chính sách còn thiếu đồng bộ; năng lực dự báo – cảnh báo chưa đáp ứng yêu cầu; chiến lược thích ứng vẫn yếu so với yêu cầu thực tiễn. Tình trạng khai thác tài nguyên vì lợi ích ngắn hạn, ô nhiễm tại các khu công nghiệp và làng nghề, cùng ý thức cộng đồng về bảo vệ môi trường còn thấp tiếp tục làm suy giảm năng lực ứng phó. Ngoài ra, nguồn lực đầu tư cho bảo vệ môi trường và thích ứng biến đổi khí hậu vẫn còn hạn chế.
Thứ ba, luận cứ từ các xu thế thời đại
Trong bối cảnh chuyển dịch sâu rộng của kinh tế toàn cầu, Việt Nam đang định hình một mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở phát huy sức mạnh thời đại từ hai xu thế có tính nền tảng: chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Đây là hai xu hướng mang tính tất yếu nhằm vượt qua giới hạn của mô hình tăng trưởng truyền thống và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững.
Một là, xu thế chuyển đổi số
Chuyển đổi số là quá trình tích hợp công nghệ số vào mọi khía cạnh hoạt động, định hình lại cách thức doanh nghiệp vận hành và tương tác với khách hàng. Kinh tế số đang phát triển rất mạnh mẽ. Theo Báo cáo Xu hướng kinh tế số năm 2026 do Tổ chức Hợp tác kỹ thuật số (DCO) công bố, nền kinh tế số toàn cầu đang phát triển nhanh và đóng vai trò ngày càng lớn trong cấu trúc kinh tế toàn cầu. Báo cáo dự báo quy mô kinh tế số sẽ đạt khoảng 28.000 tỉ USD vào năm 2026, chiếm 22% tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu, với tốc độ tăng trưởng ước tính đạt gần 9,5% mỗi năm – vượt trội so với các ngành truyền thống khác (Digital Cooperation Organization, 2025). Những số liệu này cho thấy, kinh tế số không chỉ mở rộng về quy mô mà còn là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng kinh tế toàn cầu. Các yếu tố then chốt trong nền kinh tế số toàn cầu bao gồm ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn, thương mại điện tử và các nền tảng số hóa doanh nghiệp. Những công nghệ này không chỉ thay đổi phương thức sản xuất – kinh doanh, mà còn tạo ra các mô hình kinh tế mới, mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, tăng hiệu quả hoạt động và thúc đẩy đổi mới sáng tạo trên diện rộng. Độ tích hợp ngày càng sâu của công nghệ số vào các lĩnh vực truyền thống, như chăm sóc sức khỏe, giáo dục và bán lẻ, không chỉ tạo ra giá trị kinh tế mới, mà còn mở ra các cơ hội tái cấu trúc mô hình tăng trưởng. Mức độ sẵn sàng của mỗi quốc gia trong ứng dụng các công nghệ là khác nhau, dẫn đến khoảng cách về năng lực số giữa các nền kinh tế phát triển và đang phát triển.
Hai là, xu thế chuyển đổi xanh
Tăng trưởng xanh, chuyển đổi xanh đã trở thành ưu tiên hàng đầu của hầu hết các quốc gia trên thế giới để hướng tới phát triển bền vững dài hạn. Tăng trưởng xanh là chiến lược nhằm đạt tăng trưởng kinh tế đồng thời giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường, nhấn mạnh việc sử dụng tài nguyên có trách nhiệm và hiệu quả. Kinh tế tuần hoàn là mô hình tối ưu hóa việc sử dụng tài nguyên, giảm thiểu chất thải và kéo dài vòng đời sản phẩm, giúp tài nguyên lưu chuyển lâu dài hơn trong nền kinh tế. Việt Nam đã nhận thức rõ tầm quan trọng, thể hiện qua việc ban hành Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, cùng với cam kết đạt phát thải ròng bằng 0 (Net Zero) vào năm 2050. Để thúc đẩy các mục tiêu này, Việt Nam cần hoàn thiện khung pháp lý, tăng cường phối hợp liên ngành, huy động đầu tư từ xã hội, ứng dụng khoa học, công nghệ và nâng cao nhận thức cộng đồng.
2.2. Các nhóm giải pháp đột phá cho mô hình GDC
Thứ nhất, đối với trụ cột “Xanh”
Một là, Nhà nước cần có những hỗ trợ ban đầu để khuyến khích doanh nghiệp chuyển đổi xanh. Những hỗ trợ này không nhất thiết phải là những hỗ trợ trực tiếp, làm méo mó thị trường, mà có thể thông qua những chính sách hỗ trợ gián tiếp như bảo lãnh tín dụng, xây dựng cơ chế chia sẻ rủi ro với doanh nghiệp trong các hạng mục “đầu tư xanh”,…
Hai là, doanh nghiệp xuất khẩu là những doanh nghiệp chịu áp lực xanh hóa lớn nhất từ phía các thị trường tiêu chuẩn cao, như EU. Những doanh nghiệp này đứng trước lựa chọn buộc phải xanh hóa để giữ và mở rộng thị trường hoặc mất các đơn hàng. Nguồn lực hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi xanh cần tập trung hơn vào các doanh nghiệp xuất khẩu để phát huy tối ưu động lực xanh hóa của nhóm doanh nghiệp này.
Thứ hai, đối với trụ cột “Số”
Một là, cần đột phá trong hệ thống dữ liệu lớn. Trong kỷ nguyên số, dữ liệu lớn trở thành tài nguyên cốt lõi và Việt Nam đã tích cực số hóa dữ liệu, nhưng các nguồn dữ liệu hiện đang ở trạng thái phân mảnh. Vì vậy, cần nhanh chóng liên thông các hệ thống dữ liệu để tạo ra nguồn dữ liệu lớn. Dữ liệu có quy mô đủ lớn mới bảo đảm đầu vào hiệu quả cho các ứng dụng trí tuệ nhân tạo. Cần thiết lập các nguyên tắc dữ liệu, như “một dữ liệu chỉ khai một lần”, “không nộp đi nộp lại một thông tin”, “không xác nhận nhiều tầng”,… giúp giảm lãng phí nguồn lực, tiết kiệm chi phí giao dịch, gia tăng tốc độ, tăng chu chuyển nguồn lực.
Hai là, đối với các dữ liệu công về quy hoạch, giao thông, đất đai, dân cư, doanh nghiệp, tài chính công,… cần mạnh dạn mở rộng việc chia sẻ truy cập cho người dân và doanh nghiệp, đồng thời gia cố hàng rào kiểm soát rủi ro và bảo vệ an toàn dữ liệu.
Thứ ba, đối với trụ cột “Văn minh”
Cần triển khai mạnh mẽ cơ chế bảo vệ người dám nghĩ, dám làm, dám quyết đúng vì lợi ích chung. Các sự việc chưa được pháp luật quy định thì người có thẩm quyền quyết định cần dựa vào hồ sơ, ý kiến tập thể, công khai, minh bạch để lựa chọn quyết định tối ưu. Bên cạnh đó, cần bóc tách và làm rõ những sai phạm trong thực tế là do tiêu cực, tham nhũng hay do thử nghiệm chính sách. Cần chuyển kỳ vọng kiểm soát rủi ro tuyệt đối sang quản trị rủi ro có giới hạn, trong đó, người thực thi được bảo vệ khi hành động đúng quy trình, minh bạch và vì lợi ích chung.
Bứt phá năng suất lao động dựa trên phát huy thế mạnh văn hóa, con người Việt Nam, như tinh thần hiếu học, siêng năng, linh hoạt, sáng tạo, đoàn kết cộng đồng…, khắc phục tâm lý ngại va chạm, thiếu kỷ luật lao động. Cần phát triển năng lực người học gắn với kỹ năng số, tư duy xanh, chủ động thích ứng và sẵn sàng chuyển đổi. Giáo dục và đào tạo phải trở thành hệ sinh thái phục vụ học tập suốt đời, khuyến khích tinh thần đổi mới sáng tạo. Phát huy động lực dẫn dắt của nhân tài trong các lĩnh vực thông qua cơ chế phát hiện, trọng dụng, trao quyền và tạo hiệu ứng lan toả tri thức, từ đó, chuyển hoá vốn con người thành lợi thế trong tăng trưởng xanh và số.
3. Kết luận
Dựa trên các luận cứ ở góc độ lý luận và thực tiễn nội tại nền kinh tế qua 40 năm đổi mới, các xu hướng toàn cầu mang tính chất thời đại, mô hình tăng trưởng mục tiêu của Việt Nam trong giai đoạn mới được xây dựng trên sự kết hợp hài hòa của ba trụ cột: Xanh – Số – Văn minh. Ba trụ cột này không tồn tại tách rời mà tương hỗ lẫn nhau, tạo thành nền tảng cho một nền kinh tế hiện đại, hiệu quả, bền vững và bao trùm, giúp Việt Nam tận dụng các xu hướng phát triển toàn cầu, đồng thời xử lý các hạn chế nội tại, hướng tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển trong các thập niên tới. Đặc biệt, “Xanh” cần phải đẩy nhanh tốc độ, “Số” cần phải đẩy mạnh liên thông và “Văn minh” cần gắn với năng lực thực thi của bộ máy và vai trò nêu gương, dẫn dắt của lực lượng lãnh đạo, quản lý trong bộ máy nhà nước. Sự vận hành đồng điệu của ba trụ cột “Xanh – Số – Văn minh” kỳ vọng sẽ phát huy những nội lực tiềm tàng, chiếm lĩnh những xu hướng của thời đại và tạo động lực mạnh mẽ cho Việt Nam trong kỷ nguyên mới./.
Ngày nhận bài: 07/02/2026; ngày thẩm định: 10/02/2026; ngày duyệt đăng: 27/4/2026
Email liên hệ: [email protected]
——————————————————–
Tài liệu tham khảo
Aghion, P., & Howitt, P (1992). A model of growth through creative destruction. Econometrica, 60(2), 323-351.
Bộ Tài nguyên và Môi trường (2021). Kịch bản biến đổi khí hậu. Nxb Tài nguyên, Môi trường và Bản đồ Việt Nam.
Brundtland Commission (1987). Our common future. Oxford University Press.
Chandler Institute of Governance (2025). The Chandler Good Government Index 2025. https://chandlergovernmentindex.com.
Cục Thống kê (2026). Thông cáo báo chí về tình hình lao động, việc làm quý I năm 2026. https://www. nso.gov.vn
Digital Cooperation Organization (2025). Digital Economy Trends 2026 report. https://det.dco.org.
Thanh Hằng (2026, ngày 12/3). Kinh tế tư nhân và yêu cầu hình thành những doanh nghiệp lớn (Bài 3): Hỗ trợ doanh nghiệp “vượt ngưỡng” nhỏ. Tạp chí Kinh tế – Tài chính online. https://tapchikinhtetaichinh.vn.
North, D. C (1990). Institutions, institutional change and economic performance. Cambridge University Press.
Porter, M. E (1991). America’s Green Strategy. Scientific American, 264 (4), 168.
Romer, P. M (1990). Endogenous technological change. Journal of Political Economy, 98(5, Part 2), S71-S102.
Solow, R. M (1956). A contribution to the theory of economic growth. The Quarterly Journal of Economics, 70(1), 65-94.
Tổng cục Thống kê (2023). Năng suất lao động của Việt Nam giai đoạn 2011 – 2020: Thực trạng và giải pháp. https://www.nso.gov.vn.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 03/2026)
