CÔNG TÁC XÓA MÙ CHỮ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI HIỆN NAY

CÔNG TÁC XÓA MÙ CHỮ CHO ĐỒNG BÀO DÂN TỘC THIỂU SỐ TẠI THÀNH PHỐ ĐỒNG NAI HIỆN NAY

TS. TRẦN THỊ THÚY VÂN
Học viện Chính trị khu vực II

ThS. LÊ THỊ HIẾU
Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt: Xóa mù chữ là điều kiện quan trọng để bảo đảm quyền học tập, nâng cao dân trí và mở rộng cơ hội phát triển của người dân. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, công tác xóa mù chữ hiện nay không chỉ dừng lại ở việc trang bị kỹ năng đọc, viết và tính toán cơ bản mà cần gắn với phát triển sinh kế, nâng cao năng lực số và khả năng tiếp cận các dịch vụ xã hội. Bài viết phân tích thực trạng công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đồng Nai và Bình Phước trước sáp nhập, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện chính sách, đổi mới tuyên truyền, tổ chức lớp học linh hoạt, nâng cao chất lượng đội ngũ và gắn xóa mù chữ với kỹ năng số, sinh kế và học tập suốt đời.
Từ khóa: công tác xóa mù chữ; dân tộc thiểu số; thành phố Đồng Nai
ILLITERACY ERADICATION FOR ETHNIC MINORITY COMMUNITIES IN DONG NAI CITY TODAY
Abstract: Literacy eradication is an important condition for ensuring the right to education, improving educational attainment, and expanding development opportunities for citizens. For ethnic minority communities, literacy eradication today should not be limited to providing basic reading, writing, and numeracy skills, but should also be linked to livelihood development, digital competence, and access to social services. This article examines the current state of literacy eradication among ethnic minority communities in the former provinces of Dong Nai and Binh Phuoc prior to their administrative merger. On that basis, it proposes several solutions to improve relevant policies, renew communication and mobilization activities, organize flexible classes, enhance the quality of teaching personnel, and connect literacy eradication with digital skills, livelihoods, and lifelong learning.
Keywords: illiteracy eradication; ethnic minorities; Dong Nai City

1. Đặt vấn đề
Quyền học tập và tiếp cận giáo dục được ghi nhận trong các văn kiện quốc tế về quyền con người, trong đó xóa mù chữ là điều kiện quan trọng để hiện thực hóa quyền này. Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc (UNESCO) nhấn mạnh mục tiêu phát triển bền vững 4.6 (SDG 4.6): đến năm 2030, bảo đảm thanh thiếu niên và một tỉ lệ đáng kể người lớn đạt được năng lực đọc, viết và tính toán chức năng. UNESCO cũng chỉ ra “biết chữ” là nền tảng của học tập suốt đời, tạo cơ hội tham gia thị trường lao động tốt hơn, giảm nghèo, cải thiện sức khỏe gia đình và mở rộng cơ hội sống (UNESCO, 2026). Đảng Cộng sản Việt Nam luôn khẳng định giáo dục là “quốc sách hàng đầu” và là nhân tố quyết định tương lai của dân tộc. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên vươn mình với những yêu cầu cấp bách về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, công tác giáo dục nói chung và xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số không chỉ là trách nhiệm của Nhà nước, mà còn là nhiệm vụ chính trị chiến lược nhằm củng cố nội lực và tăng cường sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc.
Công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số là tổng thể các hoạt động của các cơ quan nhà nước và cộng đồng, do Đảng lãnh đạo nhằm giúp người chưa biết chữ hoặc tái mù chữ hình thành, duy trì kỹ năng đọc, viết và tính toán. Theo Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24/3/2014 của Chính phủ về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ, đối tượng xóa mù chữ là “đối tượng từ 15 đến 60 tuổi chưa biết chữ hoặc tái mù chữ” (Chính phủ, 2014). Công tác này bao gồm 05 nội dung trọng tâm sau: (1) chủ trương, định hướng; (2) xây dựng hệ thống thể chế, chính sách hỗ trợ đặc thù; (3) triển khai các hoạt động tuyên truyền, vận động người dân; (4) tổ chức triển khai thực hiện; (5) thiết lập cơ chế phối hợp liên ngành, kiểm tra, giám sát để bảo đảm tính thực chất. Đồng Nai là một địa bàn chiến lược của vùng Đông Nam Bộ với đặc thù đa dạng về thành phần dân tộc. Vì vậy, công tác xóa mù chữ cần được triển khai đồng bộ, hướng tới chuyển từ hoàn thành chỉ tiêu xóa mù chữ sang hình thành, duy trì kỹ năng đọc, viết, tính toán và năng lực số; qua đó mở rộng cơ hội, việc làm và phát triển sinh kế bền vững cho đồng bào dân tộc thiểu số trong bối cảnh phát triển mới. Việc nghiên cứu thực trạng, những khó khăn và đề xuất giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố có ý nghĩa lý luận và thực tiễn quan trọng.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quán triệt quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về giáo dục, công tác dân tộc, phát triển nguồn nhân lực và xây dựng xã hội học tập trong giai đoạn hiện nay. Việc nghiên cứu công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số tại thành phố Đồng Nai được tiếp cận dưới góc độ chính sách công và quản trị phát triển, đặt trong mối quan hệ giữa bảo đảm quyền học tập, nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực và thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững. Nghiên cứu được thực hiện theo cách tiếp cận liên ngành giữa chính trị học, quản lý công, giáo dục học và công tác dân tộc nhằm bảo đảm tính toàn diện trong đánh giá và đề xuất giải pháp.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Thực trạng công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng Nai
3.1.1. Kết quả đạt được trong công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số
Thứ nhất, quán triệt sâu rộng các chủ trương, quan điểm chỉ đạo của Đảng đến các cấp ủy ở địa phương
Cấp ủy và chính quyền địa phương đã thể hiện quyết tâm chính trị cao bằng việc kịp thời cụ thể hóa các chỉ đạo của Trung ương. Điển hình là việc quán triệt Kết luận số 65-KL/TW ngày 30/10/2019 của Bộ Chính trị “về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX về công tác dân tộc trong tình hình mới”; Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”; Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 05/01/2024 của Bộ Chính trị “về công tác phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ cho người lớn và đẩy mạnh phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông”; Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”,… Quán triệt các chỉ đạo của Trung ương, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai đã lãnh đạo, chỉ đạo công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số. Cụ thể, ban hành Kế hoạch số 402-KH/TU ngày 07/11/2024 nhằm triển khai Chỉ thị số 29-CT/TW, tập trung vào các giải pháp phổ cập và xóa mù chữ trên địa bàn và Kế hoạch số 255-KH/TU ngày 08/5/2024 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bình Phước (cũ), làm nền tảng để thực hiện công tác xóa mù chữ tại các vùng biên giới và vùng dân tộc thiểu số trước khi sáp nhập. Trên cơ sở đó, yêu cầu các cấp ủy đảng tăng cường chỉ đạo thực tiễn, vận động, tuyên truyền để mọi công dân, trong đó có đồng bào dân tộc thiểu số hoàn thành nghĩa vụ học tập, chú trọng xóa mù chữ, trang bị kỹ năng thiết yếu để phát triển các vùng khó khăn, biên giới.
Thứ hai, về xây dựng hệ thống chính sách hỗ trợ đặc thù
Trên cơ sở quan điểm chỉ đạo của Đảng, các chính sách của Chính phủ, bộ ngành, thành phố đã lồng ghép nội dung xóa mù chữ vào việc thực hiện Quyết định số 1719/QĐ-TTg ngày 14/10/2021 “Phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021 – 2030, giai đoạn 1: từ năm 2021 đến năm 2025” và Nghị quyết số 257/2025/QH15 ngày 11/12/2025 của Quốc hội “Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2035” (Chương trình tích hợp). Trên cơ sở đó, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 424/NQ-CP ngày 30/12/2025 “ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 257/2025/QH15 của Quốc hội”. Mới đây, Thủ tướng Chính phủ ban hành Chỉ thị số 22/CT-TTg ngày 22/5/2026 “về đẩy nhanh tiến độ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo bền vững và phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2026 – 2030” (Chương trình tích hợp),… Những quyết sách lớn này đều có sự lồng ghép các nội dung liên quan đến giáo dục, xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số.
Về xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1373/QĐ-TTg ngày 30/7/2021 “Phê duyệt Đề án “Xây dựng xã hội học tập giai đoạn 2021 – 2030””; Quyết định số 1716/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ “Phê duyệt Chương trình nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2030”; Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 06/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ “Ban hành Kế hoạch thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 05 tháng 01 năm 2024 của Bộ Chính trị về công tác phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ cho người lớn và đẩy mạnh phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông đến năm 2030”; Nghị quyết số 249/2025/QH15 ngày 10/12/2025 của Quốc hội “Phê duyệt chủ trương đầu tư Chương trình mục tiêu quốc gia hiện đại hóa, nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo giai đoạn 2026 – 2035”, tập trung nguồn vốn chuẩn hóa và hiện đại hóa hệ thống giáo dục.
Để triển khai các chính sách của Trung ương và bộ ngành, Đồng Nai đã ban hành Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐND ngày 17/7/2024 của Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai “về quy định nội dung, mức chi hỗ trợ tham gia học xoá mù chữ giai đoạn 2021 – 2025” (Đồng Nai cũ) và Kế hoạch số 113/KH-UBND ngày 26/03/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh “về triển khai thực hiện Quyết định số 1716/QĐ-TTg ngày 31/12/2024 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Chương trình nâng cao năng lực và hiệu quả hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng các xã vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi đến năm 2030 trên địa bàn tỉnh Đồng Nai (Đồng Nai cũ), tập trung nâng cao hiệu quả trung tâm học tập cộng đồng vùng đồng bào dân tộc thiểu số nhằm đẩy mạnh học tập suốt đời. Đặc biệt, Kế hoạch số 160/KH-UBND ngày 06/11/2025 của Ủy ban nhân dân tỉnh “về triển khai thực hiện Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 06/3/2025 của Thủ tướng Chính phủ về thực hiện Chỉ thị số 29-CT/TW ngày 05/01/2024 của Bộ Chính trị về công tác phổ cập giáo dục, giáo dục bắt buộc, xóa mù chữ cho người lớn và đẩy mạnh phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông đến năm 2030” trên địa bàn tỉnh Đồng Nai được áp dụng thống nhất trên địa bàn thành phố Đồng Nai, thay thế cho các kế hoạch cũ của cả Đồng Nai và Bình Phước, nhằm thống nhất chỉ đạo xóa mù chữ trên toàn tỉnh mới đến năm 2030.
Thứ ba, về công tác tuyên truyền, vận động
Thành phố Đồng Nai đã linh hoạt đa dạng hóa phương thức tuyên truyền, chủ động phối hợp với Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, lực lượng biên phòng, đặc biệt là phát huy tốt vai trò nòng cốt của già làng, người có uy tín trong cộng đồng dân tộc thiểu số để vận động học viên ra lớp. Các hoạt động này được lồng ghép hiệu quả trong các phong trào thi đua của địa phương được triển khai đồng bộ từ cấp thành phố đến cơ sở nhằm động viên từng học sinh ở thôn, ấp, hộ gia đình đến lớp. Địa phương cũng xây dựng các cơ chế hỗ trợ, động viên, khuyến khích già làng, người có uy tín trong đồng bào dân tộc thiểu số tiếp tục tham gia vào công tác này. Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐND đã quy định mức chi hỗ trợ trực tiếp 100.000 đồng/người học cho những cá nhân làm công tác tuyên truyền, huy động người mù chữ, tái mù chữ đến các lớp học. Có thể thấy, công tác tuyên truyền, vận động đã góp phần làm thay đổi nhận thức của người dân, từ đó công tác xóa mù chữ cho người dân vùng dân tộc thiểu số đã có những chuyển biến tích cực về nhận thức, hành động và đạt được một số kết quả tích cực.
Thứ tư, về kết quả tổ chức thực hiện
Trên cơ sở các văn bản chỉ đạo và các kế hoạch đã được ban hành, chính quyền địa phương thành lập tổ triển khai mô hình lớp học linh hoạt, không bó buộc giờ hành chính, đặt tại nhà văn hóa ấp, nhà dân phù hợp với đặc thù lao động để đồng bào thuận lợi tham gia học tập. Cơ sở vật chất tại các trung tâm học tập cộng đồng được đầu tư cơ bản, có văn phòng điều hành, máy tính kết nối internet và có tủ sách, thư viện cộng đồng. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong tổ chức giảng dạy được đẩy mạnh, sử dụng tài liệu điện tử và bài giảng số giúp học viên có thể tiếp cận bài học linh hoạt mọi lúc, mọi nơi. Về nguồn nhân lực, bên cạnh đội ngũ giáo viên tiểu học kiêm nhiệm là lực lượng nòng cốt, tỉnh đã huy động sự tham gia của cán bộ các sở, ban, ngành, lực lượng vũ trang (quân đội, công an) và nhà giáo nghỉ hưu, sinh viên tình nguyện, già làng, người có uy tín. Nguồn kinh phí của công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số được bảo đảm ổn định từ ngân sách địa phương và Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số (Chương trình 1719).
Quá trình triển khai các chính sách xóa mù chữ trên địa bàn thành phố đã đạt được những thành tựu nhất định. Về tổng thể, tỉ lệ người dân tộc thiểu số trên địa bàn biết chữ ngày càng tăng. Năm 2023, nhóm từ 15 đến 25 tuổi người dân tộc thiểu số có tỉ lệ biết chữ rất cao, chiếm 98,20% so với tổng số người biết chữ trong vùng dân tộc thiểu số, đến năm 2024 tỉ lệ này tăng lên là 98,79%; nhóm từ 15 đến 35 tuổi người dân tộc thiểu số có tỉ lệ biết chữ 95,30%, năm 2024 tăng lên là 95,51%; nhóm từ 15 đến 60 tuổi, năm 2023, người dân tộc thiểu số tỉ lệ biết chữ 86,11% và năm 2024 tăng lên là 86,65%. Với kết quả này, có thể khẳng định, tỉnh Đồng Nai đã duy trì vững chắc chuẩn xóa mù chữ mức độ 02 trên toàn địa bàn (Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai, 2025).
Như vậy, công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số ở thành phố Đồng Nai luôn được các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và đoàn thể chính trị – xã hội quan tâm, cụ thể hóa vào nhiệm vụ chính trị của địa phương, lồng ghép vào việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, góp phần quan trọng vào việc nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, thúc đẩy nhanh công tác giảm nghèo, phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số.
Thứ năm, về cơ chế phối hợp, kiểm tra giám sát
Các cơ quan giáo dục đã kịp thời, chủ động phối hợp với Sở Tài chính bố trí chế độ, kinh phí và hướng dẫn cấp kinh phí hoạt động cho người dạy, người học để vận hành các lớp xóa mù chữ. Sở Giáo dục và Đào tạo đã thể hiện tốt vai trò chủ trì, phối hợp với Sở Nội vụ rà soát, bố trí ổn định đội ngũ cán bộ, giáo viên đáp ứng yêu cầu; phối hợp Sở Dân tộc và Tôn giáo, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các cấp hội đoàn thể (Hội Khuyến học, Hội Nông dân) và lực lượng Bộ đội Biên phòng để vận động đồng bào dân tộc thiểu số đến lớp học. Sự phối hợp này đã gắn trách nhiệm cụ thể của các bên liên quan, từ đó nâng cao hiệu quả và duy trì kết quả một cách thực chất. Ngoài ra, Sở Giáo dục và Đào tạo đã tích cực, chủ động phối hợp với Ủy ban nhân dân các cấp, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, đồn Biên phòng và các đơn vị liên quan phát triển được mạng lưới đông đảo các báo cáo viên, cộng tác viên. Hoạt động giám sát, kiểm tra cũng được thực hiện thường xuyên nhằm nâng cao tính hiệu quả trong công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số.
3.1.2. Một số hạn chế trong công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số ở Đồng Nai
Một là, nhận thức của một bộ phận cấp ủy cơ sở chưa sâu sắc về sự chuyển đổi xóa mù chữ trong giai đoạn hiện nay gắn với cơ hội tìm kiếm việc làm, kỹ năng, phát triển sinh kế. Một bộ phận đồng bào dân tộc thiểu số chưa nhận thức đầy đủ về sự cần thiết của việc học, thiếu ý thức tự lực vươn lên trong học tập. Đặc biệt, đồng bào cũng chưa thấy rõ sự liên kết giữa việc biết chữ và cải thiện sinh kế.
Hai là, công tác tuyên truyền, vận động người dân mù chữ đến lớp hiệu quả chưa cao, chính sách hỗ trợ cho người làm công tác tuyên truyền, vận động người mù chữ đi học còn khiêm tốn, chưa tạo được động lực (Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai, 2025).
Ba là, mô hình tổ chức lớp, bố trí lớp học xóa mù chữ chủ yếu diễn ra vào ban đêm (lúc họ cần nghỉ ngơi sau một ngày dài lao động), nên đã ảnh hưởng trực tiếp đến tỉ lệ đi học và duy trì sĩ số của lớp học. Đa số người chưa biết chữ là lao động chính trong gia đình, sống rải rác ở các thôn, ấp và thuộc hộ khó khăn nên không chủ động bố trí thời gian để tham gia các lớp xóa mù chữ. Bên cạnh đó, địa bàn rộng, vùng sâu, vùng xa, biên giới, có sự biến động dân cư mạnh, tỉ lệ mù chữ khác nhau theo thôn/ấp, dân tộc, độ tuổi khiến việc mở lớp và tổ chức học gặp khó khăn. Việc bố trí nhân lực chưa đồng bộ, hầu hết đội ngũ giáo viên làm công tác xóa mù chữ hiện nay đều là kiêm nhiệm. Các chính sách khuyến khích đối với cá nhân, tổ chức tham gia công tác xóa mù chữ không có chế độ ổn định, cụ thể (Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai, 2025).
Bốn là, nguồn lực kinh phí thực hiện phụ thuộc chủ yếu vào ngân sách nhà nước, đặc biệt là Chương trình 1719. Chính sách khuyến khích chưa đủ sức tạo ra sự bứt phá để thay đổi tư duy học tập của đồng bào và cũng chưa tạo được động lực cho đội ngũ tham gia giảng dạy. Cụ thể, người học được hỗ trợ 36.000 đồng/buổi/học viên (tỉnh Đồng Nai cũ) (Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai, 2024) hoặc 500.000 đồng/người/khi hoàn thành chương trình một kỳ học (tỉnh Bình Phước cũ) (Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước, 2023).
Năm là, cơ sở vật chất, phương tiện học tập và phần mềm phục vụ phổ cập giáo dục, xóa mù chữ còn hạn chế, công tác quản lý dữ liệu ở vùng sâu, vùng xa còn bất cập. Hiện nay, hệ thống dữ liệu vẫn chủ yếu dừng lại ở khâu thống kê báo cáo thủ công, chưa có sự kết nối liên thông số hóa từ cấp xã đến thành phố, dẫn đến khó khăn trong công tác dự báo, xây dựng chính sách và theo dõi quá trình học tập suốt đời của người dân.
Sáu là, công tác giám sát còn gặp khó khăn khi hệ thống dữ liệu số về xóa mù chữ vùng dân tộc thiểu số chưa cập nhật kịp thời, thiếu sự kết nối liên thông để dự báo và theo dõi quá trình học tập suốt đời của người dân. Kết quả cho thấy, tỉ lệ mù chữ trong người dân tộc thiểu số vẫn còn cao. Xét trên một số địa bàn tại các xã Bù Gia Mập, Đăk Ơ, Hưng Phước, số người dân tộc thiểu số mù chữ/tổng số người mù chữ trong độ tuổi từ 15 đến 60 chiếm tỉ lệ từ 44% đến 94% tổng số người mù chữ tại các địa bàn được giám sát. Cụ thể, tại xã Bù Gia Mập, tỉ lệ mù chữ người dân tộc thiểu số chiếm 94%/tổng số người mù chữ; xã Đăk Ơ, tỉ lệ mù chữ là 89,4%/tổng số người mù chữ; xã Hưng Phước là 44%/tổng số người mù chữ (Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai, 2025). Như vậy, tại khu vực biên giới, vùng sâu, vùng xa, tỉ lệ người dân tộc thiểu số mù chữ vẫn còn cao, đặt ra là thách thức đối với công tác xóa mù chữ cho địa phương trong thời gian tới.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số ở thành phố Đồng Nai
Thứ nhất, tăng cường công tác lãnh đạo và xây dựng cơ chế, chính sách trong công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số
Trong bối cảnh tái cấu trúc địa bàn hành chính và thực hiện chính quyền hai cấp, trên cơ sở những văn bản chỉ đạo của Đảng, các cấp ủy địa phương cần tiếp tục quán triệt các chỉ đạo về công tác dân tộc nói chung và định hướng phát triển kinh tế – xã hội vùng dân tộc thiểu số nói riêng, trong đó có nội dung giáo dục và xóa mù chữ cho đồng bào. Trên cơ sở nền tảng chuyển đổi số, dữ liệu số, cơ quan quản lý nhà nước cần tiếp tục rà soát, hệ thống hóa toàn bộ văn bản chính sách liên quan đến công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số để xây dựng một cơ chế thống nhất, áp dụng đồng bộ trên toàn địa bàn, tránh chồng chéo hay khoảng trống chính sách. Cần ban hành các chính sách đặc thù nhằm nâng mức hỗ trợ cho người học, lực lượng tham gia công tác xóa mù chữ tại các địa bàn đặc biệt khó khăn và vùng biên giới để tạo động lực cho người học và lực lượng tham gia giảng dạy, gắn khen thưởng, động viên nhằm tạo sức lan tỏa. Tăng cường, bảo đảm nguồn lực tài chính ổn định, kịp thời cũng như đổi mới cơ chế phân bổ nguồn lực. Cơ quan tài chính cần thiết kế phân bổ tài chính theo nguyên tắc rõ ràng, đúng đối tượng, đúng hoạt động, đúng thời điểm nhưng phải linh hoạt trong bố trí và sử dụng để phù hợp với địa bàn dân tộc thiểu số, tránh phân bổ bình quân, có hệ số ưu tiên theo mức độ khó khăn, khó khăn đặc thù nhằm bảo đảm công bằng thực chất giữa các địa bàn.
Thứ hai, nâng cao nhận thức về công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số
Cần thống nhất nhận thức về vai trò của công tác xóa mù chữ đối với đồng bào dân tộc thiểu số. Đội ngũ cán bộ, công chức phải chuyển từ tư duy “mở lớp” sang hình thành “năng lực dùng chữ chức năng”, giúp đồng bào chủ động tìm kiếm cơ hội, phát triển năng lực và hội nhập xã hội. Công tác xóa mù chữ cho đồng bào không phải là hoạt động hỗ trợ hay chỉ tiêu mang tính ngắn hạn, mà là trách nhiệm, nghĩa vụ bảo đảm quyền được xóa mù chữ theo hướng bảo đảm quyền học tập suốt đời. Bên cạnh đó, cần nâng cao nhận thức cho đồng bào dân tộc thiểu số, hướng tới việc hình thành năng lực đọc, viết chức năng để tham gia các lĩnh vực đời sống và hội nhập xã hội. Công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ liên ngành và trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, nằm trong tổng thể thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về phát triển kinh tế – xã hội, nâng cao dân trí, giảm nghèo bền vững, phát triển nguồn nhân lực gắn với phát triển kinh tế – xã hội, củng cố vững chắc quốc phòng, an ninh của thành phố Đồng Nai.
Thứ ba, đổi mới công tác tuyên truyền, vận động người dân tham gia học xóa mù chữ
Các địa phương cần tuyên truyền thường xuyên, phù hợp với ngôn ngữ, văn hóa, điều kiện lao động và hoàn cảnh của đồng bào dân tộc thiểu số. Nội dung tuyên truyền phải làm rõ lợi ích thiết thực của việc biết chữ đối với phát triển sinh kế, chăm sóc sức khỏe, thực hiện thủ tục hành chính và tiếp cận dịch vụ công. Cần phát huy vai trò của già làng, trưởng ấp, người có uy tín, chức sắc tôn giáo, các đoàn thể và lực lượng vũ trang trong vận động người dân đến lớp. Đồng thời, kết hợp tuyên truyền trực tiếp với hệ thống truyền thanh, sinh hoạt cộng đồng và nền tảng số; kịp thời hỗ trợ người học gặp khó khăn nhằm hạn chế bỏ học và tái mù chữ.
Thứ tư, nâng cao hiệu quả tổ chức thực hiện công tác xóa mù chữ
Tổ chức lớp học linh hoạt theo đối tượng người học. Đối tượng xóa mù chữ là người lớn, phải tham gia lao động sản xuất, chăm lo gia đình nên lớp học cần được tổ chức linh hoạt, để hạn chế tình trạng bỏ học. Cần đa dạng mô hình tổ chức lớp về thời gian, địa điểm: lớp ban đêm, lớp cuối tuần, tại các cụm dân cư, nhà văn hóa thôn ấp, có hỗ trợ phù hợp cho nhóm khó đến lớp thường xuyên. Bên cạnh đó, cần thiết kế nội dung học tập gắn với nhu cầu thực tiễn của người học, như đọc hiểu các giấy tờ hành chính, sản xuất, buôn bán, cách sử dụng điện thoại và sử dụng dịch vụ công ở địa phương. Cần phát huy vai trò của các lực lượng nòng cốt, cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang, cán bộ hưu trí và những người có uy tín ở cơ sở. Bên cạnh ngân sách địa phương và kinh phí từ Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số, cần huy động thêm các nguồn lực từ xã hội hóa hợp pháp. Tiếp tục phối hợp liên ngành và trong hệ thống chính trị để tạo ra cơ chế vận hành nhịp nhàng, gắn trách nhiệm nhằm nâng cao hiệu quả của công tác xóa mù chữ.
Thứ năm, tăng cường kiểm tra, giám sát công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số
Kiểm tra, giám sát trước hết phải được thể chế hóa thông qua việc đưa chỉ tiêu xóa mù chữ vào tiêu chí thi đua của các địa phương để thúc đẩy trách nhiệm chính trị của người đứng đầu cấp ủy và chính quyền cơ sở, bảo đảm công tác giám sát được thực hiện thường xuyên, có trọng tâm trong kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của địa phương. Cơ quan quản lý nhà nước tham mưu Ủy ban nhân dân thành phố lập các đoàn kiểm tra để đánh giá thực trạng, từ đó điều chỉnh chính sách và tháo gỡ các “điểm nghẽn” kịp thời. Chú trọng thiết kế cơ chế giám sát sau khóa học, bao gồm kiểm tra khả năng duy trì kỹ năng đọc, viết và tính toán của học viên sau khi hoàn thành chương trình và giám sát việc xây dựng môi trường thực hành chữ viết tại cộng đồng để bảo đảm học viên có điều kiện sử dụng kiến thức đã học vào sinh kế, tránh tình trạng “mù chữ chức năng”. Đồng thời, phát huy vai trò giám sát, phản biện của cộng đồng thông qua Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, những người có uy tín, chức sắc tôn giáo và đặc biệt là lực lượng biên phòng tại địa bàn biên giới. Đây chính là kênh giám sát cộng đồng hiệu quả, giúp bảo đảm tính bền vững của công tác xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số trên địa bàn thành phố Đồng Nai.
4. Kết luận
Xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số tại thành phố Đồng Nai là một cam kết chính trị về sự công bằng, bình đẳng và tương trợ giúp nhau phát triển. Trước khi sắp xếp đơn vị hành chính, tỉnh Đồng Nai và tỉnh Bình Phước (nay là thành phố Đồng Nai) đã chủ động, kịp thời xây dựng khung thể chế, phân công trách nhiệm rõ ràng và tổ chức thực hiện ngày càng đồng bộ, chặt chẽ, nghiêm túc, quyết liệt; huy động được sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Tuy nhiên, thách thức của giai đoạn mới trong bối cảnh thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp, với sự biến động dân cư, yêu cầu chuyển đổi số và nguy cơ mù chữ đòi hỏi thành phố Đồng Nai phải có những bước chuyển mình mạnh mẽ hơn để tiếp tục nâng chất lượng bảo đảm quyền được xóa mù chữ cho đồng bào dân tộc thiểu số theo hướng thực chất và bền vữngq
Ngày nhận bài: 28/5/2026; Ngày thẩm định: 01/6/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email liên hệ: [email protected]

———————————–
Tài liệu tham khảo
Ban Dân tộc tỉnh Đồng Nai (2025). Báo cáo số 291/BC-BDT ngày 29/9/2025 về kết quả giám sát công tác xóa mù chữ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số.
Chính phủ (2014). Nghị định số 20/2014/NĐ-CP ngày 24/3/2014 về phổ cập giáo dục, xóa mù chữ.
Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước (2023). Nghị quyết số 30/NQ-HĐND ngày 08/12/2023 về quy định nội dung và mức chi hỗ trợ cho người dân vùng đồng bào dân tộc thiểu số tham gia học xóa mù chữ theo Chương trình mục tiêu quốc gia phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2021-2030, giai đoạn I: từ năm 2021 đến năm 2025 trên địa bàn tỉnh Bình Phước.
Hội đồng nhân dân tỉnh Đồng Nai (2024). Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐND ngày 17/7/2024 về quy định nội dung, mức chi hỗ trợ tham gia học xóa mù chữ giai đoạn 2021-2025.
UNESCO (2026). Target 4.6: Ensure all youth and adults achieve literacy and numeracy. https://www.unesco.org
Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai (2025). Quyết định số 1024/QĐ-UBND ngày 01/4/2025 về việc công nhận kết quả phổ cập giáo dục, xóa mù chữ năm 2024 của các huyện, thành phố trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. 

(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *