TIẾP DÂN, ĐỐI THOẠI VỚI DÂN GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐẢNG QUA THỰC TIỄN MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ(*)

TIẾP DÂN, ĐỐI THOẠI VỚI DÂN GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐẢNG QUA THỰC TIỄN MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ(*)

TS. Nguyễn Thị Thảo
Học viện Chính trị khu vực II

(*) Bài viết trong khuôn khổ Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2025-2026: “Phát huy vai trò của nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua thực tiễn một số tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ hiện nay”, mã số: B.25-06 do TS. Nguyễn Thị Thảo làm chủ nhiệm.

Tóm tắt: Tiếp dân, đối thoại với dân là phương thức để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Thông qua tiếp dân, đối thoại với dân, cấp ủy, chính quyền lắng nghe ý kiến, phản ánh, kiến nghị của Nhân dân; thực hiện trách nhiệm giải trình; kiểm nghiệm tính đúng đắn của chủ trương, chính sách; phát hiện những hạn chế, khuyết điểm trong hoạt động của các cấp ủy, chính quyền và cán bộ, đảng viên. Trên cơ sở phân tích tài liệu, thống kê mô tả kết quả khảo sát 300 người dân và 200 chủ thể có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu, tổ chức thực hiện, kết hợp nghiên cứu một số trường hợp ở vùng Đông Nam Bộ, bài viết làm rõ kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong thực hiện tiếp dân, đối thoại với dân, từ đó đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện góp phần xây dựng Đảng trong bối cảnh mới.
Từ khóa: Đông Nam Bộ; đối thoại với dân; tiếp dân; xây dựng Đảng

CITIZEN RECEPTION AND DIALOGUE AS A CONTRIBUTION TO PARTY BUILDING: EVIDENCE FROM SELECTED LOCALITIES IN VIET NAM’S SOUTHEAST REGION

Abstract: Citizen reception and dialogue with the people constitute an important mechanism through which the people exercise their right to mastery and participate in building a clean and strong Party and political system. Through citizen reception and dialogue, Party committees and government authorities listen to the people’s opinions, concerns, and recommendations; fulfill their accountability obligations; assess the soundness of guidelines and policies; and identify limitations and shortcomings in the performance of Party committees, government authorities, cadres, and Party members. Drawing on document analysis, descriptive statistics from surveys of 300 residents and 200 officials responsible for leadership, direction, advisory work, and implementation, together with selected case studies in Viet Nam’s Southeast Region, this article examines the achievements, limitations, and underlying causes in the implementation of citizen reception and dialogue with the people. On that basis, it proposes solutions to improve the effectiveness of these activities and thereby contribute to Party building in the new context.
Keywords: Southeast Region; dialogue with the people; citizen reception; Party building

1. Đặt vấn đề
Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, là trung tâm và chủ thể của công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đồng thời là nguồn sức mạnh và cơ sở xã hội của sự lãnh đạo của Đảng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Nhân dân giúp xây dựng Đảng bằng cách: Hiểu rõ Đảng, ủng hộ Đảng, hưởng ứng những lời kêu gọi của Đảng, ra sức cho Đảng rõ tình hình trong nhân dân, đối với công tác của Đảng thì thật thà phê bình và nêu ý kiến của mình” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.280-281). Để phát huy vai trò đó, Đảng phải tin dân, dựa vào dân, tạo điều kiện để Nhân dân thảo luận, góp ý và “dựa vào ý kiến của dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.337).
Nhân dân xây dựng Đảng thông qua các phương thức: góp ý trực tiếp; giám sát, phản biện xã hội; tiếp xúc cử tri; hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; báo chí, truyền thông; các nền tảng số; tiếp dân và đối thoại với dân. Trong đó, tiếp dân, đối thoại với dân giúp cấp ủy, chính quyền, người đứng đầu nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, ý kiến đóng góp của Nhân dân, đồng thời tạo cơ chế để Nhân dân giám sát, phản biện, kiểm soát quyền lực và tham gia xây dựng, tổ chức thực hiện đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng vừa là yêu cầu để Nhân dân thực hiện quyền làm chủ, vừa là điều kiện nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức đảng, hiệu quả hoạt động của chính quyền và củng cố mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân.
Thời gian qua, Đảng đã ban hành nhiều văn bản để phát huy vai trò của Nhân dân như: Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị “về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân”; Kết luận số 215-KL/TW ngày 23/11/2025 của Bộ Chính trị “về việc sửa đổi, bổ sung Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị “về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân””. Đây là cơ sở chính trị quan trọng để xác định trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cấp ủy, thời gian tiếp dân, quan hệ phối hợp và yêu cầu theo dõi kết quả xử lý. Bên cạnh đó, Luật Tiếp công dân năm 2013 quy định trách nhiệm tiếp công dân; quyền, nghĩa vụ của người đến khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh; việc tổ chức hoạt động tiếp công dân tại các cơ quan, đơn vị và điều kiện bảo đảm cho hoạt động tiếp công dân (Quốc hội, 2013).
Đông Nam Bộ là vùng có tốc độ đô thị hóa, công nghiệp hóa nhanh, lực lượng lao động nhập cư đông, tập trung nhiều khu công nghiệp, dự án hạ tầng, giao thông và đô thị quy mô lớn. Quá trình phát triển của vùng Đông Nam Bộ phát sinh nhiều vấn đề liên quan đến đất đai, bồi thường, tái định cư, việc làm, môi trường, an sinh xã hội, thủ tục hành chính và quan hệ lao động. Thực tiễn đó đặt ra yêu cầu đối với công tác xây dựng Đảng nói chung, trong đó có việc tiếp dân, đối thoại với dân để giải quyết những kiến nghị, phản ánh cụ thể, đồng thời là phương thức để cấp ủy kiểm nghiệm chủ trương, nhận diện khuyết điểm của tổ chức và cán bộ, củng cố niềm tin và tạo đồng thuận xã hội.
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận, kết quả khảo sát và một số trường hợp thực tiễn, bài viết phân tích tình hình thực hiện, những đóng góp, hạn chế và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân trong xây dựng Đảng ở vùng Đông Nam Bộ hiện nay. Tiếp dân, đối thoại với dân chỉ thực sự góp phần xây dựng Đảng khi ý kiến của Nhân dân được chuyển hóa thành căn cứ để hoàn thiện và tổ chức thực hiện chủ trương, kiểm tra, đánh giá cán bộ.
2. Tổng quan và phương pháp nghiên cứu
Các nghiên cứu về phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng đã đề cập đến nhiều nội dung, như giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, thực hiện dân chủ ở cơ sở, trách nhiệm nêu gương và mối quan hệ giữa Đảng với Nhân dân. Tuy nhiên, việc nghiên cứu về tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân như một phương thức để Nhân dân tham gia xây dựng Đảng vẫn là một khoảng trống cần tiếp tục được làm rõ, nhất là trong bối cảnh tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp và chuyển đổi số.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu; thống kê mô tả; so sánh và nghiên cứu trường hợp. Nguồn tài liệu thứ cấp gồm các quy định của Đảng, văn bản pháp luật, báo cáo của một số cấp ủy địa phương (trước sáp nhập) và các công trình nghiên cứu liên quan đến tiếp dân, đối thoại, tiếp công dân, giải quyết phản ánh, kiến nghị. Dữ liệu sơ cấp được khai thác từ kết quả khảo sát của Đề tài khoa học cấp Bộ năm 2026, gồm 300 phiếu của người dân và 200 phiếu của nhóm chủ thể có trách nhiệm lãnh đạo, chỉ đạo, tham mưu hoặc tổ chức thực hiện việc phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng. Các chỉ báo được đo bằng thang Likert 5 mức: điểm trung bình từ 3,41 đến 4,20 được xác định ở mức khá, từ 4,21 đến 5,00 ở mức tốt, tỉ lệ tích cực là tổng tỉ lệ lựa chọn ở mức 4 và mức 5. Các phương pháp trên được sử dụng để làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả tiếp dân, đối thoại với dân góp phần xây dựng Đảng ở vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh mới.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Tiếp dân, đối thoại với dân là yêu cầu khách quan và phương thức phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng
Tiếp dân theo Quy định số 11-QĐi/TW là trách nhiệm chính trị của người đứng đầu cấp ủy trong lắng nghe, tiếp nhận và chỉ đạo xử lý phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân. Tiếp công dân là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền theo pháp luật nhằm tiếp nhận, phân loại và xử lý khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của Nhân dân. Đối thoại với dân có phạm vi rộng hơn tiếp dân, tiếp công dân, được tổ chức theo vụ việc, chuyên đề, nhóm đối tượng hoặc địa bàn. Các hình thức này khác nhau về chủ thể và cơ sở điều chỉnh nhưng đều gắn quyền phản ánh của Nhân dân với trách nhiệm lắng nghe, giải trình và xử lý của tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Thông qua tiếp dân, đối thoại với dân, cấp ủy, chính quyền và cán bộ lãnh đạo, quản lý trực tiếp nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, những vấn đề bức xúc và ý kiến góp ý, phản ánh của Nhân dân đối với tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và hoạt động của hệ thống chính trị. Tiếp dân, đối thoại với dân góp phần xây dựng Đảng thể hiện ở: (1) kiểm nghiệm chủ trương và nhận diện hạn chế trong tổ chức thực hiện; (2) phục vụ kiểm tra, giám sát, đánh giá cán bộ; (3) tăng trách nhiệm giải trình; (4) củng cố quan hệ giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân. Như vậy, tiếp dân, đối thoại với dân không chỉ là hoạt động tiếp nhận, xử lý phản ánh, kiến nghị, mà còn là một phương thức dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng.
3.2. Tình hình thực hiện tiếp dân, đối thoại với dân ở vùng Đông Nam Bộ
Một là, việc cụ thể hóa trách nhiệm tiếp dân, đối thoại với dân
Thời gian qua, các cấp ủy ở vùng Đông Nam Bộ (trước sáp nhập) đã quán triệt và cụ thể hóa Quy định số 11-QĐi/TW phù hợp với thực tiễn của từng địa phương. Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh ban hành nhiều văn bản lãnh đạo, chỉ đạo công tác tiếp dân, đối thoại với dân như: Quyết định số 935-QĐ/TU ngày 27/4/2017 “về ban hành Quy chế tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, người đứng đầu chính quyền với Nhân dân”; Quyết định số 936-QĐ/TU ngày 28/4/2017 “Quy định trách nhiệm của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức tiếp thu góp ý của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền”, Quyết định số 994-QĐ/TU ngày 25/5/2017 về “Quy chế lấy ý kiến Nhân dân thông qua Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và các cơ quan liên quan góp ý các chủ trương, chính sách của cấp ủy và chính quyền các cấp trước khi ban hành” và Quy định số 2405-QĐ/TU ngày 07/7/2019 “về trách nhiệm của Bí thư Thành ủy, bí thư quận ủy, huyện ủy và bí thư đảng ủy xã, phường, thị trấn trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân”. Ban Thường vụ Tỉnh ủy Bà Rịa – Vũng Tàu ban hành Quy định số 03-QĐ/TU ngày 07/5/2021 “về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý, giải quyết những phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo của dân” và Quy định số 18-QĐ/TU ngày 30/3/2023 “về việc tiếp công dân và tiếp nhận, xử lý đơn, thư phản ánh, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo gửi đến Tỉnh ủy”; Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai ban hành Quyết định số 1716-QĐ/TU ngày 01/10/2019 “về việc ban hành nội quy tiếp công dân của đồng chí Bí thư Tỉnh ủy tại địa điểm tiếp công dân”,… Các văn bản này đã từng bước cụ thể hóa trách nhiệm tiếp dân, đối thoại với dân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, xác định trách nhiệm của người đứng đầu, các cơ quan chuyên trách tham mưu, thời gian, địa điểm, quy trình tiếp nhận và xử lý phản ánh kiến nghị của Nhân dân. Các văn bản cũng thể hiện sự liên hệ giữa đối thoại, tiếp thu ý kiến góp ý, lấy ý kiến trước khi ban hành chủ trương, chính sách và xử lý thông tin liên quan đến tổ chức, cán bộ. Qua đó, tiếp dân, đối thoại với dân cung cấp thông tin cho công tác xây dựng Đảng.
Tuy nhiên, mức độ cụ thể hóa chưa đồng đều giữa các địa phương. Một số văn bản chưa xác định rõ thời hạn chuyển xử lý, trách nhiệm phản hồi, hình thức công khai và cách xử lý khi cơ quan được giao nhiệm vụ chậm thực hiện. Hoạt động tiếp dân của bí thư cấp ủy, hoạt động tiếp công dân của chủ tịch ủy ban nhân dân, ban tiếp công dân và cơ quan thanh tra có nơi chưa được phân định rõ ràng, dẫn đến trùng lặp hoặc không rõ trách nhiệm. Điều này cũng được thể hiện qua kết quả khảo sát với 39,5% nhóm chủ thể cho rằng việc cụ thể hóa chủ trương ở một số nơi còn chung chung; 41% người dân cho rằng cơ chế tiếp nhận, phản hồi chưa đủ rõ và chưa ràng buộc trách nhiệm (Nguyễn Thị Thảo, 2026).
Hai là, quy mô, nội dung, hình thức tiếp dân, đối thoại với dân
Thực tiễn Thành phố Hồ Chí Minh cho thấy, hoạt động tiếp xúc, đối thoại được tổ chức với quy mô tương đối lớn. Trong giai đoạn 2013 – 2023, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp đã tổ chức 8.076 cuộc tiếp xúc, đối thoại và tiếp thu 48.456 lượt ý kiến góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. Thành phố còn duy trì hội nghị nhân dân định kỳ và nhiều diễn đàn như “Dân hỏi – Chính quyền trả lời”, “Lắng nghe và trao đổi”, đối thoại với doanh nghiệp, trẻ em và các nhóm xã hội khác (Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 2023). Tại Đồng Nai, trong giai đoạn 2019 – 2023, người đứng đầu cấp ủy thực hiện 3.657 cuộc tiếp dân định kỳ với 3.667 lượt người. Trong đó, Bí thư Tỉnh ủy thực hiện 44 cuộc với 48 lượt người; bí thư huyện ủy, thành ủy thực hiện 468 cuộc với 471 lượt người; bí thư cấp xã thực hiện 3.145 cuộc với 3.148 lượt người. Cấp ủy các cấp tổ chức 575 cuộc tiếp đột xuất với 600 lượt người (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai, 2024).
Nội dung tiếp dân tập trung chủ yếu vào các phản ánh, kiến nghị liên quan đến bồi thường, giải tỏa, hỗ trợ tái định cư, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thực tiễn này cho thấy, bên cạnh tiếp dân tại trụ sở, một số địa phương đã triển khai đối thoại theo vấn đề, theo nhóm đối tượng và sử dụng nền tảng số để hỗ trợ tiếp nhận thông tin.
Hình thức tiếp dân, đối thoại với dân ngày càng đa dạng, gồm tiếp dân định kỳ, tiếp đột xuất, đối thoại theo chuyên đề, đối thoại tại khu dân cư, khu công nghiệp, khu tái định cư, hiện trường dự án và hội nghị nhân dân. Một số địa phương kết hợp tiếp dân trực tiếp và các kênh trực tuyến để hỗ trợ đăng ký, gửi phản ánh và cung cấp thông tin. Ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu (cũ), một số mô hình như “Ngày thứ Bảy lắng nghe dân nói” đã tạo không gian để cấp ủy, chính quyền gần dân, nghe dân và giải quyết vấn đề ngay từ cơ sở (Nguyễn Thị Thảo, 2023a, 2023b). Kết quả khảo sát cho thấy, các kênh đối thoại trực tiếp được đánh giá tương đối tích cực. Hội nghị nhân dân, sinh hoạt khu phố, ấp đạt điểm trung bình 3,68; gặp trực tiếp cán bộ để góp ý, phản ánh đạt 3,65; tiếp xúc thông qua đại biểu Hội đồng nhân dân, đại biểu Quốc hội đạt 3,64. Các kênh số như hòm thư, đường dây nóng, cổng thông tin điện tử và nền tảng số đạt 3,51 điểm (Nguyễn Thị Thảo, 2026).
Kết quả khảo sát đối với 300 người dân cho thấy, người đứng đầu cấp ủy, chính quyền gần dân, tiếp dân, đối thoại với dân, chịu trách nhiệm trước dân được đánh giá cao với 4,10 điểm và 84,3% ý kiến đánh giá tích cực (xem Biểu đồ 1). Kết quả này cho thấy người dân đánh giá khá tích cực việc phát huy vai trò của Nhân dân thông qua tiếp dân, đối thoại với dân.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc lãnh đạo, chỉ đạo và tổ chức hoạt động tiếp dân, đối thoại với dân chưa đồng đều giữa các cấp, các địa phương. Tại một số nơi trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, số ngày tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy chưa đạt yêu cầu, nhất là ở cấp xã; một số vụ việc chưa được giải quyết dứt điểm ngay từ cơ sở, dẫn đến khiếu nại, khiếu kiện vượt cấp, kéo dài; công tác phối hợp giữa các sở, ban, ngành và địa phương có lúc, có việc chưa chặt chẽ (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai, 2024). Kết quả khảo sát cũng cho thấy, còn 15,7% số nguười được khảo sát chưa đánh giá tích cực về hoạt động tiếp dân, đối thoại với dân của người đứng đầu (Nguyễn Thị Thảo, 2026). Ở một số nơi, hoạt động đối thoại còn mang tính hình thức, chưa gắn với kiểm tra trách nhiệm, sửa chữa khuyết điểm và theo dõi kết quả sau đối thoại.
Ba là, việc tiếp nhận ý kiến, giải quyết những phản ánh, kiến nghị của Nhân dân
Việc tiếp nhận ý kiến, giải quyết phản ánh, kiến nghị của Nhân dân có sự chuyển biến. Tại Thành phố Hồ Chí Minh, nhiều ý kiến của Nhân dân thông qua hội nghị, tiếp xúc, đối thoại, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội được tổng hợp, chuyển đến cấp ủy, chính quyền, cơ quan chức năng. Việc tiếp thu, trả lời kiến nghị đã có chuyển biến; một số ý kiến được nghiên cứu, đưa vào văn kiện đại hội đảng bộ, chương trình phát triển và kế hoạch chấn chỉnh hoạt động của tổ chức, cá nhân trong hệ thống chính trị (Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, 2023). Tại Đồng Nai, trong 05 năm thực hiện Quy định số 11-QĐi/TW, thường trực các cấp ủy tiếp nhận 10.741 đơn, gồm 5.328 đơn ở cấp tỉnh, 3.544 đơn ở cấp huyện và 1.869 đơn ở cấp xã. Qua quá trình giải quyết khiếu nại, tố cáo, các cơ quan có thẩm quyền kiến nghị xử lý 11 tập thể và 92 cá nhân có sai phạm; đã xử lý 11 tập thể và 59 cá nhân, tiếp tục xem xét xử lý 33 cá nhân. Các cấp ủy, chính quyền đã tham gia giải quyết ổn định 40/69 vụ tranh chấp, khiếu kiện phức tạp, đông người; trong đó có 12/16 vụ phức tạp, kéo dài, có nguy cơ phát sinh thành điểm nóng (Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai, 2024). Những kết quả này cho thấy, việc tiếp nhận thông tin của Nhân dân có liên hệ với hoạt động xem xét trách nhiệm, xử lý sai phạm và giải quyết các vụ việc phức tạp.
Kết quả khảo sát 300 người dân cho thấy, việc tiếp nhận, phản hồi và xử lý ý kiến, kiến nghị nhìn chung được đánh giá khá tích cực, với điểm trung bình chung đạt 4,02/5. Trong đó, mức độ thuận tiện của nơi tiếp nhận và sự rõ ràng trong phản hồi cùng đạt 4,05 điểm; việc ghi nhận đầy đủ ý kiến đạt 4,04 điểm (xem Biểu đồ 2).
Tuy nhiên, 25% người dân được hỏi cho biết từng gặp tình trạng đã góp ý nhưng chậm được trả lời hoặc không được trả lời. Chỉ báo về trả lời kiến nghị kịp thời và công khai kết quả cùng đạt 3,99 điểm. Theo nhóm chủ thể, chỉ báo theo dõi việc thực hiện kết luận đạt 3,90 điểm. Kết quả khảo sát hai nhóm cho thấy, điểm nghẽn không chỉ nằm ở khâu tiếp nhận mà còn ở việc theo dõi, xác định trách nhiệm và chứng minh kết luận đã được thực hiện. Bên cạnh đó, 11% người được khảo sát cho biết chưa từng gặp trực tiếp cán bộ để góp ý, phản ánh; 10% chưa từng nêu ý kiến tại hội nghị nhân dân hoặc sinh hoạt khu phố, ấp (Nguyễn Thị Thảo, 2026).

Biểu đồ 1: Đánh giá của người dân về trách nhiệm tiếp dân, đối thoại với dân của người đứng đầu
(N = 300, thang đo: 1-5)

TIẾP DÂN, ĐỐI THOẠI VỚI DÂN GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐẢNG QUA THỰC TIỄN MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ(*)

Nguồn: Nguyễn Thị Thảo (2026), kết quả khảo sát của Đề tài khoa học cấp Bộ
Các nội dung trên cho thấy, các cấp ủy ở vùng Đông Nam Bộ đã từng bước cụ thể hóa các quy định của Trung ương, duy trì hoạt động tiếp dân, đối thoại với dân thường xuyên, nội dung gắn với những vấn đề thiết thực và hình thức ngày càng đa dạng. Nhiều phản ánh, kiến nghị đã được xem xét, giải quyết, góp phần ổn định tình hình, chấn chỉnh trách nhiệm của một số tổ chức, cá nhân và tăng cường mối liên hệ giữa cấp ủy, chính quyền với Nhân dân.

Biểu đồ 2: Đánh giá của người dân về tiếp nhận, phản hồi và xử lý kiến nghị của Nhân dân (N=300, thang đo: 1-5)

TIẾP DÂN, ĐỐI THOẠI VỚI DÂN GÓP PHẦN XÂY DỰNG ĐẢNG QUA THỰC TIỄN MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG Ở VÙNG ĐÔNG NAM BỘ(*)
Nguồn: Nguyễn Thị Thảo (2026), kết quả khảo sát của Đề tài khoa học cấp Bộ
Tuy nhiên, việc tiếp dân, đối thoại với dân chưa đồng đều giữa các địa phương; quy trình phản hồi, công khai và theo dõi kết luận còn hạn chế; khả năng tiếp cận của một số nhóm dân cư chưa cao. Một số người đứng đầu cấp ủy ở xã chưa bảo đảm số ngày tiếp dân theo quy định. Tác động của hoạt động tiếp dân, đối thoại với dân đến công tác xây dựng Đảng còn mờ nhạt. Theo kết quả khảo sát, người dân đánh giá tích cực về đóng góp của việc phát huy vai trò của Nhân dân đối với xây dựng Đảng. Tuy nhiên, các báo cáo của các địa phương cho thấy, nội dung phản ánh, kiến nghị tập trung nhiều vào đất đai, bồi thường, tái định cư và quyền lợi trực tiếp; các ý kiến phản ánh đối với hoạt động của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên còn hạn chế. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là phải nâng cao chất lượng đối thoại và khả năng chuyển hóa ý kiến của Nhân dân thành kết quả cụ thể trong công tác xây dựng Đảng.
Những hạn chế trên xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ về hoạt động tiếp dân, đối thoại với dân góp phần xây dựng Đảng; năng lực đối thoại, giải trình và xử lý kiến nghị, phản ánh của một bộ phận cán bộ còn hạn chế; tiêu chí đánh giá chưa đầy đủ; cơ chế bảo vệ người phản ánh chưa được thực hiện đồng bộ; hạ tầng và quy trình quản trị dữ liệu giữa các cơ quan chưa đồng bộ.
3.3. Một số giải pháp để thực hiện tốt việc tiếp dân, đối thoại với dân góp phần xây dựng Đảng ở vùng Đông Nam Bộ
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định tiếp dân, đối thoại với dân là một trong những nội dung thực hiện nhiệm vụ, giải pháp về tăng cường công tác dân vận, thắt chặt và làm sâu sắc hơn mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng: “Tăng cường công tác tiếp công dân, tiếp xúc, đối thoại trực tiếp giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền các cấp với Nhân dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng, giải quyết kịp thời những bức xúc, kiến nghị chính đáng của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.396). Để phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng, cần thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp, trong đó có giải pháp tiếp tục thực hiện tốt việc tiếp dân, đối thoại với dân. Cụ thể:
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế và quy trình tiếp dân, đối thoại với dân phù hợp với mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Các tỉnh ủy, thành ủy ở vùng Đông Nam Bộ cần rà soát, sửa đổi quy chế tiếp dân của người đứng đầu cấp ủy phù hợp với Quy định số 11-QĐi/TW và Kết luận số 215-KL/TW. Quy chế cần xác định rõ lịch tiếp dân, cách đăng ký, thành phần phối hợp, thẩm quyền xử lý, thời hạn chuyển hồ sơ, hình thức phản hồi và trách nhiệm theo dõi kết luận. Ở cấp xã, lịch tiếp dân phải được công khai bằng nhiều hình thức, có hướng dẫn dễ hiểu và đầu mối hỗ trợ người dân. Những vấn đề vượt thẩm quyền phải được chuyển đúng cơ quan và thông báo rõ cho người phản ánh, tránh tình trạng chuyển đơn nhiều lần nhưng không xác định được chủ thể chịu trách nhiệm cuối cùng. Mỗi phản ánh cần có mã theo dõi, đầu mối xử lý, thời hạn và trạng thái thực hiện. Việc kết nối dữ liệu phải tuân thủ thẩm quyền, phân quyền truy cập và yêu cầu bảo mật của từng hệ thống.
Thứ hai, xây dựng quy chế, quy định đánh giá trách nhiệm cá nhân và năng lực đối thoại của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền. Cần quy định cụ thể về đánh giá trách nhiệm của người đứng đầu, gắn trách nhiệm tiếp dân, đối thoại với dân với việc thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước, công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Bộ tiêu chí đánh giá người đứng đầu cấp ủy không chỉ dựa vào số lượng các cuộc tiếp dân, đối thoại với dân mà còn dựa vào sự hài lòng, đồng thuận của Nhân dân và hiệu quả của công tác xây dựng Đảng, chất lượng hoạt động của tổ chức và cá nhân trong hệ thống chính trị.
Thứ ba, đa dạng hóa hình thức tiếp dân, đối thoại với dân. Bên cạnh hình thức tiếp dân tại trụ sở, cần phát triển các mô hình đối thoại mới: đối thoại theo chuyên đề; đối thoại với các nhóm đặc thù (công nhân khu công nghiệp, đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào tôn giáo). Người đứng đầu cấp ủy, chính quyền cần xuống cơ sở, đối thoại với nhân dân ở cơ sở, gợi mở những vấn đề gắn với các lĩnh vực của công tác xây dựng Đảng Nhân dân phản ánh, góp ý. Tăng cường phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội trong tổ chức các hội nghị nhân dân.
Thứ tư, đẩy mạnh chuyển đổi số trong tiếp dân, xử lý phản ánh, kiến nghị và giải quyết khiếu nại, tố cáo. Xây dựng, hoàn thiện hệ thống quản lý thống nhất trong từng địa phương, bảo đảm liên thông giữa cấp tỉnh, cấp xã và cơ quan có thẩm quyền, tích hợp với cơ sở dữ liệu quốc gia về công tác tiếp công dân. Cần phát triển kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị qua các nền tảng số, bảo đảm cho phép người dân theo dõi tình trạng xử lý đơn thư, kiến nghị.
Thứ năm, kết hợp hoạt động tiếp dân, đối thoại với dân với công tác kiểm tra, giám sát và đánh giá cán bộ. Cơ quan chuyên trách tham mưu cấp ủy có trách nhiệm tổng hợp, phân loại các phản ánh, kiến nghị theo các nhóm: hạn chế trong tổ chức thực hiện; dấu hiệu vi phạm của tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên; vấn đề thuộc trách nhiệm của người đứng đầu; vấn đề cần kiểm tra, giám sát hoặc xem xét trong công tác cán bộ. Những phản ánh có căn cứ liên quan đến trách nhiệm, đạo đức công vụ, thái độ phục vụ Nhân dân của cán bộ phải được xác minh, xử lý theo thẩm quyền. Cần quy định rõ thời hạn chuyển, tiếp nhận, xác minh và thông báo kết quả xử lý. Kết quả đã được xác minh, kết luận và xử lý theo thẩm quyền có thể được sử dụng làm căn cứ đánh giá, xếp loại tổ chức đảng, người đứng đầu và cán bộ hằng năm.
Thứ sáu, tăng cường giám sát việc thực hiện kết luận sau tiếp dân, đối thoại. Mỗi kết luận phải xác định rõ nội dung công việc, cơ quan và cá nhân chịu trách nhiệm, thời hạn hoàn thành, hình thức báo cáo và cách thông tin kết quả cho người dân. Cơ quan tham mưu cấp ủy lập hồ sơ theo dõi từng vụ việc, định kỳ báo cáo tiến độ, công khai những nội dung đã giải quyết và kiến nghị xử lý trách nhiệm đối với trường hợp chậm thực hiện. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và các tổ chức đại diện của Nhân dân tham gia giám sát việc thực hiện cam kết sau đối thoại. Những vụ việc quá hạn, giải quyết không đầy đủ hoặc tiếp tục phát sinh kiến nghị phải được người đứng đầu trực tiếp kiểm tra, chỉ đạo xử lý đến cùng.
4. Kết luận
Tiếp dân, đối thoại với dân là một trong những phương thức để phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng đốn Đảng. Đây là phương thức gắn trực tiếp trách nhiệm cá nhân của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với việc lắng nghe, đối thoại và giải quyết những vấn đề cụ thể của người dân; đồng thời, tạo kênh phản hồi để cấp ủy, chính quyền nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động. Từ thực tiễn tiếp dân, đối thoại với dân ở vùng Đông Nam Bộ, cần tiếp tục thực hiện đồng bộ các giải pháp để phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng Đảng trong giai đoạn mớiq

Ngày nhận bài: 04/6/2026; Ngày thẩm định: 08/6/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email liên hệ: [email protected]

—————————————

TÀI LIỆU THAM KHẢO
Ban Thường vụ Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh (2023). Báo cáo số 679-BC/TU ngày 03/10/2023 tổng kết 10 năm thực hiện Quyết định số 217-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị về Quy chế giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các đoàn thể chính trị – xã hội; Quyết định số 218-QĐ/TW ngày 12/12/2013 của Bộ Chính trị quy định về việc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các đoàn thể chính trị – xã hội và Nhân dân tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền.
Ban Thường vụ Tỉnh ủy Đồng Nai (2024). Báo cáo số 431-BC/TU ngày 18/6/2024 sơ kết 05 năm thực hiện Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.
Bộ Chính trị (2019). Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.
Bộ Chính trị (2025). Kết luận số 215-KL/TW ngày 23/11/2025 về việc sửa đổi, bổ sung Quy định số 11-QĐi/TW ngày 18/02/2019 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy trong việc tiếp dân, đối thoại trực tiếp với dân và xử lý những phản ánh, kiến nghị của dân.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 8). Nxb Chính trị quốc gia.
Nguyễn Thị Thảo (2026). Báo cáo kết quả khảo sát của đề tài “Phát huy vai trò của Nhân dân trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng qua thực tiễn một số tỉnh, thành phố vùng Đông Nam Bộ hiện nay” [Tài liệu chưa công bố].
Nguyễn Thị Thảo (2023a). Thực hiện trách nhiệm tiếp dân, đối thoại với dân của bí thư cấp ủy ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu: Thực trạng và giải pháp. Tạp chí Khoa học chính trị, số 6, tr. 68-74.
Nguyễn Thị Thảo (2023b). Báo cáo tổng hợp kết quả nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ sở: Thực hiện trách nhiệm tiếp dân, đối thoại với Nhân dân của bí thư đảng ủy cấp xã ở tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Học viện Chính trị khu vực II.
Quốc hội (2013). Luật Tiếp công dân năm 2013.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022.

(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *