ThS. Võ Châu Thảo
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Phát triển kinh tế tư nhân là yêu cầu khách quan trong quá trình hoàn thiện nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Kinh tế tư nhân được xác định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đặt ra yêu cầu đổi mới tư duy quản trị nhà nước, khơi thông nguồn lực xã hội, bảo đảm quyền tự do kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam. Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, khu vực kinh tế tư nhân có vai trò đặc biệt quan trọng trong tăng trưởng, thu ngân sách, tạo việc làm, phát triển thị trường, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm đưa kinh tế tư nhân thực sự trở thành động lực quan trọng nhất của phát triển nhanh và bền vững trên địa bàn Thành phố.
Từ khóa: kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 68-NQ/TW; phát triển bền vững; Thành phố Hồ Chí Minh
DEVELOPMENT OF THE PRIVATE ECONOMIC SECTOR IN HO CHI MINH CITY IN THE CURRENT CONTEXT
Abstract: Developing the private economic sector is an objective requirement in the process of further perfecting Vietnam’s socialist-oriented market economy. As the private economic sector is identified as the most important driving force of the national economy, this calls for renewed thinking in state governance, the unlocking of social resources, the safeguarding of freedom of business, and the enhancement of Vietnamese enterprises’ competitiveness. In Ho Chi Minh City, the private economic sector plays a particularly important role in economic growth, state budget revenue, job creation, market development, innovation, digital transformation, and international integration. Based on an analysis of the current state of private economic development in Ho Chi Minh City, the article proposes several solutions to enable the private economic sector to truly become the most important driving force for rapid and sustainable development in the city.
Keywords: Private economic sector; Resolution No. 68-NQ/TW; sustainable development; Ho Chi Minh City
1. Đặt vấn đề
Trong tiến trình đổi mới, xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định vai trò quan trọng trong huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, mở rộng thị trường, đổi mới mô hình quản trị và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Từ chỗ được thừa nhận là một bộ phận cấu thành của nền kinh tế nhiều thành phần, khu vực kinh tế tư nhân đã từng bước được xác định là động lực quan trọng của nền kinh tế quốc gia. Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 của Bộ Chính trị “về phát triển kinh tế tư nhân” tiếp tục phát triển tư duy lý luận về kinh tế tư nhân, nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm quyền tự do kinh doanh, bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, khuyến khích làm giàu chính đáng và xây dựng đội ngũ doanh nhân có tinh thần dân tộc và khát vọng cống hiến. Đặc biệt, Nghị quyết số 68-NQ/TW khẳng định kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, đồng thời đặt ra yêu cầu xóa bỏ rào cản, định kiến, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi, minh bạch, an toàn, chi phí thấp và khuyến khích doanh nghiệp tư nhân phát triển nhanh, bền vững.
Để thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW, Chính phủ ban hành Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 “về Kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW”; Quốc hội ban hành Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 “về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân”; Chính phủ ban hành Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 để triển khai Nghị quyết số 198/2025/QH15 (Chính phủ, 2025a, 2025b; Quốc hội, 2025a). Chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước thúc đẩy các địa phương thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, cải thiện môi trường đầu tư, đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực, giảm chi phí tuân thủ và phát triển đội ngũ doanh nhân.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học – công nghệ, giáo dục – đào tạo, logistics, dịch vụ chất lượng cao và đổi mới sáng tạo. Từ ngày 01/7/2025, Thành phố Hồ Chí Minh được tổ chức lại trên cơ sở sáp nhập Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Dương và tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu; diện tích tự nhiên đạt 6.772,59 km², dân số 14.002.598 người (Quốc hội, 2025b). Quy mô địa lý và dân số mở rộng mang lại nhiều lợi thế mới về dịch vụ đô thị, công nghiệp, cảng biển, logistics, năng lượng, du lịch và thị trường lao động, nhưng đồng thời đặt ra yêu cầu cao hơn về năng lực điều hành, liên kết ngành, phát triển hạ tầng, phân bổ nguồn lực và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân.
2. Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian qua, Thành phố Hồ Chí Minh đã xác định phát triển kinh tế tư nhân là một trong những nhiệm vụ trọng tâm nhằm huy động nguồn lực xã hội, thúc đẩy tăng trưởng, tạo việc làm, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh của Thành phố. Để triển khai chủ trương của Đảng và chính sách của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân, Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 2205/QĐ-UBND ngày 20/10/2025 về “Kế hoạch triển khai Chương trình hành động số 02-CTrHĐ/TU ngày 16/8/2025 của Thành ủy về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW”, trong đó xác định các chỉ tiêu cụ thể đến năm 2030: có 750.000 doanh nghiệp còn đăng ký hoạt động; đạt 35 doanh nghiệp hoạt động trên 1.000 dân; có ít nhất 7-12 doanh nghiệp lớn tham gia chuỗi giá trị toàn cầu; tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế tư nhân đạt 10-12%/năm; khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 55-58% GRDP, 50-55% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn, 84-85% lao động; tốc độ tăng năng suất lao động bình quân của khu vực tư nhân đạt 8,5-9,5%/năm (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2025). Trên cơ sở đó, khu vực kinh tế tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh đã có sự phát triển đáng ghi nhận.
2.1. Những kết quả đạt được
Một là, số lượng doanh nghiệp tư nhân tiếp tục tăng với quy mô vốn, hoạt động sản xuất, kinh doanh ngày càng mở rộng. Từ ngày 01/01 đến 20/4/2026, Thành phố cấp phép 19.818 doanh nghiệp thành lập mới với tổng vốn đăng ký 122.201 tỉ đồng, tăng 35,3% về số lượng và 27,6% về vốn đăng ký so với cùng kỳ (Thu Trang, 2026). Đến hết 4 tháng đầu năm 2026, số doanh nghiệp thành lập mới tăng 35,31%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,2%; doanh thu du lịch đạt 172.000 tỉ đồng, bằng 52,1% kế hoạch năm; chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 11,2% so với cùng kỳ (Vương Lê, 2026). Các kết quả này cho thấy khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục mở rộng về số lượng, quy mô vốn và phạm vi hoạt động trong các lĩnh vực thương mại, dịch vụ, du lịch, công nghiệp chế biến – chế tạo, logistics và kinh tế số. Ngoài ra, Thành phố Hồ Chí Minh cũng ban hành Quyết định số 2205/QĐ-UBND đặt mục tiêu đến năm 2030 hỗ trợ 500-600 hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2025). Chỉ tiêu này cho thấy Thành phố đã xác định việc phát triển khu vực doanh nghiệp là một hướng quan trọng nhằm nâng cao chất lượng phát triển kinh tế tư nhân.
Hai là, khu vực kinh tế tư nhân giữ vai trò quan trọng trong tăng trưởng, thu ngân sách, việc làm và an sinh xã hội. Quý I/2026, GRDP Thành phố tăng 8,27%; tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tăng 13,7%; sản xuất công nghiệp tăng 11%; thu ngân sách đạt hơn 242.000 tỉ đồng, tăng 17,5% (Hoàng Tuyết, 2026). Đến hết 4 tháng đầu năm 2026, thu ngân sách Thành phố đạt hơn 328.000 tỉ đồng (Thu Trang, 2026). Những kết quả này phản ánh đóng góp thực chất của khu vực kinh tế tư nhân trong các lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ, du lịch, logistics và công nghệ. Kinh tế tư nhân không chỉ là đóng góp vào tăng trưởng kinh tế, mà còn tạo việc làm, tăng thu nhập, ổn định đời sống dân cư và bảo đảm an sinh xã hội.
Ba là, khu vực kinh tế tư nhân từng bước mở rộng khả năng tham gia chuỗi giá trị. Quý I/2026, vốn FDI vào Thành phố đạt gần 2,9 tỉ USD, tăng hơn 200% so với cùng kỳ (Hội đồng nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2026). Đến hết 4 tháng đầu năm 2026, thu hút FDI đạt gần 3,3 tỉ USD, tăng 127,1% so với cùng kỳ (Vương Lê, 2026). Cùng với sự phát triển của công nghiệp, logistics, thương mại quốc tế, dịch vụ hỗ trợ và công nghệ, doanh nghiệp tư nhân có thêm điều kiện tham gia cung ứng sản phẩm, dịch vụ, vận tải, kho bãi, phân phối, thương mại, tư vấn, kỹ thuật và các dịch vụ hỗ trợ cho chuỗi sản xuất – kinh doanh trên địa bàn Thành phố.
2.2. Hạn chế
Một là, mức độ ổn định và chất lượng hoạt động của khu vực doanh nghiệp chưa thật bền vững. với vốn bình quân khoảng 6,2 tỉ đồng/doanh nghiệp (Thu Trang, 2026), cho thấy khu vực doanh nghiệp mới gia nhập thị trường vẫn chủ yếu có quy mô nhỏ, năng lực tích lũy ban đầu chưa lớn. Đây là giới hạn trực tiếp đối với khả năng đầu tư công nghệ, mở rộng sản xuất, tuyển dụng lao động chất lượng cao và tham gia các chuỗi cung ứng có yêu cầu cao về vốn, tiêu chuẩn và quản trị.
Hai là, chất lượng quản trị, năng suất, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi xanh chưa đồng đều. Quyết định số 2205/QĐ-UBND đặt mục tiêu đến năm 2030 tốc độ tăng năng suất lao động bình quân của khu vực kinh tế tư nhân đạt 8,5-9,5%/năm; tỉ lệ doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo đạt ít nhất 40%; hình thành 2.000 doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo, 5-10 doanh nghiệp công nghệ lớn và hỗ trợ tối thiểu 30.000 cơ sở kinh doanh thực hiện chuyển đổi số (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2025). Các chỉ tiêu này phản ánh khoảng cách còn phải thu hẹp về năng suất, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong khu vực kinh tế tư nhân. Về phát triển xanh, Chỉ số xanh cấp tỉnh năm 2024 của Thành phố đạt 25,07 điểm, xếp hạng 23/63 địa phương (VCCI, 2025). Kết quả này cho thấy năng lực đáp ứng các yêu cầu về môi trường, tiêu chuẩn xanh, kinh tế tuần hoàn và quản trị ESG của doanh nghiệp còn chưa đồng đều.
Ba là, khả năng kết nối giữa doanh nghiệp tư nhân trong nước với các chuỗi sản xuất, dịch vụ và FDI chưa tương xứng với quy mô dòng vốn đầu tư vào Thành phố. Trong 4 tháng đầu năm 2026, Thành phố thu hút gần 3,3 tỉ USD FDI, đạt 30,2% kế hoạch năm và tăng 127,1% so với cùng kỳ (Vương Lê, 2026). Dòng vốn lớn mở ra cơ hội về thị trường, công nghệ và đơn hàng, nhưng cũng đặt ra sức ép về tiêu chuẩn chất lượng, quản trị, logistics, thương hiệu, sở hữu trí tuệ và phân phối quốc tế. Nhiều doanh nghiệp tư nhân nhỏ và vừa chưa đủ điều kiện để tham gia sâu vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao của chuỗi giá trị.
Bốn là, cơ chế đo lường, theo dõi và đánh giá chưa đầy đủ. Quyết định số 2205/QĐ-UBND xác định đến năm 2030 khu vực kinh tế tư nhân đóng góp 55-58% GRDP, 50-55% tổng thu ngân sách nhà nước trên địa bàn và 84-85% lao động; đồng thời giao nhiệm vụ rà soát, chuẩn hóa hệ thống chỉ tiêu, số liệu thống kê, cơ sở dữ liệu về kinh tế tư nhân và xây dựng hệ thống chia sẻ dữ liệu về kinh tế tư nhân (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2025). Việc đặt ra nhiệm vụ chuẩn hóa dữ liệu cho thấy hệ thống đo lường về khu vực kinh tế tư nhân chưa đầy đủ. Một số chỉ tiêu quan trọng như tỉ lệ doanh nghiệp duy trì hoạt động sau đăng ký, vốn thực góp, lao động thực tế, năng suất lao động, tỉ lệ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, tỉ lệ doanh nghiệp chuyển đổi số, mức độ tham gia chuỗi cung ứng, chất lượng việc làm và mức đóng góp vào an sinh xã hội chưa được công bố đầy đủ, định kỳ theo một hệ thống thống nhất.
Những hạn chế này xuất phát từ bốn nguyên nhân chủ yếu. (1) Thể chế và thực thi chính sách chưa theo kịp yêu cầu phát triển; một số thủ tục về đầu tư, đất đai, xây dựng, thuế, môi trường và kiểm tra chuyên ngành còn làm gia tăng chi phí tuân thủ; (2)Năng lực nội tại của doanh nghiệp tư nhân còn nhiều hạn chế, nhất là về quản trị chiến lược, tài chính, công nghệ và phát triển nhân lực; (3) Hệ sinh thái hỗ trợ doanh nghiệp phân tán, sự liên kết giữa chính quyền, hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức tín dụng, quỹ đầu tư, viện – trường và tổ chức tư vấn chưa đủ thực chất và bền vững. Bốn là, các yêu cầu phát triển mới về chuyển đổi số, chuyển đổi xanh, tiêu chuẩn môi trường, truy xuất nguồn gốc, an ninh dữ liệu, quản trị ESG và cạnh tranh quốc tế đang tạo ra áp lực lớn mà nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa chưa đủ nguồn lực để đáp ứng.
2.3. Giải pháp phát triển kinh tế tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới
Một là, hoàn thiện thể chế địa phương và nâng cao trách nhiệm thực thi
Thành phố cần cụ thể hóa Nghị quyết số 68-NQ/TW, Nghị quyết số 198/2025/QH15, Nghị quyết số 138/NQ-CP, Nghị quyết số 139/NQ-CP, Quyết định số 2205/QĐ-UBND và Chỉ thị số 45/CT-UBND thành chương trình hành động có chỉ tiêu, lộ trình, sản phẩm và trách nhiệm rõ ràng. Thành ủy lãnh đạo thống nhất về nhận thức và định hướng; Hội đồng nhân dân Thành phố thể chế hóa chính sách thuộc thẩm quyền; Ủy ban nhân dân Thành phố tổ chức thực hiện theo nguyên tắc rõ người, rõ việc, rõ thời hạn, rõ kết quả.
Hai là, phát triển doanh nghiệp tư nhân có năng lực dẫn dắt
Thành phố cần chính sách phân tầng doanh nghiệp để hỗ trợ đúng đối tượng. Hộ kinh doanh và doanh nghiệp siêu nhỏ cần hỗ trợ pháp lý, kế toán, thuế và chuyển đổi số cơ bản. Doanh nghiệp nhỏ và vừa cần hỗ trợ tiếp cận vốn, quản trị, tiêu chuẩn chất lượng, thị trường và nhân lực. Doanh nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao cần hỗ trợ đổi mới công nghệ, sở hữu trí tuệ, thương hiệu, gọi vốn và mở rộng thị trường quốc tế. Doanh nghiệp lớn cần được khuyến khích đầu tư vào nghiên cứu – phát triển, dẫn dắt chuỗi cung ứng và hỗ trợ doanh nghiệp vệ tinh. Trọng tâm là hình thành các cụm ngành có lợi thế rõ: tài chính – công nghệ tài chính; logistics – cảng biển – thương mại quốc tế; công nghiệp hỗ trợ – công nghiệp công nghệ cao; y tế – giáo dục chất lượng cao; công nghiệp văn hóa – sáng tạo; du lịch – dịch vụ đô thị; kinh tế số và trí tuệ nhân tạo. Trong mỗi cụm ngành, cần xác định doanh nghiệp nòng cốt, doanh nghiệp vệ tinh, viện – trường tham gia, cơ quan quản lý đầu mối, hạ tầng hỗ trợ và cơ chế đặt hàng nghiên cứu – đào tạo.
Ba là, mở rộng tiếp cận nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo và tích hợp chuyển đổi xanh vào phát triển kinh tế tư nhân
Thành phố cần phát triển các kênh tài chính đa dạng cho doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, doanh nghiệp công nghệ, doanh nghiệp xanh. Phát huy vai trò quỹ bảo lãnh tín dụng, quỹ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ đầu tư, thị trường vốn, hỗ trợ lãi suất có mục tiêu và cơ chế đánh giá tín dụng dựa trên dữ liệu. Về đất đai và hạ tầng, Thành phố cần rà soát quỹ đất công, khu công nghiệp, cụm công nghiệp, không gian làm việc chung, trung tâm logistics, khu nghiên cứu – phát triển, vườn ươm doanh nghiệp để bố trí phù hợp cho doanh nghiệp tư nhân. Ưu tiên phân bổ nguồn lực cho các ngành có giá trị gia tăng cao, công nghệ sạch, công nghiệp hỗ trợ, logistics, công nghiệp văn hóa, công nghệ số và dịch vụ chuyên môn. Thông tin quy hoạch, giá đất, kế hoạch sử dụng đất, danh mục dự án kêu gọi đầu tư cần được công khai, dễ tra cứu và có khả năng cập nhật thường xuyên.
Cần chuyển từ hỗ trợ chung sang hỗ trợ theo dự án đổi mới cụ thể: đổi mới sản phẩm, đổi mới quy trình, tự động hóa, quản trị dữ liệu, thương mại điện tử, trí tuệ nhân tạo, an ninh mạng, truy xuất nguồn gốc, tiết kiệm năng lượng và kinh tế tuần hoàn. Mỗi chương trình hỗ trợ cần có tiêu chí lựa chọn, tỉ lệ đồng tài trợ từ doanh nghiệp, chỉ số đầu ra và cơ chế đánh giá sau hỗ trợ. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số cần bắt đầu từ những nền tảng thiết thực: kế toán số, hóa đơn điện tử, quản trị khách hàng, quản trị kho, thanh toán số, thương mại điện tử, chữ ký số và phân tích dữ liệu cơ bản. Đối với doanh nghiệp có năng lực tăng trưởng, Thành phố cần hỗ trợ xây dựng bộ phận nghiên cứu – phát triển, kết nối chuyên gia, bảo hộ sở hữu trí tuệ, thử nghiệm công nghệ và tham gia chương trình đổi mới sáng tạo mở.
Chuyển đổi xanh cần được tích hợp vào chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Thành phố cần hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận tiêu chuẩn môi trường, chứng nhận xanh, kiểm kê phát thải, tiết kiệm năng lượng, mô hình kinh tế tuần hoàn và quản trị ESG. Đây là điều kiện quan trọng để doanh nghiệp tham gia xuất khẩu và chuỗi cung ứng của các tập đoàn đa quốc gia.
Bốn là, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và năng lực quản trị doanh nghiệp
Nguồn nhân lực quyết định khả năng chuyển từ tăng trưởng dựa vào vốn và lao động sang tăng trưởng dựa vào năng suất, tri thức và đổi mới sáng tạo. Thành phố cần tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, trường đại học, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước. Đào tạo phải chuyển từ cung ứng của nhà trường sang nhu cầu của doanh nghiệp và thị trường lao động.
Các nhóm kỹ năng cần ưu tiên gồm: quản trị doanh nghiệp hiện đại, tài chính doanh nghiệp, pháp lý kinh doanh, quản trị nhân sự, quản trị dữ liệu, thương mại quốc tế, logistics, marketing số, an ninh mạng, quản trị chuỗi cung ứng, quản trị đổi mới sáng tạo và quản trị ESG. Hiệp hội doanh nghiệp cần tham gia dự báo nhu cầu nhân lực, đặt hàng chương trình đào tạo, đánh giá chuẩn đầu ra và kết nối thực tập, tuyển dụng. Chú trọng đào tạo đội ngũ doanh nhân có trách nhiệm trong xây dựng văn hóa kinh doanh, tuân thủ pháp luật, đóng góp cộng đồng và nâng cao hình ảnh Thành phố. Chương trình bồi dưỡng doanh nhân cần được thiết kế theo quy mô doanh nghiệp, ngành nghề và giai đoạn phát triển.
Năm là, tăng cường liên kết chuỗi giá trị và hội nhập quốc tế
Kinh tế tư nhân Thành phố Hồ Chí Minh cần phát triển trong mối liên kết chặt chẽ với vùng Đông Nam Bộ, đồng bằng sông Cửu Long và thị trường quốc tế. Thành phố cần xây dựng cơ chế phối hợp phát triển chuỗi cung ứng giữa khu vực trung tâm, khu công nghiệp, cảng biển, sân bay, trung tâm logistics, trung tâm tài chính và thị trường tiêu dùng. Hạ tầng giao thông, hạ tầng số, hạ tầng năng lượng và hạ tầng dữ liệu cần được tổ chức thống nhất để giảm chi phí giao dịch và nâng cao năng lực kết nối. Thành phố cần hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân nâng cao năng lực đáp ứng tiêu chuẩn xuất khẩu, quy tắc xuất xứ, sở hữu trí tuệ, hợp đồng quốc tế, phòng vệ thương mại và tiêu chuẩn xanh. Xúc tiến thương mại cần đi vào chiều sâu, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng thương hiệu, tham gia chuỗi phân phối, kết nối nhà mua hàng quốc tế và khai thác hiệu quả các hiệp định thương mại tự do.
3. Kết luận
Phát triển kinh tế tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược. Kinh tế tư nhân không chỉ đóng góp vào tăng trưởng, tạo việc làm, tăng thu ngân sách và mở rộng thị trường, mà còn là lực lượng quan trọng thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực cạnh tranh của Thành phố. Số liệu quý I và 04 tháng đầu năm 2026 cho thấy, kinh tế Thành phố duy trì đà tăng trưởng, doanh nghiệp thành lập mới tăng, thu hút đầu tư và tổng cầu thị trường có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, các điểm nghẽn về quy mô doanh nghiệp, vốn, đất đai, chất lượng điều hành, công nghệ, nhân lực và liên kết chuỗi giá trị vẫn là rào cản lớn đối với mục tiêu phát triển nhanh, bền vững.
Để kinh tế tư nhân thật sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia, Thành phố cần tập trung hoàn thiện thể chế địa phương và nâng cao trách nhiệm thực thi, bảo đảm doanh nghiệp được tiếp cận nguồn lực minh bạch, bình đẳng, chi phí thấp; phát triển doanh nghiệp tư nhân theo chiều sâu, chú trọng năng suất, công nghệ, quản trị, đổi mới sáng tạo và năng lực tham gia chuỗi giá trị; thiết lập cơ chế đánh giá chính sách dựa trên kết quả, lấy sự phát triển thực chất của doanh nghiệp làm thước đo chất lượng điều hành. Vì vậy, cần sự tham gia của toàn xã hội, từ chính quyền đô thị, hiệp hội doanh nghiệp, tổ chức tài chính, viện – trường đến đội ngũ doanh nhân để thực hiện mục tiêu xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành trung tâm kinh tế, tài chính, công nghiệp, khoa học – công nghệ và đổi mới sáng tạo có sức cạnh tranh cao trong khu vực và trên thế giới./.
——————————————————–
Ngày nhận bài: 26/11/2025; ngày thẩm định: 28/11/2025; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương (2017). Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025a). Nghị quyết số 138/NQ-CP ngày 16/5/2025 ban hành Kế hoạch hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân.
Chính phủ (2025b). Nghị quyết số 139/NQ-CP ngày 17/5/2025 ban hành Kế hoạch của Chính phủ triển khai Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 của Quốc hội về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Vương Lê (08/5/2026). Thành phố Hồ Chí Minh bàn giải pháp tăng trưởng 2 con số và đạt mục tiêu thu 1 triệu tỷ đồng. Báo Nhân dân. https://nhandan.vn
Quốc hội (2025a). Nghị quyết số 198/2025/QH15 ngày 17/5/2025 về một số cơ chế, chính sách đặc biệt phát triển kinh tế tư nhân.
Quốc hội (2025b). Nghị quyết số 202/2025/QH15 về sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh năm 2025.
Hoàng Tuyết (20/4/2026). TP. Hồ Chí Minh hướng đến tăng trưởng hai con số – Bài 1: Đẩy mạnh tái cấu trúc siêu đô thị. https://hdnd.hochiminhcity.gov.vn
Thu Trang (06/5/2026). TP. Hồ Chí Minh thu ngân sách hơn 328.000 tỷ đồng sau 4 tháng đầu năm. https://mekongasean.vn
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Quyết định số 2205/QĐ-UBND ngày 20 tháng 10 năm 2025 ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình hành động của Thành ủy số 02-CTrHĐ/TU ngày 16 tháng 8 năm 2025 về thực hiện Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04 tháng 5 năm 2025 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế tư nhân tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2026). Chỉ thị số 45/CT-UBND ngày 05 tháng 5 năm 2026 về việc khẩn trương tổ chức thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, trọng tâm nhằm triển khai Kết luận số 18-KL/TW và Kết luận số 27-KL/TW, bảo đảm đạt mục tiêu tăng trưởng kinh tế hai con số năm 2026.
VCCI (2025). Bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2024. https://pcivietnam.vn.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)
