TS. ĐẶNG VIẾT ĐẠT
Học viện Chính trị khu vực IV
Tóm tắt: Hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là một trong những nhiệm vụ lớn trong điều kiện tiếp tục xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi số quốc gia và vận hành hệ thống chính trị tinh, gọn, mạnh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả. Trên cơ sở quan điểm của Đảng tại Đại hội lần thứ XIV, bài viết làm rõ những phát triển mới về lý luận và thực tiễn về cơ chế này, từ đó đề xuất các khuyến nghị nhằm hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”.
Từ khóa: dân chủ xã hội chủ nghĩa; Đảng lãnh đạo; Đại hội lần thứ XIV của Đảng; Nhà nước quản lý; Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; Nhân dân làm chủ.
IMPROVING THE MECHANISM OF “PARTY LEADERSHIP, STATE MANAGEMENT, AND THE PEOPLE’S MASTERY” IN ACCORDANCE WITH THE COMMUNIST PARTY OF VIET NAM’S PERSPECTIVES AT THE 14TH NATIONAL CONGRESS
Abstract: Improving the mechanism of “Party leadership, State management, and the People’s mastery” is one of the major tasks as Viet Nam continues to build and improve the socialist rule-of-law state, promote socialist democracy, advance national digital transformation, and operate a streamlined, strong, high-performing, effective, and efficient political system. Based on the perspectives of the Communist Party of Viet Nam at its 14th National Congress, this article clarifies new theoretical and practical developments concerning this mechanism and proposes recommendations for its further improvement
Keywords: socialist democracy; Party leadership; 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam; State management; socialist rule-of-law state; the People’s mastery.
1. Đặt vấn đề
Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là vấn đề trung tâm của lý luận chính trị Việt Nam đương đại. Qua các kỳ đại hội, cơ chế này từng bước được nhận thức đầy đủ, sâu sắc và cụ thể hơn, từ yêu cầu bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước và quyền làm chủ của Nhân dân, đến yêu cầu xử lý tốt mối quan hệ giữa ba chủ thể như một chỉnh thể thống nhất, không thể tách rời. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh phải cụ thể hóa cơ chế này để xác định “đúng vai”, “đúng thẩm quyền”, bảo đảm Đảng không bao biện, làm thay, lấn sân Nhà nước và cũng không khoán trắng, buông lỏng lãnh đạo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.286).
Thực tiễn 40 năm đổi mới cho thấy, cơ chế này đã góp phần quan trọng vào ổn định chính trị, phát triển kinh tế – xã hội, mở rộng dân chủ, củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc và nâng cao vị thế đất nước. Tuy nhiên, Đại hội lần thứ XIV của Đảng cũng chỉ ra một số vấn đề chưa được nghiên cứu hệ thống, luận giải thấu đáo, như: Đảng cầm quyền trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ; vấn đề phát huy dân chủ; nhận thức về vai trò, mối quan hệ của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội với Đảng, Nhà nước; cơ chế pháp lý để thực hiện hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; các hình thức dân chủ trực tiếp, đặc biệt dân chủ ở cơ sở; giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên. Đây là những điểm nghẽn về “thể chế” và “thực thi”, không thể giải quyết bằng khẩu hiệu chung, mà phải có những giải pháp hữu hiệu.
Từ đó, bài viết luận giải cơ sở lý luận của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” trong chỉnh thể hệ thống chính trị Việt Nam; phân tích những phát triển mới trong quan điểm của Đảng tại Đại hội lần thứ XIV, nhất là yêu cầu phân vai, phân quyền, phối hợp và kiểm soát; đề xuất khuyến nghị hoàn thiện cơ chế theo hướng giữ vững vai trò lãnh đạo của Đảng, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước, đồng thời mở rộng, bảo đảm quyền làm chủ thực chất của Nhân dân.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử để xem xét cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” như một mối quan hệ động giữa các chủ thể quyền lực trong tổ chức và vận hành hệ thống chính trị. Cách tiếp cận hệ thống cho phép phân tích sự thống nhất về mục tiêu, sự khác biệt về chức năng và sự ràng buộc trách nhiệm giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân; ba thành tố vừa độc lập tương đối, vừa là tiền đề của nhau, sự vận hành lệch của một thành tố sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng hai thành tố còn lại. Phương pháp phân tích được dùng để nhận diện nội dung mới trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, đặc biệt các luận điểm về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, nâng cao năng lực quản trị quốc gia, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực và chuyển đổi số quốc gia. Phương pháp lịch sử – logic được vận dụng để theo dõi quá trình đổi mới tư duy của Đảng về cơ chế này qua các kỳ Đại hội. Bài viết đồng thời sử dụng phương pháp phân tích – tổng hợp tài liệu thứ cấp; phương pháp đối chiếu thực tiễn được dùng để kiểm nghiệm các luận điểm lý luận qua thực hành dân chủ cơ sở, cải cách hành chính, chuyển đổi số, giám sát, phản biện xã hội và mức độ hài lòng của người dân.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Cơ sở lý luận của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”
Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” là phương thức tổ chức, phối hợp và kiểm soát quyền lực hiệu quả của ba chủ thể trong hệ thống chính trị, với ba phương thức thực hiện quyền lực: lãnh đạo chính trị, quản lý nhà nước và thực hành quyền làm chủ.
Thứ nhất, Đảng lãnh đạo là toàn bộ quá trình định hướng chính trị, xác lập đường lối, chủ trương, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát và nêu gương thông qua các tổ chức đảng và đảng viên. Đảng lãnh đạo bằng (1) ban hành và tổ chức thực hiện Cương lĩnh, chiến lược, các định hướng chính sách, chủ trương lớn, (2) công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, (3) tổ chức đảng, đảng viên hoạt động trong các tổ chức của hệ thống chính trị và bằng công tác tổ chức cán bộ, (4) công tác kiểm tra, giám sát, (5) hành động gương mẫu của đảng viên (Trần Khắc Việt, 2022).
Thứ hai, Nhà nước quản lý là quá trình Nhà nước tổ chức và thực hiện quyền lực nhà nước theo Hiến pháp, pháp luật, thông qua hoạt động lập pháp, hành pháp, tư pháp và các công cụ quản lý nhằm bảo đảm trật tự quyền và lợi ích hợp pháp của Nhân dân, tạo điều kiện cho phát triển đất nước. Các phương thức thực hiện chức năng nhà nước rất đa dạng, trong đó, có hai phương pháp chính là giáo dục, thuyết phục và cưỡng chế. Trong các nhà nước xã hội chủ nghĩa, giáo dục, thuyết phục là phương pháp chủ yếu, còn cưỡng chế được sử dụng kết hợp ở mức độ cần thiết vì yêu cầu bảo vệ an ninh, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội và quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Thứ ba, Nhân dân làm chủ là việc Nhân dân thực hiện quyền làm chủ và quyền lực của mình theo Hiến pháp và pháp luật, bằng các hình thức dân chủ trực tiếp, dân chủ đại diện và thông qua các cơ chế tham gia, giám sát, phản biện, kiểm tra đối với hoạt động của Nhà nước và hệ thống chính trị; thực hiện quyền bầu cử, ứng cử để thành lập bộ máy nhà nước; tham gia biểu quyết khi Nhà nước trưng cầu ý dân; tham gia thảo luận, góp ý xây dựng chính sách, pháp luật; thực hiện quyền giám sát và quyền bãi nhiệm đại biểu dân cử theo quy định của pháp luật.
Điểm then chốt của cơ chế là sự thống nhất giữa mục tiêu và sự phân định chức năng giữa ba chủ thể. Đảng lãnh đạo không phải để thay thế Nhà nước, mà định hướng cho Nhà nước vận hành đúng bản chất, chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân. Nhà nước quản lý không chỉ là công cụ hành chính thuần túy, mà là thiết chế tổ chức quyền lực công, có trách nhiệm hiện thực hóa chủ trương, đường lối của Đảng, bảo vệ quyền, lợi ích và nguyện vọng chính đáng của Nhân dân. Nhân dân làm chủ không phải là yếu tố “bổ sung” sau cùng, mà là nền tảng của hệ thống chính trị xã hội chủ nghĩa, bảo đảm tính chính danh của Đảng, Nhà nước. Ba phương thức thực hiện quyền lực nói trên không tồn tại tách biệt mà đan xen, ràng buộc lẫn nhau trong từng quyết sách cụ thể: một chủ trương của Đảng chỉ phát huy hiệu lực khi được Nhà nước thể chế hóa thành pháp luật, chính sách và được tổ chức thực hiện nghiêm túc; đồng thời, quá trình tổ chức thực hiện phải phát huy sự tham gia, giám sát và quyền làm chủ thực chất của Nhân dân. Vì vậy, nếu chỉ đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng mà không nâng cao năng lực quản trị của Nhà nước, chủ trương đúng vẫn khó thành hiện thực. Nếu chỉ cải cách Nhà nước theo hướng kỹ trị mà không bảo đảm định hướng chính trị đúng đắn, mục tiêu quản trị có thể xa rời lợi ích Nhân dân. Nếu mở rộng dân chủ nhưng thiếu kỷ cương pháp quyền, dân chủ dễ bị hình thức hóa, thậm chí dẫn đến dân chủ quá trớn, vô chính phủ; ngược lại, nếu nhấn mạnh kỷ luật mà không bảo đảm quyền tham gia, giám sát và thụ hưởng của Nhân dân, hệ thống sẽ suy giảm tính chính danh, xa rời bản chất chế độ xã hội chủ nghĩa. Do đó, hoàn thiện cơ chế này về thực chất là hoàn thiện đồng thời cả ba khâu: định hướng chính trị, thể chế hóa – tổ chức thực hiện, và tham gia – giám sát của Nhân dân, chứ không thể chỉ tác động vào một khâu riêng lẻ.
3.2. Những phát triển mới trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Thứ nhất, hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” gắn với nhiệm vụ “xây dựng, chỉnh đốn Đảng, hệ thống chính trị; hoàn thiện và phát huy nền dân chủ xã hội chủ nghĩa; xây dựng và phát huy khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.282). Văn kiện yêu cầu bảo đảm “sự đồng bộ, liên thông giữa các quy định của Đảng với pháp luật của Nhà nước về tổ chức bộ máy, hoạt động và biên chế của hệ thống chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.283). Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ đạo nâng cao năng lực quản lý, quản trị quốc gia và kiến tạo phát triển của Nhà nước; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, trực tiếp của Đảng trong xây dựng pháp luật; đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh; xây dựng văn hóa tuân thủ pháp luật; đồng thời “cụ thể hóa cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” nhằm xác định “đúng vai”, đúng thẩm quyền để Đảng không bao biện, làm thay, lấn sân Nhà nước và ngược lại Đảng cũng không khoán trắng, buông lỏng lãnh đạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.286). Như vậy, vai trò lãnh đạo của Đảng và chức năng quản lý của Nhà nước phải được thực hiện đúng nguyên tắc, chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền và được thể chế hóa đồng bộ, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, đồng thời phát huy đầy đủ hiệu lực, hiệu quả quản lý của Nhà nước.
Thứ hai, hoàn thiện cơ chế này phải đáp ứng yêu cầu kiểm soát quyền lực – đặt ở vị trí trung tâm trong tổ chức, vận hành hệ thống quyền lực công. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV nhấn mạnh phải hoàn thiện “thể chế kiểm soát quyền lực trong Đảng gắn đồng bộ với thể chế kiểm soát quyền lực trong toàn hệ thống chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.265); đồng thời, xác định rõ vai trò, vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của các cơ quan nhà nước trong thực hiện quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp trên cơ sở nguyên tắc pháp quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ và tăng cường kiểm soát (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.285-286). Đây là cách tiếp cận quan trọng, bởi mọi thiết chế quyền lực nếu không được kiểm soát chặt chẽ đều có nguy cơ tha hóa. Kiểm soát quyền lực không làm suy yếu sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, mà làm cho các thiết chế này thực hiện đúng vai, bảo đảm tính chính danh, hiệu năng, hiệu lực, hiệu quả và dân chủ thực chất hơn.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế phải gắn với phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trong chu trình chính sách. Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục “quán triệt sâu sắc quan điểm “Dân là gốc”, giữ vững và tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với Nhân dân, lấy hạnh phúc và sự hài lòng của Nhân dân làm thước đo hiệu quả công tác của các tổ chức đảng và cả hệ thống chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.399). Đại hội tiếp tục yêu cầu thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”, đồng thời yêu cầu hoàn thiện cơ chế, chính sách phù hợp, thuận lợi để Nhân dân tham gia ý kiến vào quá trình hoạch định đường lối, chính sách, quyết định những vấn đề lớn và quan trọng của đất nước; nêu cao trách nhiệm tiếp thu, trách nhiệm thông tin, giải trình của cơ quan Đảng, Nhà nước đối với kiến nghị, đề xuất của Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.286-287). Đây là bước chuyển từ dân chủ như quyền tham gia từng thời điểm sang dân chủ như năng lực tham gia liên tục vào quá trình hình thành, thực hiện và đánh giá chính sách.
Thứ tư, hoàn thiện cơ chế trong bối cảnh chuyển đổi số, đổi mới sáng tạo và yêu cầu quản trị quốc gia hiện đại. Cùng với đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia được xác định là “động lực trung tâm của phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.398). Khi dữ liệu, nền tảng số, trí tuệ nhân tạo và dịch vụ công trực tuyến trở thành bộ phận của quản trị quốc gia, quan hệ giữa Đảng, Nhà nước và Nhân dân cũng phải được tổ chức lại theo hướng minh bạch, tương tác nhanh và trách nhiệm giải trình cao hơn. Chính phủ số không chỉ là số hóa thủ tục, mà là điều kiện để Nhà nước quản lý dựa trên dữ liệu, Đảng nắm bắt thực tiễn nhanh hơn và Nhân dân giám sát, phản ánh, đánh giá dịch vụ công thuận tiện hơn. Qua đó “thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân”, “bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân, thượng tôn Hiến pháp và pháp luật, tôn trọng, bảo đảm và bảo vệ quyền con người, quyền công dân”, “thực hành và phát huy rộng rãi dân chủ xã hội chủ nghĩa, vai trò làm chủ và chủ thể của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.260).
3.3. Thực tiễn vận hành cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và những điểm nghẽn
Hơn 80 năm xây dựng, phát triển đất nước, đặc biệt qua 40 năm đổi mới, đã khẳng định giá trị của cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ”. Việt Nam giữ vững ổn định chính trị, từng bước hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền, bảo đảm quyền con người, quyền công dân và phát huy dân chủ. Việc sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy được triển khai tổng thể, triệt để, đồng bộ với quy mô lớn: giảm 34,9% đầu mối trực thuộc Trung ương, 100% đảng đoàn, ban cán sự đảng; giảm 46% đơn vị hành chính cấp tỉnh, 66,9% đơn vị hành chính cấp xã; lần đầu tiên kể từ năm 1945, giảm một cấp hành chính (không tổ chức cấp huyện), thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.213). Vai trò lãnh đạo, uy tín của Đảng tiếp tục được giữ vững và nâng cao, củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.163). Đời sống dân chủ có nhiều tiến bộ; các chỉ tiêu xã hội liên tục được cải thiện: nếu đầu thời kỳ đổi mới, thu nhập bình quân đầu người khoảng 200 USD/năm, xếp trong nhóm 20 nước nghèo nhất thế giới (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.15), thì 40 năm sau, Việt Nam đạt thu nhập bình quân khoảng 5.026 USD/năm (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.47); tỉ lệ hộ nghèo đa chiều còn 1,3% (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.52); chỉ số phát triển con người tăng 14 bậc so với năm 2021, đạt 0,766, thuộc nhóm nước phát triển con người cao; chỉ số hạnh phúc năm 2025 xếp thứ 46/143 quốc gia, tăng 33 bậc so với năm 2021 (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.51). Đây là minh chứng cho nỗ lực phát triển không chỉ dựa vào tăng trưởng kinh tế, mà còn gắn với giáo dục, y tế và chất lượng sống của người dân.
Tuy nhiên, việc thể chế hóa một số nghị quyết, chủ trương của Đảng thành pháp luật, chính sách của Nhà nước chưa đầy đủ, kịp thời; tổ chức thực hiện vẫn là khâu yếu, chậm được khắc phục. Một số chủ trương, chính sách ban hành nhưng chưa cân đối nguồn lực, chưa gắn với thực tế đời sống nên bộc lộ bất cập. Vai trò cầu nối của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội giữa Nhân dân với Đảng, Nhà nước ở một số nơi chưa rõ nét; chưa phát huy tối đa vai trò giám sát, phản biện xã hội của Nhân dân. Cơ chế kiểm soát quyền lực chưa hoàn thiện; công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực đạt nhiều kết quả quan trọng nhưng diễn biến còn phức tạp. Quyền con người, quyền công dân có mặt chưa được phát huy đầy đủ, có lúc, có nơi còn bị vi phạm; thực hành dân chủ ở cơ sở còn hình thức; khuynh hướng đoàn kết hình thức, xuôi chiều chưa được khắc phục triệt để. Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” và phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” chưa được cụ thể hóa đầy đủ, toàn diện; đời sống một bộ phận Nhân dân còn khó khăn, phát triển chưa đồng đều giữa các vùng, miền, các giai tầng xã hội (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.165).
Từ thực tiễn trên, cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” ở Việt Nam hiện nay vẫn còn những điểm nghẽn: (1) ranh giới giữa lãnh đạo chính trị và quản lý hành chính có lúc chưa rõ, dẫn đến can thiệp sâu vào công việc thuộc thẩm quyền Nhà nước, hoặc buông lỏng lãnh đạo ở lĩnh vực cần định hướng; (2) phối hợp giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận, đoàn thể và cơ quan chuyên môn có khi thiếu quy chế vận hành nhất quán, dẫn đến chồng chéo, đùn đẩy; (3) cơ chế kiểm tra nội bộ, giám sát xã hội, thanh tra, kiểm toán, trách nhiệm giải trình chưa luôn vận hành đồng bộ; (4) người dân có quyền nhưng chưa phải lúc nào cũng có điều kiện, thông tin, năng lực và kênh phản hồi hữu hiệu để thực hiện quyền, khi chưa có cơ chế pháp lý đầy đủ để thực hiện có hiệu quả phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”; “các hình thức dân chủ trực tiếp, đặc biệt dân chủ ở cơ sở vẫn cần được hoàn thiện; giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức thành viên còn vướng mắc cả về phương diện pháp lý cũng như phương thức tổ chức thực hiện” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.235-236). Bốn điểm nghẽn này có quan hệ chặt chẽ, tác động qua lại lẫn nhau: ranh giới phân vai chưa rõ làm cho cơ chế phối hợp thiếu điểm tựa quy chế, từ đó cơ chế kiểm tra, giám sát khó xác định đúng đối tượng, phạm vi trách nhiệm và làm giảm điều kiện thực chất để Nhân dân thực hành quyền làm chủ.
3.4. Định hướng hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” theo nguyên tắc “đúng vai”, “đúng thẩm quyền”
“Đúng vai”, “đúng thẩm quyền” không phải là tách rời Đảng khỏi Nhà nước và Nhân dân, càng không phải đồng nhất Đảng với Nhà nước, mà là: Đảng lãnh đạo bằng định hướng chính trị, chiến lược, công tác tuyên truyền, thuyết phục, vận động, công tác tổ chức – cán bộ, kiểm tra, giám sát và nêu gương của cán bộ, đảng viên; Nhà nước quản lý bằng pháp luật, chính sách, quy hoạch và các công cụ quản lý, các cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp thực hiện chức năng, nhiệm vụ theo Hiến pháp và pháp luật; Nhân dân làm chủ bằng quyền tham gia, bầu cử, ứng cử, phản biện, giám sát, kiến nghị, khiếu nại, tố cáo, tự quản cộng đồng và thụ hưởng kết quả phát triển.
Đối với Đảng, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, cầm quyền theo hướng tập trung vào những chủ trương lớn, các định hướng phát triển; xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, đổi mới công tác cán bộ thực chất, bảo vệ vững chắc nền tảng tư tưởng và khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Đối với Nhà nước, xây dựng năng lực quản trị quốc gia hiện đại, minh bạch, liêm chính, trách nhiệm giải trình cao; quản lý bằng pháp luật, kiến tạo phát triển; phục vụ người dân, doanh nghiệp. Đẩy mạnh chuyển đổi số trong khu vực công, xây dựng chính phủ số, chính quyền số đồng bộ, thân thiện, an toàn. Tiếp tục cụ thể hóa nguyên tắc quyền lực nhà nước thống nhất, phân công rành mạch, phối hợp chặt chẽ, tăng cường kiểm soát: phân công rành mạch, xác định trách nhiệm theo thẩm quyền quyết định, thực hiện, giám sát, chịu trách nhiệm; phối hợp chặt chẽ giúp tránh cát cứ, chia cắt thông tin, đùn đẩy; kiểm soát quyền lực giúp phòng ngừa lạm quyền, tham nhũng, lợi ích nhóm, đồng thời tạo cơ chế tự sửa sai của hệ thống.
Đối với Nhân dân, hoàn thiện cơ chế chuyển từ bảo đảm quyền trên văn bản sang nâng cao năng lực thực hành quyền: tiếp cận thông tin dễ hiểu, kịp thời; có kênh góp ý thuận tiện; được tiếp nhận, phản hồi; có cơ chế bảo vệ khi phản ánh, khiếu nại, tố cáo; có điều kiện tham gia giám sát đầu tư công, ngân sách, đất đai, môi trường, dịch vụ công và quy hoạch. Hình thành cơ chế đo lường sự hài lòng của người dân qua các chỉ báo về thời gian, chi phí, mức độ thân thiện của chính quyền và sự tận tụy của cán bộ, công chức khi giải quyết thủ tục hành chính.
4. Kết luận và khuyến nghị
Hoàn thiện cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” theo quan điểm của Đảng tại Đại hội lần thứ XIV là yêu cầu có tính chiến lược đối với xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, khơi thông nguồn lực cho phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Cơ chế này phải vận hành theo nguyên tắc “đúng vai”, “đúng thẩm quyền”, dựa trên thể chế rõ ràng, dữ liệu đầy đủ, kết quả đo lường cụ thể và lợi ích của Nhân dân được thể hiện rõ trong từng quyết sách, từng hành vi công vụ. Để thực hiện mục tiêu đó, các cấp ủy đảng, chính quyền các cấp cần tập trung vào những nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, xây dựng bộ tiêu chí phân vai giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội, cụ thể: nội dung nào thuộc thẩm quyền lãnh đạo của cấp ủy; việc gì thuộc thẩm quyền quản lý và tổ chức thực hiện của chính quyền; việc gì bắt buộc phải lấy ý kiến của Nhân dân; việc gì phải công khai, giải trình, chịu giám sát độc lập. Ở cấp địa phương, quy chế làm việc giữa cấp ủy và chính quyền cần được rà soát để tránh cấp ủy quyết thay các vấn đề hành chính cụ thể, đồng thời tránh việc chính quyền viện dẫn phân quyền để né tránh sự lãnh đạo chính trị.
Thứ hai, thiết kế cơ chế trách nhiệm kép nhưng không lẫn lộn. Trách nhiệm chính trị thuộc về tổ chức đảng và đảng viên giữ chức vụ lãnh đạo khi định hướng, quyết định chủ trương lớn hoặc để xảy ra sai lệch nghiêm trọng. Trách nhiệm pháp lý, hành chính thuộc về cơ quan nhà nước và người có thẩm quyền trong ban hành, tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật. Trách nhiệm xã hội thuộc về các thiết chế đại diện, Mặt trận Tổ quốc, đoàn thể, báo chí, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và công dân trong giám sát, phản biện, kiến nghị. Khi trách nhiệm được phân định rõ, cơ chế khen thưởng, kỷ luật, bãi nhiệm, miễn nhiệm, xử lý vi phạm và giải trình trước Nhân dân mới có cơ sở thực chất.
Thứ ba, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa theo hướng có dữ liệu và đo lường được. Phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” cần được chuyển thành các chỉ số quản trị cụ thể: tỉ lệ thông tin ngân sách, quy hoạch, đất đai được công khai đúng hạn; tỉ lệ kiến nghị của người dân được phản hồi; thời gian phản hồi trung bình; tỉ lệ kiến nghị được tiếp thu; mức độ hài lòng sau giải quyết; số vụ việc giám sát cộng đồng phát hiện sai phạm; mức độ tham gia của nhóm yếu thế. Đồng thời, xây dựng các kênh phản hồi chính sách đa dạng: hội nghị đối thoại định kỳ, nền tảng góp ý trực tuyến, lấy ý kiến cộng đồng trước các quyết định có tác động lớn, công khai báo cáo tiếp thu, phản hồi, và cơ chế giám sát độc lập việc thực hiện kiến nghị sau đối thoại. Gắn chuyển đổi số với dân chủ số và trách nhiệm giải trình số: mỗi thủ tục hành chính công cần công khai mã hồ sơ, tiến độ, thời hạn xử lý, cơ quan hoặc cá nhân phụ trách, căn cứ pháp lý, kênh khiếu nại và dữ liệu đánh giá hài lòng; cổng dịch vụ công không chỉ là nơi nộp hồ sơ, mà phải là nơi người dân kiểm tra chất lượng phục vụ của Nhà nước. Phát huy mạnh mẽ vai trò của báo chí, truyền thông và các tổ chức xã hội – nghề nghiệp trong giám sát quyền lực.
Thứ tư, đổi mới công tác cán bộ theo tiêu chí phục vụ, liêm chính, năng lực điều phối và khả năng chịu trách nhiệm: lãnh đạo mà không bao biện, quản lý mà không quan liêu, lắng nghe dân mà không dân túy, giữ kỷ cương mà không hành chính hóa dân chủ. Đánh giá cán bộ cần gắn với kết quả thực thi, chất lượng phối hợp, mức độ hài lòng của người dân, khả năng giải quyết vấn đề mới và tinh thần “dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn thử thách, và dám hành động vì lợi ích chung”.
Thứ năm, xây dựng văn hóa pháp quyền và văn hóa giải trình trong toàn hệ thống chính trị. Văn hóa pháp quyền đòi hỏi mọi chủ thể tôn trọng thẩm quyền của nhau, quyết định phải có căn cứ, thực thi phải có kiểm tra, sai phạm phải nhận trách nhiệm. Văn hóa giải trình đòi hỏi Đảng, Nhà nước phải công khai, rõ trách nhiệm, rõ thời hạn đối với ý kiến của Nhân dân. Trong xã hội số, khi kỳ vọng của người dân ngày càng cao và thông tin lan truyền nhanh, giải trình không còn là lựa chọn, mà là điều kiện duy trì niềm tin chính trị./.
———————————————
Ngày nhận bài: 24/6/2026; Ngày phản biện: 26/6/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email liên hệ: [email protected]
—————————————————-
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Trần Khắc Việt (2022). Phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền và phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng – Những vấn đề lý luận. Tạp chí Lý luận chính trị điện tử. https://lyluanchinhtri.vn/phuong-thuc-lanh-dao-phuong-thuc-cam-quyen-va-phuong-thuc-lanh-dao-cam-quyen-cua-dang-nhung-van-de-ly-luan-251.html.
(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 06/2026)
