KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

KIÊN ĐỊNH CON ĐƯỜNG XÃ HỘI CHỦ NGHĨA Ở VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN PHÁT TRIỂN MỚI

TS. NGUYỄN ANH TUẤN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Bài viết làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của yêu cầu kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới. Về lý luận, nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới của Đảng khẳng định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam là lựa chọn đúng đắn. Về thực tiễn, thành tựu của đất nước trong gần một thế kỷ, đặc biệt là 40 năm đổi mới, cùng thực tiễn phong phú của thế giới trong hơn một thế kỷ qua, nhất là bài học từ sự sụp đổ của Liên Xô, Đông Âu và kinh nghiệm cải cách, đổi mới của các nước xã hội chủ nghĩa trên thế giới cho thấy, Việt Nam cần tiếp tục kiên định, kiên trì con đường xã hội chủ nghĩa song phải không ngừng tìm tòi, đổi mới cách thức, biện pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp trong kỷ nguyên mới.
Từ khóa: chủ nghĩa xã hội; độc lập dân tộc; kiên định; kỷ nguyên phát triển mới; Việt Nam
STEADFASTLY PURSUING THE SOCIALIST PATH IN VIET NAM IN THE NEW ERA OF DEVELOPMENT
Abstract: This article clarifies the theoretical and practical foundations for the need to remain steadfast on the socialist path in Viet Nam in the new era of development. Theoretically, Marxism-Leninism, Ho Chi Minh Thought, and the theory of the Communist Party of Viet Nam’s renewal line affirm that linking national independence with socialism is a sound choice for Viet Nam. In practice, the country’s achievements over nearly a century, particularly during forty years of renewal, together with rich global experience over more than a century – especially the lessons from the collapse of the Soviet Union and the socialist regimes in Eastern Europe, as well as the experience of reform and renewal in socialist countries – show that Viet Nam needs to remain steadfast and persistent on the socialist path while continuously exploring and renewing approaches and measures for building socialism in ways suited to the new era.
Keywords: socialism; national independence; steadfastness; new era of development; Viet Nam.

1. Đặt vấn đề
Thực hiện cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên cách mạng xã hội chủ nghĩa là con đường do Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta lựa chọn. Đây là sự lựa chọn có căn cứ lý luận và thực tiễn chắc chắn. Nhờ đó, cách mạng Việt Nam đã đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Mặc dù chế độ xã hội chủ nghĩa ở Đông Âu và Liên Xô tan rã, chủ nghĩa xã hội hiện thực vẫn trụ vững và có bước đổi mới, phát triển quan trọng, như Trung Quốc, Việt Nam và Lào. Tuy nhiên, quá trình đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam diễn ra trong điều kiện còn nhiều khó khăn, phức tạp và “các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại” (Nguyễn Phú Trọng, 2022, tr.18). Vì vậy, xác định rõ, làm sâu sắc nhận thức về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới là rất cần thiết.
Bài viết được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời, quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Qua đó, bài viết luận chứng tính đúng đắn của việc kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, làm rõ luận điểm có ý nghĩa phương pháp luận: kiên định chủ nghĩa xã hội phải gắn với không ngừng đổi mới sáng tạo và hoàn thiện con đường, phương thức xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với điều kiện cụ thể của Việt Nam và những biến đổi của thời đại.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Cơ sở lý luận của sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
Thứ nhất, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trước hết bắt nguồn từ giá trị khoa học và cách mạng bền vững của chủ nghĩa Mác – Lênin
Thế giới quan duy vật biện chứng, duy vật lịch sử và phương pháp luận khoa học của học thuyết Mác – Lênin giúp nhận thức bản chất, quy luật vận động của xã hội; làm rõ nguồn gốc của áp bức, bất công, tha hóa con người; đồng thời chỉ ra những điều kiện, tiến trình và lực lượng để cải tạo xã hội theo hướng tiến bộ, văn minh. Bằng việc phát hiện vai trò quyết định xét đến cùng của sản xuất vật chất đối với sự vận động của xã hội; làm rõ mối quan hệ giữa lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, giữa cơ sở kinh tế và kiến trúc thượng tầng, C.Mác và Ph.Ăngghen phát hiện quy luật vận động, phát triển của lịch sử nhân loại là quá trình phát triển lịch sử – tự nhiên của các hình thái kinh tế – xã hội. Các ông phân tích những mâu thuẫn của phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa, cuộc đấu tranh giữa giai cấp công nhân và giai cấp tư sản, từ đó khẳng định: “Sự sụp đổ của giai cấp tư sản và thắng lợi của giai cấp vô sản đều là tất yếu như nhau” (C.Mác và Ph.Ăngghen, 1995, tr.613).
Trong điều kiện mới, V.I.Lênin bảo vệ, bổ sung, phát triển toàn diện học thuyết Mác, nhất là các biện pháp, cách thức xây dựng chủ nghĩa xã hội. V.I.Lênin khẳng định: “Tất cả các dân tộc đều sẽ đi đến chủ nghĩa xã hội, đó là điều không tránh khỏi, nhưng tất cả các dân tộc đều tiến tới chủ nghĩa xã hội không phải một cách hoàn toàn giống nhau; mỗi dân tộc sẽ đưa đặc điểm của mình vào hình thức này hay hình thức khác của chế độ dân chủ, vào loại này hay loại khác của chuyên chính vô sản, vào nhịp độ này hay nhịp độ khác của việc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với các mặt khác nhau của đời sống xã hội” (V.I.Lênin, 2006, tr.160). Theo đó, trong điều kiện lịch sử cụ thể, có thể có quốc gia, dân tộc quá độ lên chủ nghĩa xã hội từ xã hội tư bản chủ nghĩa phát triển, từ xã hội tư bản trung bình, thậm chí có thể rút ngắn, bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa.
Thực tiễn cách mạng thế giới cho thấy, đến nay, chủ nghĩa Mác – Lênin vẫn là một công cụ lý luận quan trọng để nhận diện bản chất của các quan hệ xã hội, phân tích những mâu thuẫn của thời đại và xác định phương hướng giải phóng, phát triển con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “chủ nghĩa chân chính nhất, chắc chắn nhất, cách mệnh nhất là chủ nghĩa Lênin” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.289). Giá trị khoa học, cách mạng của học thuyết Mác – Lênin không chỉ được thừa nhận là nền tảng tư tưởng, lý luận ở các nước xã hội chủ nghĩa, mà vẫn tiếp tục được nghiên cứu một cách nghiêm túc, công phu trong đời sống học thuật thế giới, nhất là ở các nước tư bản phát triển.
Thứ hai, tư tưởng Hồ Chí Minh về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội là nền tảng lý luận trực tiếp của sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nghiên cứu lý luận và thực tiễn cách mạng thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ xét những lý do lịch sử cho phép: “chủ nghĩa cộng sản thâm nhập vào châu Á dễ dàng hơn là ở châu Âu” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.47). Từ thực tiễn Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến, Hồ Chí Minh khẳng định, “Muốn cứu nước và giải phóng dân tộc không có con đường nào khác con đường cách mạng vô sản” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.30), độc lập dân tộc phải gắn liền chủ nghĩa xã hội, bởi “nếu nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.64).
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để tiến lên chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc, quyền làm chủ của nhân dân và sự phát triển lâu dài của đất nước. Chủ nghĩa xã hội là xã hội trong đó nhân dân là chủ, làm chủ, “làm cho nhân dân lao động thoát nạn bần cùng, làm cho mọi người có công ăn việc làm, được ấm no và sống một đời hạnh phúc” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.415); “Chủ nghĩa xã hội là nhằm nâng cao đời sống vật chất và văn hóa của nhân dân, và do nhân dân tự xây dựng lấy…” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.387). 
Xây dựng chủ nghĩa xã hội là sự nghiệp lâu dài, khó khăn, không chủ quan, nóng vội, vừa phải học tập kinh nghiệm của các nước anh em một cách sáng tạo, đồng thời phải “góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.614). Những chỉ dẫn đó đã góp phần đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, với những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử. Vì thế, tư tưởng Hồ Chí Minh là tài sản tinh thần vô giá của Đảng và dân tộc Việt Nam, đồng thời là đối tượng nghiên cứu có sức hấp dẫn đối với nhiều học giả và chính khách trên thế giới (Ngô Vương Anh & Nguyễn Anh Thư, 2025).
Thứ ba, lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam do Đảng Cộng sản Việt Nam xây dựng, bổ sung qua 40 năm đổi mới
Tại Đại hội lần thứ VI (năm 1986), Đảng đã khởi xướng và lãnh đạo công cuộc đổi mới toàn diện. Đây không phải là thay đổi mục tiêu mà là điều chỉnh cách thức và bước đi xây dựng chủ nghĩa xã hội. Trong quá trình đổi mới, Đảng đã xây dựng, hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Theo đó, mô hình xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân Việt Nam xây dựng được thể hiện trên 08 đặc trưng và 03 trụ cột nền tảng: nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.76). Đồng thời, Đảng từng bước xác định và làm rõ 08 phương hướng cơ bản và 10 mối quan hệ lớn cần nhận thức và giải quyết trong quá trình đổi mới, xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Lý luận về đường lối đổi mới chính là sự bổ sung, vận dụng, phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; phù hợp với quy luật khách quan, xuất phát từ thực tiễn đất nước và xu thế thời đại; kế thừa truyền thống dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa và thành tựu phát triển của nhân loại. Lý luận về đường lối đổi mới được xây dựng, kiểm chứng, từng bước hoàn thiện để soi sáng tiến trình đổi mới góp phần rất quan trọng làm nên những thành tựu to lớn có ý nghĩa lịch sử của đất nước trong 40 năm qua; đồng thời là kim chỉ nam tiếp tục dẫn dắt chúng ta hiện thực hóa khát vọng phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Như vậy, xét từ phương diện lý luận, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là sự lựa chọn có cơ sở khoa học vững chắc. Sự kiên định này không đối lập với đổi mới, mà phải được bảo đảm bằng đổi mới sáng tạo; không đồng nghĩa với giáo điều, mà đòi hỏi thường xuyên tổng kết thực tiễn, phát triển lý luận và lựa chọn đúng phương thức phù hợp để đổi mới, phát triển nhanh, bền vững và bao trùm. Điều này cho thấy kiên định con đường xã hội chủ nghĩa không chỉ là lập trường chính trị mà còn là nguyên tắc phương pháp luận bảo đảm sự thống nhất về mục tiêu, nhiệm vụ, đồng thời mở rộng không gian cho sáng tạo, phát triển. Vì vậy, Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta có đủ cơ sở khoa học để tự chủ, tự tin vững bước trên con đường đã chọn trong kỷ nguyên phát triển mới.
2.2. Cơ sở thực tiễn của sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới
Thứ nhất, thực tiễn cách mạng Việt Nam cho thấy sự lựa chọn con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước
Thực tiễn cách mạng Việt Nam, nhất là thành tựu 40 năm đổi mới là bằng chứng sinh động cho thấy năng lực tự đổi mới, tự hoàn thiện của Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Từ một nước nghèo, cơ sở vật chất – kỹ thuật lạc hậu, Việt Nam đã vươn lên trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình; quy mô và tiềm lực nền kinh tế không ngừng được nâng lên; cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được cải thiện; khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số từng bước trở thành động lực phát triển. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ngày càng được nhận thức đầy đủ và vận hành hiệu quả hơn.
Hệ thống giáo dục, y tế, văn hóa và an sinh xã hội được mở rộng; tỉ lệ nghèo giảm mạnh; chính sách đối với người có công, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng khó khăn và các nhóm dễ bị tổn thương được chú trọng; quyền làm chủ của nhân dân được phát huy; khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố. Quốc phòng, an ninh được giữ vững; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và lợi ích quốc gia – dân tộc được bảo vệ. Việt Nam đã trở thành thành viên có trách nhiệm của cộng đồng quốc tế, có quan hệ hợp tác ngày càng sâu rộng, vị thế và uy tín không ngừng được nâng cao. Việt Nam chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay. Đây là “nền tảng quan trọng để đất nước vươn mình trong kỷ nguyên mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.79).
Dĩ nhiên, điều đó không có nghĩa là mọi vấn đề của đất nước đều đã được giải quyết tốt. Các nguy cơ lớn không những vẫn tồn tại mà có mặt còn diễn biến gay gắt và phức tạp hơn. Năng suất lao động, năng lực cạnh tranh, chất lượng tăng trưởng và năng lực tự chủ còn hạn chế; chênh lệch phát triển giữa các vùng, các nhóm xã hội còn lớn; tham nhũng, lãng phí, quan liêu, suy thoái của một bộ phận cán bộ, đảng viên chưa được khắc phục triệt để; biến đổi khí hậu, già hóa dân số, an ninh phi truyền thống đặt ra nhiều thách thức mới. Tuy nhiên, cần phân biệt những hạn chế khó tránh khỏi trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội với bản chất và mục tiêu của con đường xã hội chủ nghĩa. Những hạn chế đó cần phải nhận diện và tìm cách khắc phục.
Thứ hai, thực tiễn cải cách, đổi mới và phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa cũng cung cấp những căn cứ quan trọng
Sự phát triển của các nước xã hội chủ nghĩa hiện nay cho thấy, chủ nghĩa xã hội không chấm dứt sau biến động tại Liên Xô và Đông Âu. Trung Quốc là trường hợp điển hình thành công xây dựng chủ nghĩa xã hội phù hợp với bối cảnh thời đại và điều kiện lịch sử cụ thể – chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc. Trung Quốc tiến hành cải cách và mở cửa, phát triển kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, hội nhập sâu rộng vào kinh tế thế giới và đạt nhiều thành tựu lớn về tăng trưởng, công nghiệp hóa, khoa học, công nghệ, cơ sở hạ tầng và giảm nghèo để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai thế giới. Các nhà lãnh đạo của Đảng, Nhà nước Trung Quốc nhiều lần khẳng định chỉ có chủ nghĩa xã hội mới cứu được Trung Quốc; không đi theo con đường xã hội chủ nghĩa thì Trung Quốc sẽ không có tương lai (Trường Đảng Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, 2024, tr.108-119).
Lào kiên trì đường lối đổi mới theo định hướng xã hội chủ nghĩa, từng bước phát triển kinh tế hàng hóa, mở rộng hợp tác và hội nhập khu vực. Cuba trong nhiều thập niên bị bao vây, cấm vận vẫn duy trì chế độ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ độc lập dân tộc và đạt nhiều thành tựu trong giáo dục, y tế và phát triển con người.
Thực tiễn đó cho thấy, mỗi nước có điều kiện lịch sử, văn hóa, trình độ phát triển và mô hình tổ chức khác nhau, không thể lấy kinh nghiệm của nước này làm khuôn mẫu cho nước khác. Tuy nhiên, điểm chung có giá trị tham khảo là: kiên định mục tiêu phải gắn với đổi mới tư duy và phương thức phát triển; phát triển lực lượng sản xuất phải đi đôi với hoàn thiện thể chế; mở cửa, hội nhập phải đồng thời củng cố độc lập, tự chủ; vai trò lãnh đạo của đảng cầm quyền phải được bảo đảm bằng năng lực, hiệu quả, đạo đức và mối liên hệ mật thiết với Nhân dân; phát huy dân chủ; tôn trọng quy luật khách quan và chủ động thích ứng với những thay đổi của thời đại.
Thứ ba, bài học từ sự khủng hoảng và sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu càng làm rõ yêu cầu kiên định các nguyên tắc của chủ nghĩa xã hội
Ở Liên Xô và Đông Âu, sai lầm về xác định mục tiêu, bước đi trong cải tổ, cải cách đã không khắc phục được trì trệ, khuyết tật, mà còn làm gia tăng khủng hoảng. Xa rời, từ bỏ nền tảng tư tưởng, buông lỏng vai trò lãnh đạo của đảng cộng sản, xem nhẹ dân chủ, phủ nhận lịch sử, cổ súy đa nguyên, đa đảng; mất cảnh giác trước các hoạt động chống phá từ bên ngoài và những biểu hiện suy thoái, phản bội từ bên trong. Chính những điều này đã đẩy chế độ xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu rơi vào hỗn loạn, mất kiểm soát và sụp đổ.
Bài học rút ra là xây dựng chủ nghĩa xã hội phải tôn trọng quy luật khách quan, tuân thủ những vấn đề có tính nguyên tắc, thường xuyên đổi mới, phát huy dân chủ, chăm lo lợi ích của nhân dân và giữ vững vai trò lãnh đạo của đảng cách mạng. Một đảng cầm quyền chỉ có thể giữ vững vai trò khi thực sự trong sạch, vững mạnh, có năng lực lãnh đạo, biết tự đổi mới, tự chỉnh đốn và chịu sự giám sát của nhân dân (Lý Thận Minh & Trần Chí Hoa, 2024, tr.79-95).
Thứ tư, thực tiễn vận động, phát triển của chủ nghĩa tư bản đương đại cho thấy, bản chất của chủ nghĩa tư bản vẫn không thay đổi
Mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa ngày càng cao của sản xuất với sự tập trung của cải và quyền lực vào một bộ phận nhỏ vẫn tồn tại. Một số nước tư bản chủ nghĩa phát triển “giàu có, văn minh” song trong lòng nó vẫn chứa đầy những mâu thuẫn, bất công, phân hóa và chính họ vẫn tiếp tục kích động mâu thuẫn, xung đột và gieo rắc tai họa ở nhiều quốc gia, khu vực trên thế giới (Đặng Đình Quý (Chủ biên), 2025, tr.281-290).
Bản chất quan hệ giữa các nước tư bản trên thế giới vẫn là hợp tác liên minh, cạnh tranh và thôn tính, “cá lớn nuốt cá bé”. Không ít quốc gia đã và đang theo con đường tư bản chủ nghĩa đối diện với tình trạng nghèo đói, kém phát triển, bất ổn chính trị – xã hội, chiến tranh, xung đột kéo dài. Ở một số nước khác, tuy có các giá trị tiến bộ có tính chất xã hội chủ nghĩa song những nhân tố này đã, đang bị cản trở bởi những giới hạn của chế độ kinh tế và chế độ chính trị tư bản chủ nghĩa. Vì vậy, trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, tất yếu phải vừa hợp tác vừa đấu tranh với các nước tư bản chủ nghĩa trên thế giới song chủ nghĩa tư bản không thể là tương lai của Việt Nam.
2.3. Giải pháp tiếp tục kiên định con đường xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên phát triển mới
Một là, kiên định độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, giữ vững độc lập, tự chủ trong quá trình phát triển và hội nhập quốc tế. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật vận động của cách mạng Việt Nam trong thời đại mới (Hoàng Trang & Phạm Ngọc Anh, 2000, tr.120-151). Trong mọi hoàn cảnh, phát triển đất nước phải gắn với bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ; bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để xây dựng và phát triển đất nước. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để xây dựng chủ nghĩa xã hội; chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc, quyền làm chủ và cuộc sống ấm no, tự do, hạnh phúc của nhân dân. Trong quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam cần chủ động tiếp thu các thành tựu khoa học, công nghệ, tri thức quản trị và nguồn lực từ bên ngoài, đồng thời không ngừng củng cố nội lực, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược và “nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong nền chính trị thế giới, kinh tế toàn cầu và văn minh nhân loại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.118).
Hai là, kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới. Kiên định không phải là lặp lại những kết luận có sẵn hoặc vận dụng máy móc những mô hình đã từng tồn tại. Điều cần kiên định là bản chất khoa học, cách mạng, nhân văn và phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh; mục tiêu giải phóng con người, phát triển con người toàn diện; những nguyên tắc đã được thực tiễn cách mạng Việt Nam kiểm nghiệm. Vì vậy, cần tiếp tục đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam. Trọng tâm trước mắt là nghiên cứu, tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam; 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội; làm sáng tỏ những vấn đề mới do kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, chuyển đổi xanh, biến đổi cơ cấu xã hội và lao động, già hóa dân số, phân hóa xã hội, biến đổi khí hậu và hội nhập quốc tế sâu rộng đặt ra. Lý luận phải thực sự trở thành cơ sở khoa học cho hoạch định đường lối, chính sách và dẫn dắt thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Ba là, hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển, gắn phát triển nhanh với phát triển bền vững và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Cần “tập trung hoàn thiện toàn diện, đồng bộ thể chế phát triển nhanh, bền vững đất nước”; phải “đưa thể chế, pháp luật trở thành lợi thế cạnh tranh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.86-87). Trong đó, chú ý hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội. Nhà nước phải thực hiện tốt vai trò kiến tạo phát triển, quản lý bằng pháp luật, chiến lược, quy hoạch, chính sách và các công cụ điều tiết phù hợp; thị trường phải thực sự là cơ chế chủ yếu huy động, phân bổ hiệu quả các nguồn lực; xã hội và Nhân dân phải được tạo điều kiện tham gia quản trị và giám sát quá trình phát triển. Các thành phần kinh tế cần được bảo đảm quyền bình đẳng trước pháp luật, được khuyến khích phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh. Phát triển kinh tế phải gắn chặt với phát triển văn hóa, con người, bảo vệ môi trường, bảo đảm an sinh xã hội và thu hẹp khoảng cách phát triển. Cải cách thể chế để nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; lựa chọn thể chế hôm nay chính là lựa chọn vận mệnh cho ngày mai (Nguyễn Sĩ Dũng, 2026, tr.442-444).
Bốn là, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ và sức sáng tạo của Nhân dân, tạo động lực cho những đột phá phát triển mới. Nhân dân vừa là chủ thể, vừa là trung tâm, mục tiêu và động lực của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội. Mọi chủ trương, chính sách phải xuất phát từ lợi ích của Nhân dân, dựa vào Nhân dân và chịu sự giám sát của Nhân dân. Cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế để người dân thực hiện đầy đủ quyền làm chủ, mở rộng sự tham gia của người dân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức và các tổ chức xã hội vào quá trình hoạch định, thực thi và giám sát chính sách. Phát huy dân chủ phải gắn với thượng tôn pháp luật, tăng cường kỷ luật, kỷ cương, khắc phục các biểu hiện quan liêu, xa dân và lợi dụng dân chủ để xâm phạm lợi ích quốc gia – dân tộc. Vì vậy, kiên định con đường xã hội chủ nghĩa trong điều kiện mới không chỉ là giữ vững niềm tin và mục tiêu, mà quan trọng hơn là biến niềm tin, mục tiêu ấy thành năng lực đổi mới, chất lượng thể chế, hiệu quả hành động và những thành quả cụ thể mà Nhân dân có thể cảm nhận, thụ hưởng.
Năm là, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền và hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia. Cần tiếp tục xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị tinh gọn, trong sạch, vững mạnh toàn diện về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ. Năng lực lãnh đạo, cầm quyền của Đảng, hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia của Nhà nước được thể hiện và khẳng định bằng đường lối đúng đắn, tầm nhìn chiến lược, năng lực tổ chức thực hiện và kết quả cụ thể trong thực tiễn có thể đo lường, kiểm chứng một cách minh bạch; bằng phẩm chất, đạo đức, trách nhiệm nêu gương của đội ngũ cán bộ, đảng viên. “Cần động viên, khen thưởng kịp thời những người làm tốt, đồng thời bảo vệ hiệu quả những người dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.40-41). Xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên trì trệ, né tránh, đùn đẩy, suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”; đồng thời, chủ động đấu tranh phản bác các quan điểm, hành vi sai trái, phản động, thù địch. Khi kết quả được lượng hóa minh bạch, mọi việc đều có người chịu trách nhiệm đến cùng, mọi sai phạm đều bị xử lý nghiêm minh, mọi nỗ lực chân chính vì dân, vì nước đều được ghi nhận, bảo vệ thì mọi cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và mỗi người dân, ai cũng ra sức đổi mới, sáng tạo làm những việc ích quốc, lợi dân.
3. Kết luận
Lựa chọn, kiên trì, kiên định con đường độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, Đảng Cộng sản Việt Nam đã lãnh đạo và đưa cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đến thắng lợi khác, tạo nền tảng, tiền đề vững chắc để đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới. Vì vậy, nhận thức đầy đủ, sâu sắc về cơ sở lý luận và thực tiễn của sự kiên định con đường xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới là điều kiện quan trọng để Đảng và Nhân dân vững vàng, kiên định đổi mới, phát triển nhằm hiện thực hóa sinh động mục tiêu xây dựng nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội trong kỷ nguyên mới./.

————————————————–

Ngày nhận bài: 22/7/2026; Ngày phản biện: 24/7/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Ngô Vương Anh & Nguyễn Anh Thư (2025). Hồ Chí Minh qua đánh giá của quốc tế. Tạp chí Lịch sử Đảng điện tử. https://tapchilichsudang.vn/ho-chi-minh-qua-danh-gia-cua-quoc-te.html, ngày 16/06/2025.
Nguyễn Sĩ Dũng (2026). Biến thể chế thành lợi thế cạnh tranh. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
V.I.Lênin (2006). Toàn tập (Tập 30). Nxb Chính trị quốc gia.

(Tạp chí Khoa học Chính trị số 06/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *