KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – NỘI DUNG CỐT LÕI TRONG LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (1986 – 2026)

KIÊN ĐỊNH MỤC TIÊU ĐỘC LẬP DÂN TỘC VÀ CHỦ NGHĨA XÃ HỘI – NỘI DUNG CỐT LÕI TRONG LÝ LUẬN VỀ ĐƯỜNG LỐI ĐỔI MỚI CỦA ĐẢNG (1986 – 2026)

TS. NGUYỄN THỊ HOA PHƯỢNG
Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt: Tại Đại hội lần thứ XIV, Đảng đã bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng. Đây là một bước phát triển có ý nghĩa lịch sử, thể hiện sự trưởng thành về tư duy lý luận, năng lực tổng kết thực tiễn và bản lĩnh tự đổi mới của Đảng. Nhận thức mới này cho thấy, Đảng đã kế thừa, bổ sung và phát triển sáng tạo, gắn lý luận với thực tiễn, làm giàu thêm kho tàng lý luận – tư tưởng của cách mạng Việt Nam. Bài viết tập trung làm rõ lý luận của Đảng về kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong suốt tiến trình đổi mới đất nước và định hướng kiên định mục tiêu này trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Đại hội lần thứ XIV; độc lập dân tộc; chủ nghĩa xã hội; lý luận về đường lối đổi mới
CONSISTENTLY UPHOLDING THE GOAL OF NATIONAL INDEPENDENCE AND SOCIALISM – THE CORE CONTENT IN THE PARTY’S THEORY OF THE RENEWAL LINE (1986 – 2026)
Abstract: The 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam added the “Theory of the Renewal Line” to the Party’s ideological foundation, marking a historically significant development that reflects the maturity of theoretical thinking, the capacity for practical review, and the Party’s spirit of self-renewal. This new awareness shows that the Party knows how to inherit, supplement, and creatively develop theory in close connection with practice, thereby enriching the theoretical and ideological heritage of the Vietnamese revolution. Within the scope of this article, the author focuses on clarifying the Party’s theory of consistently upholding the goal of national independence and socialism throughout the process of national renewal and identifying orientations for maintaining this goal in the new period.
Keywords: 14th National Congress; national independence; socialism; theory of the renewal line

1. Đặt vấn đề
Đại hội lần thứ XIV của Đảng bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng, đánh dấu bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng qua 40 năm đổi mới. Trong đó, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nội dung xuyên suốt, thể hiện sự nhất quán trong đường lối cách mạng của Đảng, đồng thời là cơ sở định hướng cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong giai đoạn mới. Trong bối cảnh tình hình thế giới và khu vực tiếp tục biến động phức tạp, khó lường, các quan điểm sai trái, thù địch tiếp tục phủ nhận con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam, việc nghiên cứu một cách hệ thống nội dung này có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn. Trên cơ sở nghiên cứu các Văn kiện Đại hội của Đảng từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ XIV, đặc biệt là các cương lĩnh, nghị quyết của Đảng, bằng phương pháp lịch sử và logic, phân tích, tổng hợp, bài viết tập trung làm rõ quá trình Đảng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong 40 năm đổi mới; nhận thức của Đảng về những thuận lợi, thách thức trong giai đoạn hiện nay; định hướng tiếp tục kiên định mục tiêu đó trong thời kỳ mới.
2. Kết quả và thảo luận
2.1. Đảng Cộng sản Việt Nam kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong 40 năm đổi mới
Đại hội lần thứ VI của Đảng đánh dấu bước ngoặt trong sự nghiệp cách mạng xã hội chủ nghĩa, đồng thời tiếp tục khẳng định sự kiên định của Đảng đối với ngọn cờ “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Đó là sự thống nhất, không tách rời của hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội được thông qua tại Đại hội lần thứ VII của Đảng (năm 1991) nhất quán khẳng định: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội. Đó là bài học xuyên suốt quá trình cách mạng nước ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005, tr.310-311). Đảng cũng xác định đây là nhiệm vụ của toàn Đảng, toàn dân: “Toàn Đảng, toàn dân tiếp tục nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2005, tr.311). Mối quan hệ biện chứng giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội được xác định rõ: độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội, còn chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Độc lập dân tộc là tiền đề và điều kiện cơ bản để xây dựng chủ nghĩa xã hội; xây dựng chủ nghĩa xã hội tạo nền tảng ngày càng vững chắc cho độc lập dân tộc, bảo đảm cho đất nước vượt qua nghèo nàn, lạc hậu, vươn lên giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Từ sự sụp đổ của mô hình xã hội chủ nghĩa ở Liên Xô và Đông Âu, Việt Nam cũng như các quốc gia quá độ lên chủ nghĩa xã hội và những người cách mạng trên thế giới đã nhận thức rõ hơn về chủ nghĩa xã hội, chủ nghĩa cộng sản và con đường quá độ lên chủ nghĩa xã hội; từ đó, độc lập, tự chủ, sáng tạo và bản lĩnh hơn trong hoạch định đường lối phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phù hợp với lịch sử và điều kiện cụ thể của mỗi nước.
Đại hội lần thứ VIII và lần thứ IX của Đảng tiếp tục khẳng định xây dựng chủ nghĩa xã hội là nhiệm vụ hàng đầu, bảo vệ Tổ quốc là nhiệm vụ thường xuyên, trọng yếu; coi đó là hai nhiệm vụ chiến lược gắn bó chặt chẽ với nhau. Đại hội lần thứ X của Đảng đánh giá đất nước đạt được những bước phát triển mới, nhưng tình hình thế giới vẫn diễn biến phức tạp, khó lường. Một trong những bài học lớn được rút ra là: “trong quá trình đổi mới, phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006, tr.70).
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định một trong những bài học kinh nghiệm lớn của cách mạng nước ta là: “Nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội – ngọn cờ vinh quang mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trao lại cho thế hệ hôm nay và các thế hệ mai sau. Độc lập dân tộc là điều kiện tiên quyết để thực hiện chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa xã hội là cơ sở bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Xây dựng chủ nghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa là hai nhiệm vụ chiến lược có quan hệ chặt chẽ với nhau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.65). Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng một lần nữa nhấn mạnh: “Trong bất kỳ điều kiện và tình huống nào, phải kiên trì thực hiện đường lối và mục tiêu đổi mới, kiên định và vận dụng sáng tạo, phát triển chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.21).
Tại Đại hội lần thứ XII, Đảng tiếp tục nhấn mạnh: “Kiên định chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, vận dụng sáng tạo và phát triển phù hợp với thực tiễn Việt Nam; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đường lối đổi mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.46). Kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sự tiếp tục trung thành với con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân đã lựa chọn, đồng thời là quá trình hiện thực hóa mục tiêu đó trong đời sống thực tiễn.
Đại hội lần thứ XIII của Đảng kế thừa, bổ sung và phát triển đường lối, quan điểm qua các kỳ đại hội, tiếp tục kiên định ngọn cờ “độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, coi đó là “vấn đề mang tính nguyên tắc, có ý nghĩa sống còn đối với chế độ ta, là nền tảng vững chắc của Đảng ta, không cho phép ai được ngả nghiêng, dao động” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.109). Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung cốt lõi, xuyên suốt trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng, từ mục tiêu tổng quát, các mục tiêu cụ thể đến quan điểm chỉ đạo, nhiệm vụ trọng tâm và định hướng phát triển đất nước. Nhờ kiên định và không ngừng đổi mới, sáng tạo trong nhận thức về chủ nghĩa xã hội, công cuộc đổi mới đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử. Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục khẳng định: “Đất nước ta chưa bao giờ có được cơ đồ, tiềm lực, vị thế và uy tín quốc tế như ngày nay” Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.105). Đó là bằng chứng thực tiễn cho thấy tính đúng đắn của việc “giải quyết một cách sáng tạo mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.27-28). Trước đó, tại Đại hội lần thứ XIII, Đảng nhận định: “Tư duy lý luận của Đảng có bước phát triển. Hệ thống lý luận về đường lối đổi mới, về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam tiếp tục được bổ sung, phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.74).
Tổng kết 40 năm đổi mới, Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Sau 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới, Đảng ta đã đúc kết được những bài học kinh nghiệm quý báu mang tầm lý luận, từng bước xây dựng và hoàn thiện lý luận về đường lối đổi mới, có giá trị định hướng thực tiễn cho sự nghiệp cách mạng của đất nước trong giai đoạn mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.371). Trên cơ sở đó, quan điểm chỉ đạo của Đảng tại Đại hội lần thứ XIV nhấn mạnh: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.81).
Lần đầu tiên, Đảng xác định “lý luận về đường lối đổi mới” là một bộ phận cấu thành nền tảng tư tưởng của Đảng cùng với chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong đó, Đảng xác định đường lối cơ bản, sợi chỉ đỏ xuyên suốt công cuộc đổi mới là kiên định giữ vững độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội – một trong những nội dung trọng yếu của lý luận về đường lối đổi mới.
Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn về sự gắn kết giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong tiến trình lịch sử Việt Nam, có thể rút ra một số nhận xét chủ yếu sau:
Thứ nhất, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là nội dung nổi bật, xuyên suốt và chủ đạo trong quá trình Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam. Nội dung này được xác lập và củng cố trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và lý luận về đường lối đổi mới; đồng thời, ngày càng được kiểm nghiệm, làm sáng tỏ trong thực tiễn cách mạng Việt Nam. Nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là nhận thức khoa học, nhất quán, thể hiện lập trường cách mạng triệt để và kiên định của Đảng và của Nhân dân Việt Nam.
Thứ hai, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có quan hệ mật thiết, tác động và quy định lẫn nhau trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Độc lập dân tộc là khát vọng, đồng thời là tiền đề để đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa; còn chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao cả, là lý tưởng và cũng là điều kiện bảo đảm vững chắc cho độc lập dân tộc. Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển của cách mạng và dân tộc Việt Nam.
Thứ ba, mặc dù chủ nghĩa xã hội hiện thực lâm vào thoái trào từ cuối thế kỷ XX và đối mặt với nhiều thách thức mới, nhưng “những thành tựu có quy mô và tầm vóc lịch sử thế giới của chủ nghĩa xã hội là không thể phủ nhận, nó đã từng là giá trị thể hiện bản chất ưu việt của chủ nghĩa xã hội, mãi mãi còn in dấu trong lương tâm, ký ức nhân loại” (Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, 2008, tr.204). Vì vậy, những giá trị của chủ nghĩa xã hội vẫn hiện diện và tiếp tục được khẳng định; độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội vẫn là giá trị bền vững, có sức sống mạnh mẽ và mang tính định hướng cho tương lai phát triển của dân tộc Việt Nam.
2.2. Thuận lợi và khó khăn trong thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong thời đại ngày nay
Những thành tựu đạt được qua 40 năm đổi mới đất nước cho thấy, việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội đã góp phần to lớn vào thành công chung của cách mạng Việt Nam. Để nền tảng tư tưởng của Đảng tiếp tục bền vững và soi đường cho cách mạng Việt Nam trong kỷ nguyên mới, Đảng ta không ngừng nghiên cứu, nhận thức rõ thuận lợi, thách thức cũng như nội dung mới của vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh hiện nay.
Về thuận lợi, trên thế giới, xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là dòng chảy lớn. Sự tồn tại của các chế độ xã hội khác nhau trong một thế giới đa dạng tạo điều kiện cho mỗi quốc gia lựa chọn mô hình phát triển phù hợp. Các giá trị của độc lập dân tộc, tiến bộ xã hội ngày càng được đề cao, phổ biến và có tính toàn cầu hơn. Toàn cầu hóa và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, tạo ra nhiều cơ hội cho các quốc gia – dân tộc trong quá trình hội nhập, phát triển, nâng cao nội lực và tăng cường khả năng bảo vệ độc lập dân tộc.
Khu vực Đông Nam Á tiếp tục phát triển năng động với vai trò quan trọng của ASEAN, trong đó vị thế của Việt Nam ngày càng được nâng cao. Sự hợp tác trong ASEAN ngày càng mở rộng, đi vào chiều sâu, nâng cao vị thế của cả cộng đồng và tạo thêm cơ hội phát triển cho từng quốc gia thành viên. Đồng thời, cộng đồng ASEAN góp phần tăng cường sức mạnh cho các quốc gia trong giải quyết các vấn đề về chủ quyền lãnh thổ, lãnh hải. Trong những năm tới, khu vực Đông Nam Á tiếp tục phát huy vai trò trung tâm trong hợp tác khu vực Đông Á, châu Á – Thái Bình Dương và tiếp tục thu hút sự quan tâm của nhiều nước lớn. Kinh tế ASEAN được dự báo tiếp tục phát triển với nền tảng và động lực vững mạnh, tạo nên những bứt phá mới.
Trong bối cảnh hiện nay, hệ thống chính trị nước ta ngày càng được củng cố vững chắc, chính trị – xã hội ổn định là một thuận lợi rất lớn cho việc thống nhất ý chí, phát huy đoàn kết và huy động lực lượng trong sự nghiệp củng cố, bảo vệ vững chắc độc lập dân tộc và xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Những thành tựu, kinh nghiệm của 40 năm đổi mới do Đảng khởi xướng và lãnh đạo đã tạo cho đất nước thế và lực, sức mạnh tổng hợp lớn hơn nhiều so với trước. Những kết quả đạt được là minh chứng thuyết phục cho tính đúng đắn của con đường cách mạng mà Đảng và Nhân dân Việt Nam đã lựa chọn, đồng thời là cơ sở vững chắc để tiếp tục kiên định và quyết tâm thực hiện thành công mục tiêu xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Dự báo theo kịch bản tích cực, tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam có thể đạt mức hai con số trong giai đoạn 2026 – 2030; GDP bình quân đầu người đến năm 2030 dự kiến đạt khoảng 8.500 USD; Việt Nam có thể bước vào nhóm nước có thu nhập trung bình cao với quy mô GDP năm 2030 khoảng 900 tỉ USD. Đến năm 2045, nền kinh tế được định hướng phát triển nhanh và bền vững dựa chủ yếu vào khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; tốc độ tăng trưởng GDP giai đoạn 2030 – 2045 tiếp tục duy trì ở mức cao; quy mô GDP năm 2045 dự kiến đạt khoảng 2.500 tỉ USD; nền kinh tế vận hành theo phương thức của kinh tế số, kinh tế xanh và kinh tế tuần hoàn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.244).
Về khó khăn, trên thế giới, tình trạng xung đột sắc tộc, tôn giáo, chiến tranh cục bộ, can thiệp, lật đổ, khủng bố vẫn diễn biến phức tạp. Tranh chấp lãnh thổ, biển đảo ngày càng gay gắt; trong đó, biển Đông tiếp tục là điểm nóng thu hút sự quan tâm của nhiều quốc gia. Một số nước lớn vẫn gây sức ép với các nước khác bằng các biện pháp kinh tế, tài chính, thương mại, công nghệ, thậm chí đe dọa sử dụng vũ lực. Bên cạnh đó, các vấn đề toàn cầu và an ninh phi truyền thống như an ninh tài chính, an ninh lương thực, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, thiên tai, dịch bệnh, khủng bố,… ngày càng diễn biến phức tạp, đòi hỏi các quốc gia phải chia sẻ nguồn lực và trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế.
Ở trong nước, đất nước vẫn đứng trước nhiều thách thức lớn đan xen và tác động tổng hợp: nguy cơ tụt hậu xa hơn về kinh tế, suy giảm tăng trưởng; tình trạng suy thoái về chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống, tham nhũng và lợi ích nhóm của một bộ phận cán bộ, đảng viên; tình trạng vi phạm dân chủ; biểu hiện mất niềm tin vào Đảng; nguy cơ “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Nếu không được ngăn chặn kịp thời và kiên quyết, những hiện tượng này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến chế độ, lợi ích quốc gia và tiền đồ của dân tộc. Trong bối cảnh đó, các thế lực thù địch tiếp tục đẩy mạnh âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn lật đổ”, lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, dân chủ, nhân quyền nhằm chống phá nền tảng tư tưởng, làm thay đổi chế độ chính trị ở Việt Nam. Chủ quyền quốc gia vẫn luôn đứng trước nguy cơ bị xâm phạm.
2.3. Định hướng tiếp tục kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh mới
Đối với Việt Nam, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội có quan hệ mật thiết, tác động và quyết định lẫn nhau trong tiến trình xây dựng và bảo vệ đất nước. Độc lập dân tộc là khát vọng, đồng thời là tiền đề để đưa đất nước phát triển theo con đường xã hội chủ nghĩa, bảo đảm cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội được tiến hành thuận lợi; còn chủ nghĩa xã hội là mục tiêu cao cả, là đích phải đi tới và cũng là điều kiện để bảo đảm, củng cố độc lập dân tộc chân chính. Vì vậy, độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội là quy luật phát triển của cách mạng và dân tộc Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh.
Từ khi mô hình chủ nghĩa xã hội ở Đông Âu và Liên Xô sụp đổ, đã xuất hiện những quan điểm dao động, hoài nghi giá trị của chủ nghĩa xã hội. Tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khóa VI (tháng 3/1989), Đảng đã chỉ ra sáu nguyên tắc cơ bản định hướng công cuộc đổi mới, trong đó nguyên tắc đầu tiên là “kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội”. Nguyên tắc này một lần nữa khẳng định: đi lên chủ nghĩa xã hội là con đường tất yếu của nước ta; xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa là mục tiêu, lý tưởng của Đảng và Nhân dân Việt Nam, là sự lựa chọn sáng suốt của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Đảng Cộng sản Việt Nam. Nhân dân Việt Nam đã thể hiện sự đồng tình, ủng hộ con đường đi lên chủ nghĩa xã hội bằng việc nỗ lực thực hiện công cuộc đổi mới, đưa đất nước vượt qua khủng hoảng kinh tế – xã hội, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế, hướng tới mục tiêu phát triển phồn vinh gắn với mốc 100 năm thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Trong tiến trình đổi mới, Đảng nhận diện ngày càng rõ hơn vấn đề độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong bối cảnh toàn cầu hóa. Tiến trình đổi mới là sự tiếp tục vận động của những quan niệm mới về chủ nghĩa xã hội và con đường xây dựng chủ nghĩa xã hội của Đảng, được hình thành trên cơ sở những nguyên lý của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đồng thời kế thừa và phát triển những nhận thức đúng đắn mà Đảng đã tích lũy trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam (Nguyễn Phú Trọng, 2001, tr.303). Nhận thức của Đảng và Nhân dân Việt Nam về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ngày càng sáng tỏ hơn; hệ thống quan điểm lý luận về công cuộc đổi mới, về xã hội xã hội chủ nghĩa và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam từng bước hình thành với những nét cơ bản ngày càng rõ ràng.
Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định quan điểm và mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới: “Kiên định, vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, lý luận về đường lối đổi mới; kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; kiên định đẩy mạnh toàn diện, đồng bộ công cuộc đổi mới…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.81). Điều này cho thấy, trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội vẫn là nguyên tắc chỉ đạo xuyên suốt, là điều kiện bảo đảm để đất nước phát triển bền vững.
Hướng tới 100 năm thành lập Đảng (1930 – 2030), 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (năm 1991), độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội tiếp tục là động lực tinh thần và định hướng chiến lược để toàn Đảng, toàn dân, toàn quân xây dựng đất nước phát triển nhanh và bền vững. Lý luận về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta ngày càng được xác định rõ hơn và từng bước được hiện thực hóa. Đất nước đã đạt được những thành tựu to lớn, có ý nghĩa lịch sử, phát triển mạnh mẽ và toàn diện so với những năm trước đổi mới. Đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân được cải thiện rõ rệt. Đó chính là thành quả của quá trình Đảng luôn kiên định, giữ vững mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, đồng thời vận dụng sáng tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam và xu thế phát triển chung của thế giới.
Định hướng kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới trước hết phải được đặt trong chỉnh thể các quan điểm chỉ đạo của Đảng. Cụ thể:
Thứ nhất, tiếp tục giữ vững những vấn đề có tính nguyên tắc, đồng thời đổi mới mạnh mẽ tư duy phát triển. Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định yêu cầu “tự chủ chiến lược, đổi mới mô hình phát triển, lấy phát triển để ổn định, ổn định để thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững đất nước, nâng cao đời sống và hạnh phúc của Nhân dân, bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.81). Điều đó cho thấy, kiên định mục tiêu chiến lược không đồng nghĩa với bảo thủ về phương thức, mà đòi hỏi phải không ngừng đổi mới mô hình phát triển, hoàn thiện thể chế và nâng cao năng lực tổ chức thực tiễn.
Thứ hai, cụ thể hóa chiến lược phát triển nhanh, bền vững đất nước, lấy Nhân dân làm trung tâm và chủ thể của công cuộc đổi mới. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nêu rõ: phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm; xây dựng Đảng là then chốt; phát triển văn hóa, con người là nền tảng; tăng cường quốc phòng, an ninh và đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên; đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia là động lực trung tâm của phát triển (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.398). Vì vậy, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội trong giai đoạn mới phải gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế, phát triển khoa học – công nghệ, phát huy nguồn lực con người và bảo đảm tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước phát triển.
Thứ ba, phải đi liền với yêu cầu củng cố nền tảng độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “thực hiện tự chủ chiến lược phát triển, bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.259) và đồng thời “chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.237). Kiên định mục tiêu chiến lược trong bối cảnh mới đòi hỏi phải kết hợp chặt chẽ giữa độc lập, tự chủ với chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng và hiệu quả.
Thứ tư, phải gắn chặt với nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển. Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định phải “chủ động, kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ quốc gia; bảo vệ Tổ quốc từ sớm, từ xa; gắn kết chặt chẽ, hài hòa giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, bảo vệ môi trường với củng cố quốc phòng, an ninh, nâng cao hiệu quả hoạt động đối ngoại và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.374). Đây là định hướng rất quan trọng, thể hiện rõ mối quan hệ thống nhất giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong điều kiện mới.
Thứ năm, phải gắn với xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh nhiệm vụ “tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện”, thắt chặt mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.383-385). Đồng thời, Đại hội yêu cầu tăng cường kiểm soát quyền lực, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, củng cố niềm tin và sự gắn bó của Nhân dân với Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.375, 385). Điều đó cho thấy, kiên định mục tiêu chiến lược không chỉ là vấn đề nhận thức mà còn là vấn đề năng lực lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng trong thực tiễn.
3. Kết luận
Đại hội lần thứ XIV của Đảng bổ sung “lý luận về đường lối đổi mới” vào nền tảng tư tưởng của Đảng để khẳng định rằng, đường lối đổi mới dần được hoàn thiện qua 40 năm là một thành tựu lý luận của Đảng, của dân tộc Việt Nam. Đồng thời, điều đó khẳng định giá trị của lý luận về đường lối đổi mới như một minh chứng sinh động cho sức sống của chủ nghĩa Mác – Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh trong điều kiện mới. Việc kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội không chỉ là sự trung thành với con đường mà Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đảng và Nhân dân ta đã lựa chọn, mà còn là cơ sở lý luận và thực tiễn để bảo đảm cho đất nước phát triển đúng hướng trong bối cảnh thế giới biến động phức tạp. Đây là nội dung trọng tâm của toàn bộ hệ thống lý luận về đường lối đổi mới của Đảng, đồng thời là cơ sở định hướng để toàn Đảng, toàn dân và toàn quân tiếp tục thực hiện khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, vững bước vào kỷ nguyên mới./.

Ngày nhận bài: 19/3/2026; ngày thẩm định: 23/3/2026; ngày duyệt đăng: 27/4/2026
Email liên hệ: [email protected]

(Tạp chí Khoa học chính trị số 03/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *