TS. LÊ THỊ HÀ
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Bài viết phân tích bước phát triển trong nhận thức lý luận của Đảng tại Đại hội lần thứ XIV về xây dựng “Đảng văn minh” trên nền tảng tư tưởng Hồ Chí Minh. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng không chỉ dừng lại ở yêu cầu ngăn chặn suy thoái, mà cần được nâng lên về chất, gắn với đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực cầm quyền và hoàn thiện hệ giá trị của một đảng cầm quyền hiện đại. Trên cơ sở làm rõ tư tưởng Hồ Chí Minh về Đảng “là đạo đức, là văn minh”, bài viết phân tích quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận về xây dựng “Đảng văn minh”, đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hiện thực hóa yêu cầu này theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
Từ khóa: Đảng văn minh; Đại hội lần thứ XIV; quản trị thông minh; xây dựng Đảng
BUILDING A “CIVILIZED PARTY” IN THE SPIRIT OF THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE COMMUNIST PARTY OF VIETNAM
Abstract: The article clarifies the Party’s theoretical development at the 14th National Congress regarding the building of a “civilized Party” on the foundation of Ho Chi Minh Thought. As the country enters a new development era, Party building and rectification should no longer stop at preventing degradation but must be elevated qualitatively in association with strongly renewing leadership methods, improving governing capacity, and refining the value system of a modern ruling party. Based on Ho Chi Minh’s thought on the Party as “moral and civilized,” the article analyzes the process by which the Communist Party of Vietnam has gradually refined its theoretical awareness of building a “civilized Party,” and proposes several solutions to further realize this requirement in the spirit of the 14th National Party Congress.
Keywords: Civilized Party; 14th National Congress; smart governance; Party building
1. Đặt vấn đề
“Đảng văn minh” được hình thành trên nền tảng “Đảng là đạo đức, là văn minh” theo tư tưởng Hồ Chí Minh; trong đó, đạo đức cách mạng là gốc, còn văn minh được thể hiện ở phương thức lãnh đạo, năng lực cầm quyền và trình độ tổ chức, quản trị đất nước trong bối cảnh mới.
Trong phương hướng phát triển giai đoạn 2026 – 2030 và tầm nhìn đến năm 2045 với phương châm “khát vọng lớn, bước đi chắc”, Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII về các văn kiện trình Đại hội lần thứ XIV đã xác lập tám nội dung xuyên suốt nhằm triển khai các quyết sách chiến lược. Ở nội dung thứ sáu, Đảng ta khẳng định một thông điệp mang tính nguyên tắc: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.34). Đây không chỉ là sự kế thừa các giá trị truyền thống, mà còn là sự khẳng định mang tính nguyên tắc rằng, chỉ một Đảng thực sự văn minh, tiêu biểu về đạo đức và trí tuệ mới đủ uy tín quy tụ tinh hoa quốc gia. Đó là nhân tố quyết định tạo ra động lực tự thân để chuyển hóa các quyết sách chiến lược từ hệ thống văn kiện thành thực tiễn sinh động, đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Đặc biệt, trong Báo cáo chính trị tại Đại hội, Đảng tiếp tục xác định mục tiêu:“Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh”; nâng tầm và nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.123). Nhằm hiện thực hóa tầm nhìn đó, Văn kiện đặt ra yêu cầu cấp thiết: “Nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.122-123). Việc bổ sung nội hàm “văn minh” và đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức chính là cơ sở để nâng cao năng lực cầm quyền của Đảng trước những thách thức của kỷ nguyên mới.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, nội hàm “Đảng văn minh” cần được cụ thể hóa thông qua sự định hình của văn minh thể chế và văn minh hành chính, lấy tính khoa học, sự minh bạch và hiệu quả vận hành của toàn hệ thống làm thước đo cốt lõi. Đó là một đảng cầm quyền biết vận hành đất nước bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ, bằng dữ liệu thực chứng và năng lực dự báo chiến lược, thay vì dựa trên mệnh lệnh hành chính thuần túy.
Việc xác lập hệ giá trị “Đảng văn minh” trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV là yêu cầu khách quan, đồng thời đánh dấu bước phát triển mới về tư duy lý luận và phương thức lãnh đạo của Đảng trong kỷ nguyên số. Đây là lời giải chiến lược nhằm củng cố tính chính danh và nâng tầm năng lực cầm quyền khoa học trước bối cảnh thế giới biến động phức tạp. Khi đạo đức cách mạng kết tinh cùng năng lực kiến tạo phát triển, Đảng thực sự trở thành biểu tượng của sự tiến bộ, tạo “sức đề kháng” tự thân trước mọi nguy cơ suy thoái. Sự chuyển mình này đóng vai trò ngọn cờ quy tụ tinh hoa trí tuệ và khát vọng dân tộc, dẫn dắt Việt Nam bứt phá, vững vàng tiến vào kỷ nguyên mới.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp và logic, lịch sử nhằm làm sáng tỏ các giá trị trong tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”, qua đó làm rõ nền tảng lý luận của việc xây dựng “Đảng văn minh” trong giai đoạn hiện nay.
2. Kết quả và thảo luận
2.1. Tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh”
Tại lễ kỷ niệm 30 năm ngày thành lập Đảng (năm 1960), Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định: “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.403). Theo Người, vị thế cầm quyền của Đảng không thuần túy dựa trên quyền lực hành chính, mà phải được xác lập thông qua tư cách của một tổ chức tiên phong, hội tụ đầy đủ sự mẫu mực về đạo đức, chiều sâu văn hóa và tầm cao trí tuệ. Đây là những giá trị cốt lõi để Đảng luôn xứng đáng với niềm tin và trọng trách lịch sử trước dân tộc. “Đảng ta là đạo đức, là văn minh” vừa là bản chất, vừa là nền tảng, vừa là mục tiêu phấn đấu, là đích đến cuối cùng trong hành trình tự đổi mới, giúp Đảng luôn giữ vững bản chất cách mạng và không ngừng nâng tầm năng lực dẫn dắt trong mọi giai đoạn lịch sử. Đảng là tổ chức chính trị chân chính, kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, hoàn toàn không có lợi ích tự thân nào khác “ngoài lợi ích của Tổ quốc, của giai cấp, của dân tộc” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.334).
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, đạo đức trong Đảng là đạo đức cách mạng – một phạm trù đạo đức ở tầm mức cao hơn, rộng mở và sâu sắc hơn. Đó là sự kết hợp biện chứng giữa cốt cách, tinh hoa truyền thống của dân tộc Việt Nam với lý tưởng cộng sản cao đẹp của chủ nghĩa Mác – Lênin; đồng thời, là quá trình tiếp biến, phát triển có chọn lọc các giá trị văn hóa nhân loại. Yếu tố cốt lõi, mang tính quyết định của đạo đức cách mạng chính là sự thống nhất về mặt lợi ích giữa Đảng với giai cấp công nhân và toàn thể nhân dân lao động. Người nhấn mạnh: “Đảng không phải là một tổ chức để làm quan phát tài. Nó phải làm tròn nhiệm vụ giải phóng dân tộc, làm cho Tổ quốc giàu mạnh, đồng bào sung sướng” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.289). Chính vì lẽ đó, việc giữ gìn sự trong sạch của Đảng không chỉ là yêu cầu tự thân, mà còn là điều kiện tiên quyết để Đảng thực hiện sứ mệnh kép, vừa là người lãnh đạo tiên phong, vừa là người đầy tớ trung thành của Nhân dân. Tư tưởng ấy đạt đến đỉnh cao của đức hy sinh khi Người yêu cầu mỗi đảng viên phải “sẵn sàng vui vẻ làm trâu ngựa, làm tôi tớ trung thành của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.50).
Đạo đức cách mạng không chỉ dừng lại là nền tảng tinh thần của xã hội, mà còn trở thành yêu cầu tự thân để mỗi cán bộ, đảng viên hoàn thành sứ mệnh chính trị. Người khẳng định: “Người cách mạng phải có đạo đức cách mạng làm nền tảng mới hoàn thành được nhiệm vụ cách mạng vẻ vang” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.601). Do đó, xây dựng Đảng về đạo đức trước hết phải được cụ thể hóa thông qua việc bồi đắp tư cách mực thước của người cộng sản. Bởi, theo Người, uy tín của Đảng không đến từ những khẩu hiệu hành chính khô khan, mà từ niềm tin cảm tính nhưng sâu sắc của quần chúng nhân dân: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán hai chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.16). Đây chính là sự chuyển hóa từ nhận thức đạo đức sang hành động đạo đức, qua đó khẳng định nêu gương là một trong những đặc trưng cơ bản của Đảng văn minh. Đảng văn minh là một đảng biết sử dụng tinh hoa trí tuệ của nhân loại, lấy khoa học và công nghệ làm công cụ, lấy sự gương mẫu của đảng viên làm thước đo giá trị.
“Văn minh” của Đảng thể hiện ở phương thức lãnh đạo khoa học, trí tuệ và dân chủ; thượng tôn pháp luật và phát huy tối đa sức mạnh tập thể đi đôi với đề cao trách nhiệm cá nhân. Tính văn minh của Đảng không tách rời bản chất giai cấp công nhân, giai cấp cách mạng hiện thân cho lực lượng sản xuất hiện đại và phương thức sản xuất tiên tiến. Với đặc trưng về tính tổ chức và kỷ luật nghiêm minh, Đảng khẳng định tầm vóc văn minh thông qua việc vũ trang bằng hệ thống lý luận khoa học và cách mạng triệt để. Đó là một hệ thống lý luận không chỉ phản ánh chính xác quy luật vận động khách quan của lịch sử, mà còn là sự kết tinh tinh hoa trí tuệ của nhân loại. Chính nền tảng thế giới quan và phương pháp luận mác-xít sắc bén đã soi đường cho hành trình giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp và giải phóng con người; tạo tiền đề để Đảng vận hành theo các nguyên tắc của một đảng kiểu mới.
Theo Hồ Chí Minh, một Đảng văn minh không chỉ dừng lại ở danh xưng, mà phải được minh chứng qua năng lực thực tiễn: “Đảng phải thật sự là đội tiên phong dũng cảm và bộ tham mưu sáng suốt của giai cấp vô sản, của nhân dân lao động và của cả dân tộc” (Hồ Chí Minh, 2011g, tr.608). Để hội tụ và phát huy được trí tuệ sáng suốt, khoa học, Đảng phải không ngừng nâng tầm trình độ lý luận, nắm vững các quy luật khách quan để hoạch định đường lối phù hợp với thực tiễn sinh động. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn căn dặn: “Phải thiết thực đi từng bước, phải tiến vững chắc. Phải nắm vững quy luật phát triển của cách mạng, phải tính toán cẩn thận những điều kiện cụ thể, những biện pháp cụ thể. Kế hoạch phải chắc chắn, cân đối. Chớ đem chủ quan của mình thay thế cho điều kiện thực tế” (Hồ Chí Minh, 2011f, tr.71).
Tầm nhìn chiến lược của Người về một xã hội văn minh, tiến bộ chính là đích đến của công cuộc “xây dựng xã hội xã hội chủ nghĩa, một xã hội bảo đảm cho đất nước phát triển rực rỡ một cách nhanh chóng chưa từng thấy, đưa quần chúng lao động đến một cuộc sống xứng đáng, vẻ vang và ngày càng phồn vinh, làm cho người lao động có một Tổ quốc tự do, hạnh phúc và hùng cường, hướng tới những chân trời tươi sáng, mà trước kia không thể nghĩ tới” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.161).
2.2. Quá trình Đảng Cộng sản Việt Nam từng bước hoàn thiện nhận thức lý luận về xây dựng “Đảng văn minh” theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Vận dụng sáng tạo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng ta luôn xác định xây dựng Đảng về đạo đức là nhiệm vụ then chốt, xuyên suốt mọi giai đoạn cách mạng, đồng thời không ngừng nâng tầm nội hàm này hướng tới mục tiêu xây dựng Đảng văn minh. Đây không chỉ là giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực đội ngũ tiền phong, mà còn là nhân tố quyết định để củng cố niềm tin của Nhân dân, xây dựng Đảng Cộng sản Việt Nam đại diện cho sự tiến bộ, trí tuệ và tinh hoa của dân tộc.
Thực tiễn công tác xây dựng Đảng về đạo đức những năm qua đã ghi dấu những chuyển biến về nhận thức lý luận của Đảng. Trước hết, thông qua việc quán triệt sâu sắc các nghị quyết gắn liền với đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhận thức lý luận đã được nâng tầm, tạo ra sự chuyển hóa mạnh mẽ trong trách nhiệm chính trị của đội ngũ cán bộ, đảng viên từ trạng thái thụ động sang tự giác tu dưỡng, rèn luyện. Sự chuyển biến về chất này chính là tiền đề để xác lập năng lực nêu gương, nơi những tấm gương đạo đức văn minh, mẫu mực trong lao động và chiến đấu tạo ra hiệu ứng lan tỏa sâu rộng, không chỉ làm sáng đẹp hình ảnh người cộng sản mà còn bồi đắp, gắn kết mật thiết mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân. Cùng với việc biểu dương cái tốt, công tác giáo dục đạo đức còn được triển khai như một “lá chắn” văn minh, hữu hiệu để siết chặt kỷ luật, kỷ cương, trực tiếp ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Bằng việc nhận diện sớm và xử lý nghiêm minh các biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, Đảng ta đã củng cố vững chắc sự trong sạch, vững mạnh từ gốc rễ, khẳng định bản chất văn minh của một đảng cầm quyền trong bối cảnh mới.
Qua các kỳ đại hội, nhận thức của Đảng về yêu cầu xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” ngày càng được bổ sung và phát triển, từ chỗ là nội dung lồng ghép trở thành một phương diện quan trọng trong chỉnh thể công tác xây dựng Đảng. Khởi đầu với Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI tập trung vào việc nhận diện những hạn chế của bộ máy, lý luận Đảng đã đạt tới bước đột phá tại Đại hội lần thứ XII khi lần đầu tiên đặt xây dựng Đảng về đạo đức ngang hàng với các mặt chính trị, tư tưởng và tổ chức (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.202). Bước tiến này được cụ thể hóa bằng việc định lượng cụ thể, chính xác 27 biểu hiện suy thoái tại Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 30/10/2016 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII “về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ”, qua đó xác lập cơ chế kiểm soát và giám sát chặt chẽ gắn liền với việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh.
Sự phát triển lý luận tiếp tục được nâng tầm tại Đại hội lần thứ XIII của Đảng và các hội nghị trung ương sau đó, hình thành mô hình xây dựng Đảng toàn diện trên năm trụ cột vững chắc: chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.180). Với Kết luận số 21-KL/TW ngày 25/10/2021 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị; kiên quyết ngăn chặn, đẩy lùi, xử lý nghiêm cán bộ, đảng viên suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa””, Đảng ta đã tạo ra bước chuyển mới khi xoáy sâu vào cơ chế kiểm soát quyền lực, kiên quyết phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và đề cao trách nhiệm giải trình của người đứng đầu. Văn minh của Đảng được minh chứng qua việc siết chặt cơ chế kiểm soát quyền lực và đề cao trách nhiệm giải trình. Đây chính là những chuẩn mực của một nền chính trị hiện đại và minh bạch. Đặc biệt, trước những biến động phức tạp của thời đại, Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ Chính trị “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” đã đánh dấu bước tiến quan trọng trong việc hệ thống hóa các chuẩn mực đạo đức cách mạng. Đây không thuần túy là một văn bản quy phạm, mà chính là sự bổ sung nội hàm “Đảng văn minh” trong giai đoạn mới. Quy định đã khái quát hóa năm trụ cột đạo đức cốt yếu: trung thành tuyệt đối, gương mẫu lối sống, chủ động đấu tranh, tận tụy trách nhiệm và đoàn kết kỷ luật; đồng thời, thiết lập hệ thống 19 tiêu chí đánh giá gắn với năm mối quan hệ nền tảng của người đảng viên. Việc xác lập cam kết tu dưỡng gắn với chức trách hằng ngày chính là phương thức để mỗi đảng viên thực sự trở thành “mực thước” trong lòng Nhân dân, khẳng định phẩm giá và uy tín vững vàng của Đảng trước dân tộc. Sự kết nối đồng bộ giữa Quy định số 144-QĐ/TW và Hướng dẫn số 159-HD/BTGTW ngày 03/7/2024 của Ban Tuyên giáo Trung ương “thực hiện Quy định chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” đã tạo nên cơ chế vận hành thực chất, thúc đẩy quá trình chuyển hóa mạnh mẽ từ “học tập” sang “làm theo”.
Ở thời điểm có tính bước ngoặt, Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã mang đến một tư duy bứt phá. Tư duy về “Đảng văn minh” đạt tới tầm nhìn mới gắn liền với kỷ nguyên vươn mình của dân tộc. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định thông điệp mang tính nguyên tắc: “Xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.34). Theo đó, nội hàm “văn minh” được cụ thể hóa thông qua văn minh thể chế và văn minh hành chính, lấy tính khoa học, sự minh bạch và hiệu quả vận hành làm thước đo cốt lõi. Đảng văn minh phải là Đảng biết vận hành đất nước bằng hệ thống pháp luật chặt chẽ, bằng dữ liệu thực chứng và năng lực dự báo chiến lược thay vì mệnh lệnh hành chính thuần túy. Điểm mới đặc sắc trong lý luận Đại hội lần thứ XIV của Đảng chính là yêu cầu: “Nghiên cứu, tiếp tục hoàn thiện lý luận xây dựng Đảng về đạo đức, để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh” trong tình hình mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.142). Yêu cầu này khẳng định quyết tâm của Đảng trong việc tự đổi mới và chỉnh đốn, nhằm xây dựng Đảng ta vừa giữ vững bản chất kiên trung, vừa sở hữu trí tuệ thời đại nhạy bén. Khi đạo đức cách mạng được kết tinh cùng năng lực lãnh đạo hiện đại, Đảng sẽ thực sự trở thành biểu tượng của sự tiến bộ, khơi dậy khát vọng bứt phá, đưa Việt Nam vững vàng tiến vào kỷ nguyên hùng cường.
2.3. Một số giải pháp xây dựng “Đảng văn minh” trong kỷ nguyên phát triển mới theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Để hiện thực hóa khát vọng của dân tộc và đáp ứng yêu cầu cấp thiết của thực tiễn, công tác xây dựng Đảng về đạo đức và văn minh trong giai đoạn tới cần tập trung thực hiện đồng bộ các nhóm giải pháp trọng tâm sau:
Thứ nhất, nâng cao và thống nhất nhận thức về nội hàm giá trị “Đảng văn minh”. Cần tiếp tục “đẩy mạnh nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn để hoàn thiện hệ thống lý luận về Đảng lãnh đạo, cầm quyền” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.132) trong bối cảnh mới. Nhận thức về “Đảng văn minh” phải được định vị ở tầm vóc mới. “Đảng văn minh” không chỉ là sự kế thừa, phát huy các giá trị đạo đức truyền thống, mà còn là sự tích hợp nhuần nhuyễn giữa văn minh thể chế, văn minh chính trị và phương thức lãnh đạo khoa học. Các cấp ủy đảng cần quán triệt sâu sắc hệ tư tưởng: Nếu đạo đức là “gốc”, là nền tảng tinh thần cốt lõi, thì văn minh chính là phương thức vận hành và là thước đo năng lực dẫn dắt quốc gia trong kỷ nguyên số. Theo đó, việc học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cần được chuyển hóa thực chất từ các đợt sinh hoạt chính trị thuần túy sang tư duy thực hành lãnh đạo khoa học, lấy hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và chất lượng phục vụ Nhân dân làm thước đo giá trị.
Thứ hai, thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực đạo đức cách mạng gắn liền với cơ chế kiểm soát quyền lực trong đội ngũ cán bộ, đảng viên
Cần triển khai quyết liệt và thực chất Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị. Trong đó, năm trụ cột đạo đức và 19 tiêu chí đánh giá cụ thể phải được coi là “bộ lọc” tự nhiên để tinh lọc đội ngũ. Việc thực hiện chuẩn mực đạo đức không dừng lại ở tự giác mà phải được gắn kết chặt chẽ với cơ chế kiểm soát quyền lực, đặc biệt là đề cao trách nhiệm của người đứng đầu. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu “tiếp tục xây dựng, hoàn thiện các quy định, quy chế nhằm giữ nghiêm kỷ luật, kỷ cương của Đảng”, “nâng cao chất lượng, hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát; gắn kiểm tra, giám sát với các phương thức kiểm soát quyền lực khác” và “hoàn thiện và kiên quyết thực hiện đồng bộ, hiệu lực, hiệu quả thể chế phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.284). Đây là cơ sở quan trọng để ngăn ngừa sự tha hóa quyền lực từ sớm, từ xa. Để hiện thực hóa mô hình “Đảng văn minh”, cần thiết lập hệ thống chỉ số đánh giá đạo đức và tư cách đảng viên thông qua việc số hóa các tiêu chuẩn chính trị. Việc chuyển đổi từ đánh giá định tính sang định lượng bằng công nghệ không chỉ giúp loại bỏ tính cảm tính, nể nang hay tình trạng “vừa đá bóng vừa thổi còi”, mà còn tạo ra cơ chế giám sát quyền lực khách quan.
Thứ ba, thực hiện văn minh thể chế và hiện đại hóa phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền của Đảng
Trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, tính văn minh của Đảng phải được khẳng định qua việc đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, phương thức cầm quyền theo hướng khoa học và pháp trị. Đại hội lần thứ XIV của Đảng yêu cầu tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, cầm quyền của Đảng trong giai đoạn mới và “Đổi mới công tác tuyên giáo, dân vận, thắt chặt hơn nữa mối quan hệ mật thiết giữa Đảng với Nhân dân, dựa vào Nhân dân để xây dựng Đảng và hệ thống chính trị” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.383). Đồng thời, Đại hội nhấn mạnh việc đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để nâng cao năng lực quản trị quốc gia, điều hành và tổ chức thực hiện (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.388). Do đó, Đảng lãnh đạo xã hội bằng Hiến pháp, pháp luật và bằng sự nêu gương, thay vì can thiệp sâu bằng mệnh lệnh hành chính thuần túy. Cần đẩy mạnh “số hóa” công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống quản trị nội bộ thông minh, minh bạch nhằm nâng cao tốc độ và độ chính xác trong ra quyết định. Đây chính là biểu hiện sinh động của Đảng văn minh, Đảng làm chủ công nghệ, đổi mới căn bản phương thức lãnh đạo và khẳng định tầm vóc của một đảng cầm quyền khoa học, nhân văn trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Thứ tư, xây dựng văn hóa nêu gương và văn hóa liêm chính trong Đảng
Cần đẩy mạnh xây dựng văn hóa nêu gương trở thành ý thức tự giác của mọi cán bộ, đảng viên, nhất là đội ngũ cán bộ cấp chiến lược. Cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải mực thước về đạo đức, phải coi sự liêm chính không chỉ là yêu cầu kỷ luật mà là một nét đẹp văn hóa, một chuẩn mực sống của người cộng sản hiện đại. Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định phải “tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, trọng tâm là cấp chiến lược và cấp cơ sở, nhất là người đứng đầu” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.383) và “đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ,… Xây dựng đội ngũ cán bộ thật sự tiêu biểu, có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.388). Khi đạo đức cách mạng kết tinh cùng năng lực hành động thực tiễn, mỗi cán bộ, đảng viên sẽ trở thành một “đại sứ văn minh”. Chính sức mạnh từ sự gương mẫu này sẽ tạo ra sức lan tỏa, quy tụ tinh hoa trí tuệ của toàn dân tộc, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc.
Thứ năm, tăng cường sức đề kháng và năng lực tự đổi mới của Đảng
Tính văn minh của một đảng cầm quyền không chỉ được thể hiện ở thành tựu phát triển mà còn ở bản lĩnh “tự soi, tự sửa” và năng lực thích ứng linh hoạt trước những biến động phức tạp của thời đại. Đại hội lần thứ XIV của Đảng yêu cầu “tăng cường xây dựng, chỉnh đốn, tự đổi mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.130) để nâng cao hiệu lực, hiệu quả lãnh đạo, cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng; đồng thời nhấn mạnh việc xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh toàn diện, văn minh là điều kiện quyết định mọi thắng lợi (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.34). Theo đó, Đảng cần không ngừng khuyến khích đổi mới tư duy, khơi dậy tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm trong đội ngũ cán bộ. Mỗi quyết sách của Đảng phải mang hơi thở của thời đại, phản ánh đúng nguyện vọng chính đáng của nhân dân và tuân thủ các quy luật phát triển khách quan, từ đó tạo ra động lực mới cho sự phát triển của đất nước.
Có thể khẳng định, kiên trì mục tiêu xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” theo di huấn của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng không chỉ là nhiệm vụ tự thân, mà còn là mệnh lệnh của lịch sử. Sự hòa quyện giữa nền tảng đạo đức cách mạng trong sáng với năng lực lãnh đạo và điều hành khoa học sẽ tạo ra sức mạnh, giúp Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định tính chính danh, giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo, đưa đất nước vững vàng tiến vào kỷ nguyên vươn mình của dân tộc – một kỷ nguyên hùng cường, thịnh vượng và hạnh phúc.
3. Kết luận
Xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng là yêu cầu có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới. Đây không chỉ là sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng Đảng cầm quyền, mà còn là bước phát triển mới trong nhận thức của Đảng về yêu cầu nâng cao năng lực lãnh đạo, cầm quyền, đổi mới phương thức lãnh đạo và củng cố tính chính danh chính trị của Đảng.
Trong kỷ nguyên phát triển mới, tiếp tục hoàn thiện lý luận về xây dựng Đảng “là đạo đức, là văn minh” cần gắn chặt với tổng kết thực tiễn, hoàn thiện thể chế kiểm soát quyền lực, xây dựng đội ngũ cán bộ liêm chính, nêu gương, đồng thời hiện đại hóa phương thức lãnh đạo và cầm quyền. Chỉ trên cơ sở đó, Đảng mới thực sự phát huy vai trò hạt nhân lãnh đạo, dẫn dắt đất nước phát triển nhanh, bền vững và đáp ứng kỳ vọng của Nhân dân trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc./.
Ngày nhận bài: 20/3/2026; ngày thẩm định: 23/3/2026; ngày duyệt đăng: 27/4/2026
Email liên hệ: [email protected]
(Tạp chí Khoa học chính trị số 03/2026)
