TS. PHẠM THỊ BẢO THOA
Trường Chính trị Tô Hiệu, thành phố Hải Phòng
Tóm tắt: Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương nhất quán của Đảng. Sau 40 năm đổi mới, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ giúp tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế, mà còn nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta còn một số hạn chế. Bước vào kỷ nguyên mới, Việt Nam cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, triển khai các nhiệm vụ chiến lược để tiếp tục khẳng định tính ưu việt của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Từ khóa: kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; kỷ nguyên mới; Việt Nam
DEVELOPING A SOCIALIST-ORIENTED MARKET ECONOMY IN VIETNAM IN THE NEW ERA
Abstract: The development of a socialist-oriented market economy has been a consistent and well-founded policy of the Communist Party of Vietnam since the initiation of the Đổi mới reforms. Over the past 40 years, this model has not only enhanced the internal capacity of the economy but also strengthened Vietnam’s position in the international arena. However, the socialist-oriented market economy in Vietnam still faces several limitations. In the new era, Vietnam needs to further improve its institutional framework and decisively implement strategic tasks to continue affirming the superiority of the socialist-oriented market economy.
Keywords: socialist-oriented market economy; new era; Vietnam
1. Đặt vấn đề
Kinh tế thị trường là sản phẩm văn minh của nhân loại (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2018, tr.118). Phát triển kinh tế thị trường trở thành xu hướng của phần lớn các nền kinh tế trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể lựa chọn mô hình phù hợp với điều kiện của mình. Từ năm 1986, Việt Nam đổi mới tư duy, phát triển kinh tế nhiều thành phần. Đến Đại hội lần thứ IX của Đảng, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được xác định là mô hình tổng quát trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Đó là “nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế, vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; bảo đảm định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm mục tiêu ‘dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh’” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.128). Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một tất yếu khách quan để Việt Nam bảo đảm mục tiêu kinh tế, giữ vững tính định hướng xã hội chủ nghĩa, khắc phục những khuyết tật của thị trường và gia tăng năng lực nội sinh quốc gia. Bước vào kỷ nguyên mới, cần tiếp tục phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa để thực hiện thắng lợi mục tiêu xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng, khẳng định vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp để hệ thống hóa quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và làm rõ thực tiễn phát triển mô hình này ở Việt Nam. Phương pháp lịch sử, logic được vận dụng nhằm khái quát quá trình hình thành, phát triển tư duy lý luận của Đảng về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ đổi mới. Bên cạnh đó, bài viết sử dụng phương pháp thống kê, đối chiếu một số số liệu kinh tế – xã hội, văn kiện của Đảng, văn bản của Nhà nước và báo cáo của các cơ quan, tổ chức có liên quan để nhận diện kết quả, hạn chế và đề xuất giải pháp phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Thực tiễn phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam hiện nay
Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là chủ trương nhất quán của Đảng trong thời kỳ đổi mới. Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định đẩy mạnh phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong sáu nhiệm vụ trọng tâm. Theo đó, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa hiện đại, hội nhập quốc tế, đáp ứng yêu cầu phát triển lực lượng sản xuất mới, trong đó, các thành phần kinh tế được bình đẳng trong tiếp cận các nguồn lực; kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Cụ thể hóa chủ trương này, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 “về phát triển kinh tế tư nhân”; Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 “về phát triển kinh tế nhà nước”. Chính phủ cũng ban hành kế hoạch, chương trình hành động thực hiện các nghị quyết của Bộ Chính trị. Sự quyết liệt, khẩn trương ban hành, triển khai nghị quyết phát triển các thành phần kinh tế xuất phát từ những thành công, hạn chế cùng những yêu cầu phát triển nền kinh tế trong kỷ nguyên mới.
Thứ nhất, những kết quả đạt được
Một là, gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế
Về ổn định kinh tế vĩ mô: Sau 40 năm đổi mới, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam ngày càng được khẳng định là một mô hình ưu việt, mang lại những thành tựu to lớn về tăng trưởng kinh tế, ổn định kinh tế vĩ mô. Các thành phần kinh tế ngày càng có những đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế quốc gia: “Kinh tế nhà nước từng bước phát huy được vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể phát triển và chuyển đổi sang mô hình kiểu mới phù hợp hơn với kinh tế thị trường hiện đại. Kinh tế tư nhân ngày càng khẳng định là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài là bộ phận quan trọng của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.108-109). Với việc đa dạng các hình thức sở hữu, loại hình doanh nghiệp, các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh, sáng tạo, góp phần tạo đà tăng trưởng và ổn định kinh tế vĩ mô.
Quy mô nền kinh tế không ngừng gia tăng, với GDP tăng từ 446 nghìn tỉ đồng vào năm 1986 lên 3,847 triệu tỉ đồng vào năm 2020, 10,22 triệu tỉ đồng năm 2023 và 12,8 triệu tỉ đồng năm 2025 (Cục Thống kê, 2026a). GDP Việt Nam tăng gấp hơn 50 lần so với năm 1986, là một trong những nền kinh tế có quy mô tăng nhanh trên thế giới. Tốc độ tăng trưởng kinh tế Việt Nam thuộc nhóm cao trong khu vực và thế giới. Ngay trong thời kỳ đại dịch COVID-19 bùng phát, Việt Nam cũng là một trong những quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhất trên thế giới.
Cùng với những kết quả tích cực từ tăng trưởng kinh tế, tỉ lệ lạm phát được kiểm soát tốt. Năm 2025, tỉ lệ lạm phát bình quân của Việt Nam tiếp tục được duy trì ở mức một con số, tăng 3,21% so với năm trước (Cục Thống kê, 2026b, tr.36); các cân đối lớn được bảo đảm. Với quy mô dân số hơn 100 triệu dân, thị trường tiêu dùng Việt Nam có quy mô lớn trong khu vực ASEAN. Đây không chỉ là kết quả đáng ghi nhận trong phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà còn là điều kiện quan trọng để Việt Nam thực hiện những bước phát triển mới trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2025 – 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Về phát triển lực lượng lao động: Phát triển nguồn nhân lực được xác định là một trong những nhiệm vụ đột phá trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong suốt 40 năm đổi mới, Việt Nam luôn quan tâm đến các chính sách y tế, giáo dục. Lực lượng lao động qua đào tạo liên tục tăng. Lao động qua đào tạo giai đoạn 2021 – 2025 tăng 3,2%, năm 2025 đạt 29,2%, đạt mục tiêu đề ra (Chính phủ, 2025a). Lực lượng lao động dồi dào, dần được nâng cao về chất lượng là động lực quan trọng để Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Về khoa học, công nghệ: Từ khi phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, khoa học, công nghệ luôn được xác định là lĩnh vực quan trọng. “Phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước đã có chuyển biến tích cực, từng bước khẳng định vai trò động lực trong phát triển kinh tế – xã hội” (Bộ Chính trị, 2024a). Đến nay, tiềm lực khoa học, công nghệ ở nước ta đã được nâng lên, nhiều thành tựu khoa học, công nghệ đóng góp tích cực trong các lĩnh vực của đời sống xã hội. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 của Việt Nam xếp thứ 44/139 quốc gia, vùng lãnh thổ (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.112). Cùng với việc phát triển, ứng dụng khoa học, công nghệ trên tất cả các lĩnh vực, năng suất các nhân tố tổng hợp trong nền kinh tế cũng gia tăng. Đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế năm 2025 đạt khoảng 47% (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.47). Trình độ khoa học, công nghệ được nâng cao là một trong những yếu tố đóng góp quan trọng vào thành tựu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam.
Hai là, gia tăng vị thế quốc tế của nền kinh tế Việt Nam
Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta ngày càng khẳng định được vị thế trên bản đồ kinh tế thế giới. Tính đến tháng 01/2026, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện với 15 quốc gia (Hoàng Hà, 2026), thiết lập quan hệ ngoại giao với 193/193 quốc gia là thành viên Liên hợp quốc. Sau 40 năm đổi mới, Việt Nam đã tham gia 17 hiệp định thương mại tự do với khoảng 60 nền kinh tế (Thảo Niên, 2025). Trong đó, có một số FTA lớn, như EVFTA, CPTPP và RCEP. Khi tham gia những “sân chơi” lớn này, hàng hóa Việt Nam có cơ hội tiếp cận những thị trường lớn; đồng thời, thị trường Việt Nam, doanh nghiệp Việt Nam dần phát triển để cạnh tranh với hàng hóa và doanh nghiệp nước ngoài. Nền kinh tế Việt Nam là nền kinh tế có độ mở thương mại lớn, dần trở thành mắt xích quan trọng trong chuỗi giá trị toàn cầu.
Ba là, các vấn đề xã hội được giải quyết tốt
Xóa đói, giảm nghèo là một trong những thành tựu nổi bật của Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Cuối những năm 1980, tỉ lệ đói nghèo tại Việt Nam gần 70% (Lê Minh Hoan, 2025); đến năm 2025, tỉ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo đa chiều ở nước ta còn khoảng 1,3% (Cục Thống kê, 2026a). Từ một quốc gia nghèo, Việt Nam đã nhanh chóng vươn lên nước có thu nhập trung bình, công tác xóa đói, giảm nghèo được thực hiện hiệu quả. Đây là minh chứng rõ nét cho tính đúng đắn của mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đã lựa chọn.
Cùng với chính sách phát triển kinh tế, xóa đói, giảm nghèo, công tác an sinh xã hội cũng được thực hiện kịp thời. Chính sách miễn, giảm học phí cho học sinh được triển khai trên cả nước từ tháng 9/2025 (Chính phủ, 2025b). Chính sách đối với người có công, thân nhân của người có công với cách mạng; công tác khám, chữa bệnh miễn phí cho các đối tượng thụ hưởng được thực hiện hiệu quả. Năm 2025, tổng hỗ trợ cho người có công và thân nhân người có công với cách mạng là gần 50,3 nghìn tỉ đồng; hỗ trợ đối tượng bảo trợ xã hội theo Nghị định số 20/2021/NĐ-CP là hơn 34,2 nghìn tỉ đồng; hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ có hoàn cảnh khó khăn, hộ chính sách xã hội không thuộc Nghị định số 20/2021/NĐ-CP là gần 4,7 nghìn tỉ đồng; hỗ trợ bất thường phát sinh tại địa phương là hơn 3,2 nghìn tỉ đồng (Cục Thống kê, 2026a).
Phát triển công nghệ thông tin không chỉ mang lại những kết quả to lớn trong phát triển kinh tế, mà còn góp phần nâng cao đời sống tinh thần của người dân. Hiện nay, người dân sử dụng internet để thực hiện các dịch vụ công trực tuyến, nắm bắt thông tin, liên lạc, tham gia vào “thế giới phẳng”. Các chính sách an sinh xã hội được quan tâm không chỉ góp phần nâng cao đời sống của người dân, mà còn là yếu tố thúc đẩy phát triển kinh tế, ổn định trật tự xã hội, bảo đảm mục tiêu phát triển bền vững đất nước.
Thứ hai, một số hạn chế trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Một là, thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa chưa đồng bộ. Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là thể chế sở hữu, cơ chế, chính sách thúc đẩy phát triển thành phần kinh tế, loại hình doanh nghiệp còn nhiều quy định mâu thuẫn, chồng chéo, không phù hợp, gây khó khăn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.116). Việc phân bổ nguồn lực giữa các thành phần kinh tế chưa được giải quyết thấu đáo, chưa tạo được không gian tăng trưởng để kinh tế tư nhân bứt phá. Một số thị trường chưa có môi trường để phát triển đồng bộ, như thị trường bất động sản, thị trường lao động, thị trường vàng.
Hai là, năng lực nội sinh nền kinh tế chưa tương xứng với tiềm năng. Bên cạnh những thành tựu đáng ghi nhận về tốc độ, quy mô tăng trưởng kinh tế, tốc độ gia tăng năng suất lao động của Việt Nam còn thấp hơn nhiều nước trong khu vực. Năm 2025, năng suất lao động tăng 6,83% so với năm 2024 (Cục Thống kê, 2026a), nhưng năm 2024, trong khu vực Đông Nam Á, năng suất lao động của Việt Nam vẫn xếp sau Singapore, Brunei, Malaysia, Thái Lan, Indonesia (Tăng Văn Khiên & Nguyễn Thị Mão, 2026). So với thế giới, năng suất lao động của Việt Nam còn thấp và cải thiện chậm (Nguyễn Thanh Nghị, 2026). Với thị trường hơn 100 triệu dân và quy mô nền kinh tế lớn trong khu vực, Việt Nam có tiềm lực kinh tế lớn nhưng chưa được khai thác hiệu quả.
Bên cạnh đó, trình độ khoa học, công nghệ Việt Nam chưa trở thành động lực tăng trưởng lớn nhất của nền kinh tế. Với hơn 940 nghìn doanh nghiệp, 05 triệu hộ kinh doanh, trình độ khoa học, công nghệ của các chủ thể kinh tế còn hạn chế, chưa tạo được sức bật trong đổi mới sáng tạo để Việt Nam có thể bứt phá nhanh (Bộ Chính trị, 2025). Việc làm chủ yếu trong các lĩnh vực chế biến, chế tạo, dịch vụ; thị trường tiêu thụ trong nước chưa thực sự trở thành nội lực để sản xuất tăng trưởng nhanh, bền vững.
Ba là, đóng góp giá trị trong chuỗi giá trị toàn cầu chưa cao, chưa tạo được liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài. Nền kinh tế tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu chủ yếu ở khâu gia công, có hàm lượng giá trị gia tăng chưa cao; các ngành công nghiệp trong nước chủ yếu dựa vào thâm dụng lao động giá rẻ, lắp ráp, gia công.
Thu hút FDI chưa tạo được liên kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước. Việt Nam là một trong những quốc gia thu hút FDI khá tốt trong khu vực, nhưng chưa tạo được một hệ sinh thái đủ phong phú để các doanh nghiệp trong nước có thể tham gia. Năm 2024, tỉ lệ doanh nghiệp FDI mua hàng hóa, dịch vụ từ doanh nghiệp tư nhân trong nước là 67,4%, giảm so với tỉ lệ 75,0% năm 2023, nhưng vẫn cao hơn so với những năm 2022 trở về trước (Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, 2024, tr.112). Có thể thấy, doanh nghiệp FDI với số lượng ít nhưng là chủ thể chi phối tăng trưởng việc làm tại Việt Nam. Các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là doanh nghiệp tư nhân, chủ yếu hướng tới khai thác thị trường trong nước, chưa đầu tư và mở rộng thị trường ra nước ngoài. Do đó, tính liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước còn tương đối lỏng lẻo, doanh nghiệp ít có cơ hội tiếp cận công nghệ, kỹ thuật quản lý từ các doanh nghiệp FDI.
3.2. Một số giải pháp phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới
Trong kỷ nguyên mới của dân tộc, trước yêu cầu phát triển đất nước nhanh, bền vững, cùng tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cần tập trung một số giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Để phát huy các yếu tố nội sinh của nền kinh tế, việc tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là hoạt động quan trọng, cấp bách. Các thể chế được xây dựng cần hạn chế tối đa sự chồng chéo, mâu thuẫn, bảo đảm tạo dựng môi trường để các loại thị trường phát triển đồng bộ, các thành phần kinh tế thực sự được tiếp cận nguồn lực thuận lợi, công bằng, tương ứng với vị trí, vai trò được xác định. Nghị quyết số 79-NQ/TW đã tái định vị vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa (Bộ Chính trị, 2026). Trong thời gian tới, cần quyết liệt, khẩn trương triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 79-NQ/TW, tạo dựng môi trường phát triển hiện đại của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Các thể chế cần được thiết kế theo hướng hiện đại, bảo đảm sự phù hợp, hài hòa giữa mục tiêu kinh tế và mục tiêu xã hội. Phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa nhằm thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”. Nhà nước cần có cơ chế, chính sách để huy động nguồn lực xã hội, phát huy vai trò, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá doanh nghiệp, trong đó có các tiêu chí về thực hiện trách nhiệm xã hội. Trong thu hút FDI, Việt Nam cần có lộ trình phù hợp về tỉ lệ nội địa hóa, quy định chặt chẽ hơn về công nghệ được sử dụng và quá trình đổi mới công nghệ của các doanh nghiệp này. Cùng với nguồn lực nhà nước và nguồn lực xã hội, Việt Nam cần tập trung phát triển hệ thống an sinh xã hội toàn diện, bền vững, nhất là các chính sách đầu tư cho giáo dục, y tế, mở rộng đối tượng thụ hưởng, bảo đảm nguồn nhân lực có thể lực, trí lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước.
Thứ hai, đầu tư nguồn lực để gia tăng năng lực nội sinh nền kinh tế
Chú trọng các hoạt động kinh tế từ nền tảng khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và các hoạt động kinh tế có giá trị gia tăng cao trong chuỗi giá trị toàn cầu. Cần quyết liệt thực hiện các chính sách phát triển khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, gia tăng giá trị trong hàng hóa của Việt Nam theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” (Bộ Chính trị, 2024b). Bên cạnh các chính sách mới, chính sách ưu đãi để doanh nghiệp đổi mới sáng tạo tiếp cận nguồn lực tài chính, đất đai, ưu đãi thuế, cần tập trung tuyên truyền để khơi dậy sự sáng tạo, niềm tự hào, tự tôn dân tộc trong các tầng lớp nhân dân, tạo nền móng vững chắc trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số quốc gia.
Gia tăng tỉ lệ lao động qua đào tạo, tỉ lệ lao động chất lượng cao là điều kiện tiên quyết để tăng năng lực nội sinh nền kinh tế. Việt Nam cần tiếp tục đổi mới, hoàn thiện và đồng bộ thể chế phát triển giáo dục, đào tạo; thiết kế các cơ chế, chính sách phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trong đó chú trọng đào tạo theo yêu cầu của thị trường và thu hút, đãi ngộ nhân tài.
Thứ ba, tiếp tục thực hiện hiệu quả các cam kết quốc tế, nâng cao vị thế của kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Thời gian tới, việc thực hiện đầy đủ các cam kết từ các hiệp định thương mại tự do và hiệp định thương mại tự do thế hệ mới đặt ra cho Việt Nam không ít thách thức từ chính sách kinh tế và phi kinh tế. Đó không chỉ là vấn đề lao động, môi trường, mà nền kinh tế Việt Nam cũng chịu ràng buộc về các điều kiện nội khối, đặc biệt là nguồn nguyên liệu tiêu chuẩn. Điều này vừa mang lại cơ hội đổi mới sáng tạo cho nền kinh tế Việt Nam, vừa tạo sức ép cạnh tranh lên doanh nghiệp nhỏ và vừa (nhóm đang chiếm hơn 90% tổng số doanh nghiệp trong nền kinh tế Việt Nam). Do đó, Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương cần sẵn sàng đầu tư các nguồn lực phù hợp để tạo dựng môi trường, hỗ trợ doanh nghiệp trong bối cảnh mới.
4. Kết luận
Trong kỷ nguyên mới, trước những yêu cầu ngày càng cao từ thị trường quốc tế và đòi hỏi gia tăng năng lực nội sinh của nền kinh tế quốc gia, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, mà còn cần sức mạnh tổng hợp của toàn xã hội. Phát huy thành công, khắc phục hạn chế của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam không chỉ khẳng định đây là “một kiểu kinh tế thị trường mới trong lịch sử phát triển của kinh tế thị trường”, mà còn khẳng định tính đúng đắn trong lựa chọn mô hình kinh tế này ở Việt Nam./.
Ngày nhận bài: 26/02/2026; ngày thẩm định: 02/3/2026; ngày duyệt đăng: 27/4/2026
Email liên hệ: [email protected]
(Tạp chí Khoa học chính trị số 03/2026)
