ThS. PHẠM ANH DƯỠNG
Bộ Công an
ThS. LÊ MINH PHƯƠNG
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Minh bạch và trách nhiệm giải trình là những nguyên tắc nền tảng của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, có vai trò đặc biệt quan trọng trong phòng, chống lợi ích nhóm trong hoạt động xây dựng pháp luật. Thực tiễn cho thấy, sự thiếu minh bạch và hạn chế về trách nhiệm giải trình trong một số khâu của quy trình xây dựng pháp luật đã tạo điều kiện để lợi ích nhóm tác động, chi phối nội dung chính sách, nhất là trong các lĩnh vực kinh tế, tài chính, đất đai, đấu thầu, đầu tư công và quản lý tài sản công. Trên cơ sở phân tích các vấn đề lý luận và thực tiễn công tác xây dựng pháp luật, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, bài viết làm rõ vai trò của minh bạch và trách nhiệm giải trình như những công cụ quan trọng nhằm ngăn chặn lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật; đồng thời, đề xuất một số giải pháp góp phần hoàn thiện cơ chế phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ sớm.
Từ khóa: minh bạch; lợi ích nhóm; Nhà nước pháp quyền; trách nhiệm giải trình; xây dựng pháp luật
TRANSPARENCY, ACCOUNTABILITY, AND THE PREVENTION OF VESTED-INTEREST INFLUENCE IN LAW-MAKING ACTIVITIES
Abstract: Transparency and accountability are foundational principles of the socialist rule-of-law state and play a critical role in preventing and countering the undue influence of vested interests in law-making. In practice, insufficient transparency and weak accountability at certain stages of the law-making process have created opportunities for vested interests to intervene in, distort, and steer policy content, particularly in the fields of economics, finance, land administration, public procurement, public investment, and the management of public assets. Drawing on theoretical and practical analyses of law-making and of the prevention and control of corruption and other negative phenomena, the article clarifies transparency and accountability as key institutional safeguards against vested-interest influence in law-making. It also proposes several solutions to improve mechanisms for the early prevention and control of corruption and other negative phenomena.
Keywords: transparency; accountability; group interests; law-making; rule-of-law state.
1. Đặt vấn đề
Xây dựng pháp luật là hoạt động có ý nghĩa quyết định trong việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, giữ vững kỷ cương, pháp luật và tạo lập môi trường phát triển ổn định, công bằng, minh bạch.
Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới, yêu cầu hoàn thiện thể chế ngày càng trở nên cấp thiết. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị “về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” xác lập tư duy mới về pháp luật, coi pháp luật không chỉ là công cụ quản lý, mà còn là nền tảng, hạ tầng phát triển, cần được hoàn thiện đi trước một bước để tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế, tạo điều kiện cho các đột phá phát triển phát huy hiệu quả (Bộ Chính trị, 2025). Hệ thống pháp luật hiện đại, khả thi, minh bạch và được thực thi nghiêm minh sẽ là nền tảng để nâng cao năng suất quốc gia, năng lực quản trị và sự phát triển bền vững của nền kinh tế.
Kết luận số 09-KL/TW ngày 10/3/2026 của Bộ Chính trị “về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới” tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu xây dựng hệ thống pháp luật đồng bộ, minh bạch, hiện đại, dựa trên dữ liệu và thúc đẩy đổi mới sáng tạo (Bộ Chính trị, 2026). Các định hướng này cho thấy, công tác xây dựng pháp luật đang được đặt ở vị trí trung tâm của quá trình đổi mới thể chế, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ sớm.
Trong bối cảnh đó, hoạt động xây dựng pháp luật, với tư cách là quá trình phân bổ quyền lực, nguồn lực và lợi ích xã hội, ngày càng chịu tác động của nhiều nhóm lợi ích khác nhau. Sự tham gia của các chủ thể xã hội vào quá trình xây dựng chính sách, pháp luật là cần thiết trong nhà nước pháp quyền và nền quản trị hiện đại. Tuy nhiên, nếu thiếu cơ chế kiểm soát hiệu quả, đặc biệt là thiếu minh bạch và trách nhiệm giải trình, thì nguy cơ lợi ích nhóm chi phối chính sách là hiện hữu. Khi đó, chính sách có thể bị thiết kế theo hướng phục vụ lợi ích cục bộ, làm sai lệch mục tiêu công, suy giảm niềm tin xã hội và tạo tiền đề cho tham nhũng chính sách.
Do đó, việc nghiên cứu làm rõ vai trò của minh bạch và trách nhiệm giải trình trong phòng, chống lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, đặc biệt đối với yêu cầu xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam trong giai đoạn hiện nay. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp, kết hợp giữa nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn xây dựng pháp luật, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực. Dữ liệu được tham chiếu từ các văn kiện của Đảng, văn bản pháp luật, báo cáo của Chính phủ, Bộ Tư pháp, Quốc hội, chỉ số quản trị công PAPI và một số vụ án tham nhũng, kinh tế điển hình, qua đó làm rõ mối liên hệ giữa minh bạch, trách nhiệm giải trình và nguy cơ lợi ích nhóm trong hoạt động xây dựng pháp luật.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Thực trạng tính minh bạch, trách nhiệm giải trình trong xây dựng pháp luật
Thực tiễn xây dựng pháp luật ở Việt Nam cho thấy, mặc dù hệ thống pháp luật về ban hành văn bản quy phạm pháp luật đã từng bước được hoàn thiện, tiệm cận các chuẩn mực quản trị hiện đại, nhưng mức độ minh bạch và trách nhiệm giải trình trong một số khâu của quy trình lập pháp vẫn còn những hạn chế đáng lưu ý.
Thứ nhất, tính minh bạch trong công khai thông tin về chính sách và dự thảo văn bản chưa được bảo đảm đầy đủ và thực chất. Nhiều trường hợp việc công khai còn chậm, thiếu chiều sâu, đặc biệt đối với các nội dung cốt lõi như báo cáo đánh giá tác động chính sách, phương án lựa chọn chính sách, chi phí – lợi ích của từng phương án hoặc các vấn đề còn có ý kiến khác nhau. Theo Báo cáo Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam năm 2024, PAPI đo lường trải nghiệm và cảm nhận của người dân về hiệu quả quản trị, trong đó có các nội dung liên quan đến công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình và sự tham gia của người dân ở cấp cơ sở; kết quả khảo sát cho thấy vẫn còn những khác biệt đáng kể giữa các địa phương về mức độ công khai, minh bạch và hiệu quả thực thi chính sách (CECODES & cộng sự, 2025). Điều này cho thấy, mức độ tiếp cận thông tin và tham gia của người dân vào quá trình chính sách còn có khoảng cách, làm giảm vai trò giám sát xã hội – một cơ chế quan trọng để kiểm soát quyền lực trong xây dựng pháp luật.
Thứ hai, trách nhiệm giải trình trong xây dựng pháp luật ở một số trường hợp còn mang tính hình thức. Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý ý kiến góp ý trong nhiều trường hợp chủ yếu dừng lại ở việc tổng hợp, liệt kê, chưa làm rõ căn cứ khoa học, thực tiễn và pháp lý của việc tiếp thu hoặc không tiếp thu từng nhóm ý kiến. Báo cáo tổng kết công tác xây dựng, thi hành pháp luật của Bộ Tư pháp năm 2025 cũng chỉ ra rằng, một số quy định pháp luật còn thiếu chặt chẽ, chưa theo kịp thực tiễn, làm phát sinh khó khăn trong tổ chức thực hiện và có thể bị lợi dụng trong thực tiễn áp dụng (Bộ Tư pháp, 2025). Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng chính sách, mà còn làm “mờ” trách nhiệm của các chủ thể tham mưu và quyết định, từ đó tạo điều kiện cho các tác động không minh bạch, trong đó có lợi ích nhóm, len lỏi vào quá trình xây dựng pháp luật.
Bên cạnh đó, cơ chế xác định và ràng buộc trách nhiệm cá nhân chưa rõ ràng. Trong khi trách nhiệm tập thể được đề cao, thì trách nhiệm cá nhân trong từng khâu của quy trình lập pháp chưa được quy định và thực thi tương xứng. Điều này dẫn đến khó truy cứu trách nhiệm khi chính sách bộc lộ bất cập, gây hậu quả hoặc bị lợi dụng. “Khoảng trống trách nhiệm” này làm suy yếu cơ chế kiểm soát quyền lực, gia tăng nguy cơ chi phối chính sách bởi các lợi ích cục bộ.
Thực tiễn cũng cho thấy áp lực lập pháp ngày càng lớn, đặt ra yêu cầu cao đối với chất lượng thẩm định, thẩm tra và giải trình. Tại Kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa XV năm 2025, Quốc hội đã thông qua nhiều luật và nghị quyết, trong đó có nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng (Cổng Thông tin điện tử Quốc hội, 2025). Khối lượng công việc lớn tạo sức ép đáng kể lên các khâu của quy trình lập pháp, đặc biệt là đánh giá tác động, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu và giải trình. Nếu không được kiểm soát tốt, áp lực về tiến độ có thể làm suy giảm chất lượng phản biện, giảm chiều sâu thẩm tra và gia tăng nguy cơ cài cắm lợi ích cục bộ trong chính sách.
Báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực năm 2025 của Chính phủ và Báo cáo tổng kết công tác xây dựng, thi hành pháp luật của Bộ Tư pháp năm 2025 cho thấy một số quy định pháp luật còn thiếu chặt chẽ, chưa theo kịp thực tiễn, thậm chí có thể bị lợi dụng để hợp thức hóa hành vi vi phạm (Chính phủ, 2025; Bộ Tư pháp, 2025). Điều này cho thấy mối liên hệ trực tiếp giữa hạn chế về minh bạch, trách nhiệm giải trình với nguy cơ phát sinh lợi ích nhóm và tham nhũng chính sách.
Từ các phân tích trên, có thể nhận diện một số hạn chế chủ yếu trong xây dựng pháp luật gắn trực tiếp với nguy cơ lợi ích nhóm như sau:
Một là, chậm trễ và thiếu đồng bộ của hệ thống pháp luật làm phát sinh khoảng trống hoặc xung đột pháp lý, tạo điều kiện cho việc vận dụng tùy tiện và cơ chế “xin – cho”, qua đó làm giảm tính minh bạch và khả năng kiểm soát quyền lực.
Hai là, phân cấp, phân quyền chưa gắn chặt với trách nhiệm giải trình dẫn đến tình trạng nhiều chủ thể cùng tham gia nhưng không rõ trách nhiệm, làm suy yếu cơ chế kiểm soát và tạo điều kiện cho lợi ích nhóm tác động vào quá trình quyết định chính sách.
Ba là, tổ chức bộ máy và cơ chế phối hợp chưa hiệu quả khiến thông tin bị phân tán, thiếu liên thông, làm giảm tính minh bạch trong quá trình xây dựng pháp luật và hạn chế khả năng giám sát.
Bốn là, năng lực và động lực của đội ngũ cán bộ còn hạn chế, cùng với tâm lý sợ sai, né tránh trách nhiệm, làm giảm chất lượng tham mưu chính sách, đồng thời tạo môi trường thuận lợi cho các tác động không chính thức, thiếu minh bạch.
Năm là, cơ chế giám sát, phản biện và đánh giá chính sách chưa thật sự hiệu quả, thiếu tính độc lập, dẫn đến việc phát hiện và xử lý các biểu hiện lợi ích nhóm chưa kịp thời.
Sáu là, hành lang pháp lý cho các lĩnh vực mới như chuyển đổi số, dữ liệu, kinh tế số, trí tuệ nhân tạo, kinh tế nền tảng còn thiếu đồng bộ, tạo ra khoảng trống thể chế – môi trường tiềm ẩn nguy cơ bị lợi dụng để thiết kế chính sách theo lợi ích cục bộ.
Những hạn chế này không chỉ ảnh hưởng đến chất lượng pháp luật, mà còn trực tiếp làm giảm tính minh bạch, trách nhiệm giải trình, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho lợi ích nhóm hình thành và phát triển trong quá trình xây dựng pháp luật.
2.2. Nguy cơ của lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật
Lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật đặt ra nhiều nguy cơ đối với quản trị quốc gia, Nhà nước pháp quyền và phát triển bền vững.
Thứ nhất, lợi ích nhóm làm méo mó quá trình phân bổ nguồn lực, ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả phát triển kinh tế – xã hội. Khi chính sách bị chi phối bởi lợi ích cục bộ, nguồn lực không được phân bổ theo nguyên tắc công bằng, hiệu quả, minh bạch và lợi ích chung, làm suy giảm hiệu quả toàn hệ thống. Trong những lĩnh vực có nguồn lực lớn như đất đai, ngân sách, đầu tư công, tài sản công, đấu thầu hoặc quy hoạch, lợi ích nhóm có thể tạo ra đặc quyền, đặc lợi, làm thất thoát nguồn lực và cản trở cạnh tranh lành mạnh.
Thứ hai, lợi ích nhóm làm lệch bản chất của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, nơi pháp luật phải phản ánh ý chí, lợi ích của nhân dân và bảo vệ lợi ích chung. Khi lợi ích nhóm chi phối, pháp luật có nguy cơ trở thành công cụ phục vụ một bộ phận thay vì phục vụ Nhà nước, nhân dân và xã hội. Điều này làm suy yếu tính chính danh của chính sách, pháp luật và làm giảm niềm tin của xã hội vào công lý, công bằng.
Thứ ba, lợi ích nhóm có thể xâm hại quyền con người, quyền công dân do các quy định pháp luật bị thiết kế thiên lệch hoặc bị lợi dụng trong quá trình thực thi. Thực tiễn một số vụ án như vụ án “chuyến bay giải cứu” cho thấy, sự thiếu minh bạch và kiểm soát quyền lực trong chính sách có thể tạo điều kiện cho cơ chế “xin – cho”, làm phát sinh tiêu cực, chi phí không chính thức và gánh nặng cho người dân (Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, 2023b).
Thứ tư, lợi ích nhóm làm giảm chất lượng và tính ổn định của hệ thống pháp luật. Các quy định bị chi phối bởi lợi ích cục bộ thường thiếu tính phổ quát, dễ chồng chéo, thiếu khả thi, tuổi thọ chính sách ngắn, phải sửa đổi nhiều lần, gây lãng phí nguồn lực xã hội và làm giảm hiệu lực quản lý nhà nước.
Thứ năm, lợi ích nhóm là tiền đề của tham nhũng chính sách. Các vụ án kinh tế, tham nhũng lớn, như vụ việc liên quan đến Công ty Việt Á, cho thấy nguy cơ móc nối giữa các chủ thể có quyền lực và các chủ thể hưởng lợi để trục lợi từ cơ chế, chính sách, quy trình cấp phép, mua sắm, đấu thầu hoặc phân bổ nguồn lực công (Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, 2023a). Khi tham nhũng chính sách xảy ra, hậu quả không chỉ là thiệt hại vật chất mà còn là sự suy giảm niềm tin xã hội và sự biến dạng của thiết chế pháp quyền.
Như vậy, những hạn chế về minh bạch và trách nhiệm giải trình trong xây dựng pháp luật không chỉ là vấn đề kỹ thuật lập pháp, mà còn là nguồn gốc sâu xa của nguy cơ lợi ích nhóm và tham nhũng chính sách. Nếu không được khắc phục kịp thời, những yếu tố này tiếp tục làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước, chất lượng hệ thống pháp luật và niềm tin của xã hội đối với pháp luật.
2.3. Giải pháp tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và phòng, chống lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu hoàn thiện đồng bộ thể chế, kiểm soát quyền lực hiệu quả, phòng, chống tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026). Nghị quyết số 66-NQ/TW năm 2025 xác định pháp luật là hạ tầng phát triển, đồng thời đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng xây dựng và thi hành pháp luật, bảo đảm minh bạch, khơi thông nguồn lực và loại bỏ nguy cơ lợi ích cục bộ trong chính sách (Bộ Chính trị, 2025).
Phòng, chống lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật không chỉ là yêu cầu kỹ thuật lập pháp, mà còn là nhiệm vụ chính trị – pháp lý trọng tâm, gắn với mục tiêu xây dựng hệ thống pháp luật công khai, minh bạch, thống nhất, khả thi và phục vụ lợi ích chung của xã hội. Để thực hiện hiệu quả yêu cầu này, cần triển khai đồng bộ một số giải pháp sau:
Thứ nhất, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trong xây dựng pháp luật gắn với kiểm soát quyền lực
Sự lãnh đạo của Đảng là điều kiện tiên quyết để định hướng đúng đắn nội dung chính sách, bảo đảm pháp luật phản ánh lợi ích của nhân dân, lợi ích của quốc gia – dân tộc và mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, cùng với việc bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, cần tăng cường cơ chế kiểm tra, giám sát việc thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng thành chính sách, pháp luật, bảo đảm quá trình này không bị chi phối bởi các lợi ích cục bộ.
Nội dung này cần gắn chặt với yêu cầu kiểm soát xung đột lợi ích, minh bạch tài sản, thu nhập và trách nhiệm giải trình theo quy định của pháp luật hiện hành. Các cơ quan tham mưu, soạn thảo và thẩm định chính sách phải chịu trách nhiệm làm rõ mức độ phù hợp giữa nội dung dự thảo văn bản với chủ trương của Đảng, Hiến pháp, pháp luật và lợi ích chung. Đặc biệt, đối với các chính sách liên quan đến phân bổ nguồn lực lớn, tác động rộng hoặc có khả năng tạo đặc quyền, đặc lợi, cần có cơ chế giám sát chính trị – pháp lý chặt chẽ hơn để kịp thời phát hiện nguy cơ cài cắm lợi ích nhóm.
Thứ hai, hoàn thiện quy trình xây dựng pháp luật theo hướng minh bạch, thực chất
Trọng tâm của giải pháp này là kiểm soát chặt chẽ các khâu dễ bị tác động trong quy trình lập pháp, bao gồm: lập đề nghị xây dựng văn bản, đánh giá tác động chính sách, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, giải trình, tiếp thu và chỉnh lý dự thảo. Theo đó:
Cần công khai đầy đủ, kịp thời hồ sơ chính sách và dự thảo văn bản. Việc công bố cần bao gồm toàn bộ tài liệu liên quan, đặc biệt là báo cáo đánh giá tác động chính sách, phương án lựa chọn chính sách, các vấn đề còn có ý kiến khác nhau, báo cáo tiếp thu, giải trình và tài liệu thuyết minh. Công khai không chỉ là đăng tải hình thức, mà phải bảo đảm người dân, doanh nghiệp, hiệp hội, chuyên gia và các chủ thể chịu tác động có đủ thời gian, điều kiện tiếp cận và phản hồi.
Cần nâng cao chất lượng đánh giá tác động chính sách. Việc đánh giá tác động phải được thực hiện khách quan, dựa trên bằng chứng và dữ liệu, làm rõ chi phí – lợi ích của từng phương án chính sách, tác động đến quyền con người, quyền công dân, tác động kinh tế – xã hội, tác động giới, tác động đến doanh nghiệp, ngân sách nhà nước và khả năng thực thi. Đánh giá tác động không được trở thành thủ tục hợp thức hóa phương án đã được định sẵn, mà phải là công cụ thực chất để lựa chọn chính sách tối ưu.
Cần đổi mới cơ chế tiếp thu, giải trình. Báo cáo giải trình phải làm rõ căn cứ khoa học, pháp lý và thực tiễn của từng quyết định tiếp thu hoặc không tiếp thu ý kiến, nhất là đối với các ý kiến phản biện của chuyên gia, doanh nghiệp, đối tượng chịu tác động trực tiếp và cơ quan thẩm định, thẩm tra. Việc công khai báo cáo giải trình sẽ góp phần tăng cường giám sát xã hội, đồng thời làm rõ trách nhiệm của chủ thể đề xuất chính sách.
Cần tăng cường sự tham gia thực chất của người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội. Cần khắc phục tình trạng lấy ý kiến hình thức, chỉ lấy ý kiến trong thời gian ngắn hoặc chỉ tham vấn một số nhóm chủ thể có điều kiện tiếp cận chính sách. Đối với các chính sách có tác động lớn, nên tổ chức tham vấn theo nhiều kênh: hội thảo chuyên gia, tham vấn trực tuyến, lấy ý kiến hiệp hội, tham vấn đối tượng chịu tác động, khảo sát định lượng và phản biện xã hội. Sự tham gia thực chất là điều kiện quan trọng để phát hiện sớm những quy định có nguy cơ bị chi phối bởi lợi ích nhóm.
Thứ ba, hoàn thiện cơ chế kiểm soát quyền lực, kiểm soát xung đột lợi ích trong xây dựng pháp luật
Kiểm soát quyền lực là giải pháp then chốt nhằm ngăn chặn từ gốc nguy cơ lợi ích nhóm. Cần nghiên cứu ban hành các quy định có tính hệ thống về nhận diện, kiểm soát và xử lý lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật, làm cơ sở để cụ thể hóa trách nhiệm pháp lý và xử lý vi phạm khi có dấu hiệu tham nhũng chính sách.
Cần kiểm soát xung đột lợi ích trong xây dựng pháp luật. Phải xác định rõ các tình huống xung đột lợi ích, chẳng hạn: chủ thể tham gia soạn thảo, tư vấn, thẩm định, thẩm tra có quan hệ lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp với nhóm đối tượng được hưởng lợi từ chính sách; chuyên gia phản biện đồng thời là người đại diện cho lợi ích của doanh nghiệp hoặc hiệp hội có liên quan; người có thẩm quyền quyết định chính sách có quan hệ kinh tế, gia đình hoặc lợi ích khác với đối tượng chịu tác động. Trong các trường hợp này, cần có cơ chế công khai, giải trình, hạn chế tham gia hoặc rút khỏi quá trình quyết định chính sách tùy mức độ xung đột lợi ích.
Cần xác lập và ràng buộc trách nhiệm cá nhân trong từng khâu của quy trình lập pháp. Trách nhiệm của cơ quan chủ trì soạn thảo, người đứng đầu cơ quan soạn thảo, tổ biên tập, hội đồng thẩm định, cơ quan thẩm tra, cơ quan tiếp thu, chỉnh lý phải được xác định rõ. Cần gắn trách nhiệm với kết quả và chất lượng chính sách, khắc phục tình trạng trách nhiệm tập thể thiếu hiệu lực. Khi một quy định pháp luật bộc lộ bất cập nghiêm trọng, gây thiệt hại hoặc có dấu hiệu phục vụ lợi ích cục bộ, cần có cơ chế rà soát trách nhiệm của các chủ thể liên quan trong quá trình tham mưu, soạn thảo, thẩm định, thẩm tra và thông qua.
Cần tăng cường cơ chế tự kiểm tra, kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật. Quyết định số 50/2025/QĐ-TTg ngày 25/12/2025 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Quy chế tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc liên tịch ban hành là cơ sở quan trọng để kịp thời phát hiện, xử lý các quy định có dấu hiệu chồng chéo, mâu thuẫn, không phù hợp hoặc bị cài cắm lợi ích cục bộ (Thủ tướng Chính phủ, 2025). Việc tự kiểm tra cần được thực hiện thường xuyên, dựa trên dữ liệu, phản ánh của người dân, doanh nghiệp, cơ quan báo chí, chuyên gia và kết quả thực tiễn thi hành pháp luật.
Cần hoàn thiện cơ chế kiểm tra, giám sát quyền lực trong xây dựng pháp luật. Vai trò của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan báo chí, giới chuyên gia và nhân dân cần được phát huy mạnh mẽ hơn. Đặc biệt, các thiết chế kiểm soát quyền lực phải có đủ thông tin, thẩm quyền và năng lực để phát hiện sớm các biểu hiện vận động chính sách không minh bạch, cài cắm lợi ích cục bộ hoặc làm sai lệch mục tiêu chính sách.
Thứ tư, tăng cường phản biện độc lập và nâng cao chất lượng tham vấn chính sách
Phản biện độc lập từ các chuyên gia, nhà khoa học, hiệp hội nghề nghiệp, tổ chức xã hội, cơ quan báo chí và đối tượng chịu tác động trực tiếp có vai trò quan trọng trong phát hiện và ngăn chặn các yếu tố lợi ích nhóm. Trong nhiều trường hợp, các nguy cơ cài cắm lợi ích cục bộ chỉ có thể được nhận diện khi dự thảo chính sách được phân tích từ nhiều góc độ khác nhau, bởi những chủ thể có chuyên môn, kinh nghiệm thực tiễn và không bị chi phối bởi lợi ích trực tiếp.
Cần thiết lập cơ chế phản biện thực chất, minh bạch, gắn trách nhiệm và uy tín của chủ thể phản biện với chất lượng chính sách. Đối với các dự án luật, pháp lệnh, nghị định hoặc chính sách có tác động lớn, nên có cơ chế đặt hàng phản biện độc lập từ các viện nghiên cứu, trường đại học, hiệp hội nghề nghiệp, chuyên gia có uy tín và tổ chức xã hội. Kết quả phản biện cần được công khai cùng hồ sơ dự thảo văn bản, đồng thời cơ quan soạn thảo phải giải trình rõ việc tiếp thu hoặc không tiếp thu.
Bên cạnh đó, cần nâng cao chất lượng tham vấn chính sách. Tham vấn không chỉ nhằm thu thập ý kiến mà còn là quá trình đối thoại, làm rõ lợi ích, đánh giá tác động và tìm kiếm phương án chính sách tối ưu. Vì vậy, cần thiết kế quy trình tham vấn phù hợp với từng nhóm đối tượng, bảo đảm sự tham gia của nhóm yếu thế, nhóm chịu tác động trực tiếp và nhóm có khả năng bị ảnh hưởng tiêu cực bởi chính sách. Chỉ khi tham vấn chính sách được thực hiện thực chất, minh bạch và có phản hồi hai chiều, mới có thể hạn chế tình trạng một số nhóm có nguồn lực mạnh chi phối quá trình xây dựng pháp luật.
Thứ năm, phát triển hệ thống dữ liệu số và công nghệ hỗ trợ xây dựng pháp luật
Trong bối cảnh chuyển đổi số, dữ liệu và công nghệ cần được sử dụng như công cụ quan trọng để tăng cường minh bạch, trách nhiệm giải trình và kiểm soát lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật. Cần đẩy mạnh xây dựng cơ sở dữ liệu pháp luật, dữ liệu chính sách, dữ liệu phục vụ đánh giá tác động và cơ sở dữ liệu về phản ánh, kiến nghị của người dân, doanh nghiệp đối với văn bản quy phạm pháp luật.
Hệ thống dữ liệu số có thể hỗ trợ truy vết toàn bộ vòng đời chính sách: từ đề xuất chính sách, phân tích tác động, lấy ý kiến, thẩm định, thẩm tra, tiếp thu, giải trình, ban hành đến tổ chức thi hành và đánh giá sau ban hành. Khi các bước này được số hóa và công khai ở mức độ phù hợp, khả năng che giấu tác động lợi ích nhóm sẽ giảm đi, đồng thời trách nhiệm của từng chủ thể trong quy trình sẽ rõ hơn.
Cần ứng dụng công nghệ số để phát hiện sớm các dấu hiệu bất thường trong chính sách, chẳng hạn: quy định tạo ưu đãi bất thường cho một nhóm đối tượng; quy định duy trì điều kiện kinh doanh không cần thiết; quy định tạo rào cản gia nhập thị trường; quy định có nguy cơ làm phát sinh cơ chế xin – cho; hoặc quy định chồng chéo, mâu thuẫn với văn bản hiện hành. Các công cụ phân tích dữ liệu, trí tuệ nhân tạo và hệ thống so sánh văn bản có thể hỗ trợ cơ quan có thẩm quyền, chuyên gia và người dân giám sát chất lượng pháp luật hiệu quả hơn.
Thứ sáu, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ xây dựng pháp luật và phát huy vai trò của các cơ quan bảo vệ pháp luật
Chất lượng xây dựng pháp luật phụ thuộc rất lớn vào năng lực, bản lĩnh, đạo đức công vụ và trách nhiệm của đội ngũ cán bộ làm công tác tham mưu chính sách, pháp chế, thẩm định, thẩm tra và tổ chức thi hành pháp luật. Vì vậy, cần đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ xây dựng pháp luật theo hướng chuyên sâu, hiện đại, liên ngành và dựa trên thực tiễn.
Nội dung đào tạo, bồi dưỡng cần chú trọng kỹ năng đánh giá tác động chính sách, phân tích dữ liệu, nhận diện xung đột lợi ích, kiểm soát tham nhũng chính sách, kỹ năng tham vấn, giải trình, kỹ năng soạn thảo văn bản và năng lực sử dụng công nghệ trong xây dựng pháp luật. Đồng thời, cần cải thiện cơ chế tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ và bảo vệ cán bộ có năng lực, bản lĩnh, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung.
Cần phát huy vai trò của các thiết chế kiểm soát và bảo vệ pháp luật. Các cơ quan thanh tra, kiểm tra, kiểm toán, tư pháp, cơ quan dân cử, cơ quan báo chí và cơ quan bảo vệ pháp luật cần phối hợp chặt chẽ trong giám sát hoạt động xây dựng và thi hành pháp luật. Đặc biệt, lực lượng Công an nhân dân giữ vai trò quan trọng trong phát hiện, điều tra, xử lý các hành vi vi phạm liên quan đến lợi ích nhóm, tham nhũng, kinh tế và chức vụ; đồng thời, thông qua tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm để kiến nghị hoàn thiện pháp luật, bịt kín sơ hở, khoảng trống có thể bị lợi dụng.
Thông qua tổng kết thực tiễn các vụ án tham nhũng, kinh tế, các cơ quan bảo vệ pháp luật không chỉ góp phần xử lý vi phạm mà còn cung cấp luận cứ thực tiễn quan trọng để hoàn thiện thể chế, nâng cao minh bạch và trách nhiệm giải trình trong xây dựng pháp luật. Đây là hướng tiếp cận phòng ngừa từ sớm, từ xa, chuyển từ xử lý hậu quả sang phát hiện, cảnh báo, ngăn chặn nguy cơ lợi ích nhóm ngay từ khâu thiết kế chính sách.
3. Kết luận
Minh bạch và trách nhiệm giải trình là những yếu tố không thể thiếu trong phòng, chống lợi ích nhóm trong hoạt động xây dựng pháp luật. Việc tăng cường các nguyên tắc này không chỉ góp phần nâng cao chất lượng pháp luật mà còn có ý nghĩa quan trọng trong phòng, chống tham nhũng, tiêu cực, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và pháp luật.
Trong kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc, pháp luật cần được nhìn nhận như hạ tầng phát triển, có vai trò kiến tạo, dẫn dắt và khơi thông nguồn lực xã hội. Để pháp luật thực sự phục vụ lợi ích của Nhà nước, nhân dân và xã hội, cần tiếp tục hoàn thiện cơ chế minh bạch, trách nhiệm giải trình gắn với kiểm soát quyền lực, kiểm soát xung đột lợi ích, phản biện độc lập, tham vấn thực chất, ứng dụng công nghệ số và nâng cao trách nhiệm cá nhân trong xây dựng pháp luật.
Phòng, chống lợi ích nhóm trong xây dựng pháp luật là nhiệm vụ phức tạp, đòi hỏi sự kết hợp đồng bộ giữa sự lãnh đạo của Đảng, sự hoàn thiện của thể chế, hiệu quả của các thiết chế kiểm soát quyền lực, năng lực của đội ngũ cán bộ và sự tham gia giám sát của nhân dân. Khi minh bạch và trách nhiệm giải trình được thực hiện thực chất, hoạt động xây dựng pháp luật sẽ trở thành công cụ quan trọng để phòng ngừa tham nhũng, tiêu cực từ sớm, từ xa, bảo đảm pháp luật thực sự là biểu hiện tập trung của lợi ích chung và là nền tảng cho phát triển bền vững./.
—————————————————-
Ngày nhận bài: 26/3/2026; ngày thẩm định: 30/3/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 66-NQ/TW về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Chính trị (2026). Kết luận số 09-KL/TW về hoàn thiện cấu trúc hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
Bộ Tư pháp (2025). Báo cáo tổng kết công tác xây dựng và thi hành pháp luật năm 2025.
CECODES, VFF-CRT, RTA, & UNDP (2025). Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam: Đo lường từ kinh nghiệm thực tiễn của người dân năm 2024. UNDP. https://www.undp.org.
Chính phủ (2025). Báo cáo công tác phòng, chống tham nhũng, tiêu cực năm 2025.
Cổng Thông tin điện tử Quốc hội (14/12/2025). Kỳ họp thứ 10, Quốc hội khóa XV thông qua 39 nghị quyết. https://quochoi.vn.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2013). Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2016). Luật Tiếp cận thông tin.
Quốc hội (2018). Luật Phòng, chống tham nhũng.
Quốc hội (2025a). Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (số 64/2025/QH15).
Quốc hội (2025b). Nghị quyết số 203/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Quốc hội (2025c). Luật số 87/2025/QH15 sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật.
Thủ tướng Chính phủ (2025). Quyết định số 50/2025/QĐ-TTg ban hành Quy chế tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ ban hành hoặc liên tịch ban hành.
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2023a). Bản án hình sự sơ thẩm vụ án Công ty Việt Á.
Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội (2023b). Bản án hình sự sơ thẩm số 319/2023/HS-ST vụ án “chuyến bay giải cứu”.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)
