QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP: TỪ THỂ CHẾ ĐẾN CHỦ THỂ HÓA THỰC THI

QUYỀN LỰC CHÍNH TRỊ Ở CẤP CƠ SỞ TRONG MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG HAI CẤP: TỪ THỂ CHẾ ĐẾN CHỦ THỂ HÓA THỰC THI

TS. NGUYỄN ĐÌNH PHONG
Học viện Chính trị khu vực II

Tóm tắt: Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp ở Việt Nam, cấp cơ sở vừa là nơi tổ chức thực hiện chính sách, vừa là nơi quyền lực chính trị được chuyển hóa trực tiếp thành hành động công vụ, dịch vụ công, đối thoại xã hội và tạo dựng niềm tin của nhân dân. Tiếp cận từ góc độ khoa học chính trị, bài viết nhấn mạnh: quyền lực chính trị ở cấp cơ sở không tự vận hành chỉ nhờ các quy định thể chế, mà phải được chủ thể hóa thông qua đội ngũ cán bộ, công chức và các thiết chế gần dân trong quá trình thực thi. Bên cạnh đó, bài viết làm rõ nội hàm quyền lực chính trị ở cấp cơ sở, căn cứ thể chế, quá trình chủ thể hóa quyền lực trong thực thi và những vấn đề đặt ra đối với việc hoàn thiện mô hình chính quyền địa phương hai cấp; đề xuất một số hàm ý chính sách nhằm bảo đảm quyền lực chính trị ở cấp cơ sở được vận hành theo hướng rõ thẩm quyền, rõ trách nhiệm, minh bạch, có kiểm soát, phục vụ nhân dân và tạo đồng thuận xã hội.
Từ khóa: cán bộ, công chức; cấp cơ sở; chính quyền địa phương hai cấp; chủ thể hóa; quyền lực chính trị; thực thi quyền lực

POLITICAL POWER AT THE GRASSROOTS LEVEL IN THE TWO-TIER LOCAL GOVERNMENT MODEL: FROM INSTITUTIONAL DESIGN TO ACTOR-CENTERED IMPLEMENTATION

Abstract: In Vietnam’s two-tier local government model, the grassroots level serves not only as the arena for policy implementation but also as the sphere in which political power is directly translated into public action, public service delivery, social dialogue, and public trust. From a political science perspective, the article argues that political power at the grassroots level does not operate solely through institutional provisions; rather, it must be actualized through the agency of cadres, civil servants, and people-oriented institutions in the process of implementation. The article further clarifies the substance of political power at the grassroots level, its institutional foundations, the process of actualizing political power through implementing actors, and the issues arising in the improvement of the two-tier local government model. It then proposes several policy implications to ensure that political power at the grassroots level is exercised with clearly defined authority and responsibility, transparency, accountability, effective oversight, a people-centered orientation, and the capacity to foster social consensus.
Keywords: cadres and civil servants; grassroots level; two-tier local government; subjectification; political power; exercise of power.

1. Đặt vấn đề
Việc sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp là một bước chuyển quan trọng trong tiến trình đổi mới tổ chức bộ máy nhà nước ở Việt Nam. Nghị quyết số 74/NQ-CP ngày 07/4/2025 của Chính phủ “ban hành Kế hoạch thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp”; Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 ngày 14/4/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội “về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025”; Nghị quyết số 202/2025/QH15 ngày 12/6/2025 của Quốc hội “về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh”; cùng với Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025 là cơ sở chính trị, pháp lý của việc tổ chức quyền lực chính trị địa phương theo hướng tinh gọn hơn, gần dân hơn và đòi hỏi năng lực thực thi cao hơn.
Trong bối cảnh đó, quyền lực chính trị ở cấp cơ sở (xã, phường, đặc khu) cần được chuyển từ quyền lực được xác lập trong thể chế đến quyền lực được hiện thực hóa qua chủ thể, hành vi công vụ, tương tác với người dân và năng lực tạo đồng thuận xã hội.
Bài viết sử dụng phương pháp phân tích chính sách, tổng hợp dữ liệu thứ cấp và phân tích định tính dưới góc độ khoa học chính trị. Nguồn tư liệu gồm các văn bản của Đảng, Nhà nước về sắp xếp đơn vị hành chính, tổ chức chính quyền địa phương hai cấp, cải cách hành chính, chuyển đổi số; các báo cáo SIPAS, PAPI và PCI giai đoạn 2022 – 2024; đồng thời, sử dụng có chọn lọc dữ liệu phỏng vấn sâu từ đề tài cấp Bộ “Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh hiện nay”, thực hiện cuối năm 2025.
Dữ liệu định tính được khai thác theo nguyên tắc chọn mẫu có chủ đích. Sau khi rà soát và loại các phiếu trùng nội dung hoặc phiếu mẫu chưa có trả lời, bài viết sử dụng 18 trường hợp phỏng vấn sâu khác nhau, gồm 12 trường hợp là cán bộ, công chức, viên chức hoặc người làm việc trong khu vực công và 03 trường hợp là đại diện doanh nghiệp có tương tác với chính quyền địa phương; ngoài ra có 03 phiếu dành cho người dân được sử dụng để nhận diện nhóm tiêu chí đánh giá xã hội đối với chất lượng thực thi công vụ. Việc lựa chọn mẫu nhằm thu thập các trường hợp có khả năng cung cấp thông tin sâu về động lực công vụ, tâm lý thích ứng, áp lực thực thi, văn hóa phối hợp, tinh thần phục vụ và cảm nhận của doanh nghiệp đối với đội ngũ cán bộ, công chức trong bối cảnh chuyển đổi mô hình chính quyền địa phương. Các trích dẫn phỏng vấn được mã hóa theo nhóm đối tượng PVS-CBCC, PVS-DN và PVS-ND nhằm bảo đảm nguyên tắc ẩn danh.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Khái quát quyền lực chính trị ở cấp cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp
Quyền lực chính trị, xét về bản chất, là năng lực định hướng, tổ chức, điều phối và bảo đảm thực hiện các quyết định có ý nghĩa chung đối với cộng đồng xã hội. Ở cấp cơ sở, quyền lực chính trị không chỉ hiện diện trong văn bản hay mệnh lệnh hành chính, mà thể hiện ở năng lực tổ chức đời sống xã hội, giải quyết nhu cầu chính đáng của người dân, tạo đồng thuận, duy trì trật tự, bảo đảm kỷ cương và thúc đẩy phát triển tại địa bàn.
Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cấp cơ sở là nơi trực tiếp tổ chức thực thi chính sách, cung ứng dịch vụ công, xử lý tình huống, kết nối dữ liệu, tiếp nhận phản hồi và kiến tạo niềm tin xã hội.
Quyền lực chính trị ở cấp cơ sở là năng lực của các chủ thể chính trị – hành chính ở cấp gần dân nhất trong việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; điều hành hoạt động quản lý nhà nước trên địa bàn; bảo đảm quyền làm chủ của nhân dân; huy động, phối hợp và kiểm soát các nguồn lực xã hội; giải quyết vấn đề phát sinh trong đời sống cộng đồng; đồng thời duy trì sự thống nhất giữa kỷ cương, hiệu lực quản lý và tính phục vụ nhân dân.
Từ cách hiểu đó, quyền lực chính trị ở cấp cơ sở có bốn đặc trưng: gần dân nhất; mang tính liên thông giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức chính trị – xã hội, cộng đồng và nền tảng số; có tính thực tiễn cao vì được đo bằng chất lượng giải quyết công việc, mức độ hài lòng, tính minh bạch và niềm tin; đồng thời cần được kiểm soát thường xuyên vì càng trực tiếp xử lý lợi ích cụ thể, quyền lực càng có nguy cơ bị hành chính hóa, cá nhân hóa hoặc vận hành thiếu minh bạch.
“Chủ thể hóa thực thi” là quá trình quyền lực chính trị được xác lập trong thể chế được chuyển hóa thành năng lực hành động của các chủ thể, cụ thể: cán bộ, công chức, người đứng đầu, cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và cộng đồng dân cư. Quyền lực được chủ thể hóa đúng hướng sẽ biểu hiện thành trách nhiệm, năng lực phục vụ, đối thoại, giải trình, liêm chính, phối hợp và sáng tạo; ngược lại, nó có thể biến thành né tránh trách nhiệm, máy móc thủ tục, lạm quyền, đùn đẩy hoặc hình thức hóa trong thực thi.
2.2. Thể chế về quyền lực chính trị ở cấp cơ sở
Thể chế là điều kiện nền tảng để quyền lực chính trị ở cấp cơ sở được xác lập, phân bổ và kiểm soát. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, thể chế về quyền lực chính trị ở cấp cơ sở được nhận diện qua: thể chế chính trị, thể chế pháp lý, thể chế dân chủ – kiểm soát quyền lực và thể chế chuyển đổi số.
Thể chế chính trị xác lập vai trò lãnh đạo của Đảng ở cấp cơ sở, đồng thời định hình mối quan hệ giữa cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân. Ở cấp cơ sở, sự lãnh đạo của Đảng không chỉ thể hiện ở chủ trương, nghị quyết, mà còn ở khả năng bảo đảm sự thống nhất giữa mục tiêu chính trị, hiệu lực quản lý nhà nước và yêu cầu phục vụ nhân dân.
Thể chế pháp lý quy định vị trí, nhiệm vụ, quyền hạn, cơ cấu tổ chức và trách nhiệm của chính quyền địa phương. Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2025, Nghị quyết số 74/NQ-CP, Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 và Nghị quyết số 202/2025/QH15 tạo khung pháp lý – tổ chức cho việc sắp xếp đơn vị hành chính, xây dựng mô hình chính quyền địa phương hai cấp và tổ chức lại không gian quản trị địa phương. Các văn bản này không chỉ có ý nghĩa về tổ chức bộ máy, mà còn tác động trực tiếp đến phân bổ quyền lực, phân định trách nhiệm, phương thức phối hợp và điều kiện thực thi của cấp cơ sở.
Thể chế dân chủ và kiểm soát quyền lực bảo đảm quyền lực ở cấp cơ sở không vận hành một chiều. Công khai, minh bạch, tiếp công dân, đối thoại, giải quyết kiến nghị, trách nhiệm giải trình và giám sát cộng đồng là những cơ chế có ý nghĩa chính trị quan trọng. Khi người dân được biết, được bàn, được tham gia, được giám sát và được phản hồi, quyền lực chính trị ở cấp cơ sở được đặt trong quan hệ tương tác với cộng đồng, qua đó hạn chế nguy cơ quan liêu, xa dân, tùy tiện hoặc hình thức.
Thể chế chuyển đổi số ngày càng trở thành một bộ phận của thể chế thực thi quyền lực. Dữ liệu dân cư, định danh điện tử, dịch vụ công trực tuyến, liên thông thủ tục hành chính, hệ thống quản lý văn bản, một cửa điện tử, lưu trữ hồ sơ và truy vết trách nhiệm đã làm thay đổi cách thức quyền lực được vận hành ở cấp cơ sở. Tuy nhiên, chuyển đổi số chỉ có ý nghĩa chính trị tích cực khi gắn với cải cách quy trình và trách nhiệm giải trình; nếu không, công nghệ có thể trở thành lớp vỏ kỹ thuật che phủ sự trì trệ, đùn đẩy hoặc thiếu trách nhiệm.
Như vậy, thể chế về quyền lực chính trị ở cấp cơ sở không chỉ là tổng hợp quy định về tổ chức bộ máy, mà là hệ thống quy tắc xác lập ai có thẩm quyền, thẩm quyền đó được thực hiện bằng cách nào, chịu trách nhiệm trước ai, được kiểm soát ra sao và được người dân đánh giá qua những kết quả nào.
2.3. Chủ thể hóa thực thi quyền lực chính trị ở cấp cơ sở
Nếu thể chế là điều kiện cần, thì chủ thể hóa thực thi là điều kiện quyết định để quyền lực chính trị ở cấp cơ sở trở thành hiệu lực thực tế. Quyền lực chính trị không tồn tại trong trạng thái trừu tượng; nó được thực hiện thông qua con người cụ thể, trong tình huống cụ thể, trước nhu cầu, lợi ích và phản ứng cụ thể của người dân và doanh nghiệp. Vì vậy, chất lượng hoạt động của chính quyền địa phương hai cấp không chỉ phụ thuộc vào việc “trao quyền” cho cấp cơ sở, mà còn vào năng lực “gánh quyền”, “dùng quyền” và “chịu trách nhiệm về quyền” của đội ngũ thực thi.
Chủ thể thực thi quyền lực chính trị ở cấp cơ sở bao gồm cấp ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân, người đứng đầu, đội ngũ cán bộ, công chức, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội và cộng đồng dân cư. Trong đó, cán bộ, công chức là lực lượng trực tiếp tiếp xúc, hướng dẫn, giải quyết hồ sơ, tham mưu, phối hợp, xử lý tình huống và đại diện cho hình ảnh quyền lực công trước nhân dân.
Nội dung thực thi quyền lực ở cấp cơ sở bao gồm tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật; cung ứng dịch vụ công; giải quyết thủ tục hành chính; tiếp công dân, đối thoại và giải quyết kiến nghị; quản lý địa bàn; bảo đảm an sinh, trật tự, an toàn; huy động nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội; thực hiện chuyển đổi số; phòng ngừa và xử lý xung đột xã hội ngay từ cơ sở. Các nội dung này cho thấy quyền lực chính trị ở cấp cơ sở không chỉ là quyền ban hành quyết định, mà còn là quyền tổ chức, điều phối, phục vụ, giải thích, thuyết phục và chịu trách nhiệm.
Phương thức thực thi quyền lực cũng thay đổi, được thực hiện thông qua nền tảng số, hệ thống dữ liệu, cổng dịch vụ công, hồ sơ điện tử, cơ chế một cửa, liên thông thủ tục, đối thoại trực tiếp, tiếp xúc cử tri, phản ánh hiện trường, kênh tiếp nhận kiến nghị và giám sát cộng đồng. Điều này làm tăng yêu cầu về năng lực phối hợp, năng lực số, năng lực truyền thông chính sách và năng lực giải trình.
Trong quá trình đó, cán bộ, công chức cấp cơ sở là điểm nút của chủ thể hóa quyền lực. Họ không chỉ “thực hiện nhiệm vụ” theo nghĩa hành chính, mà còn diễn giải chính sách, tổ chức tương tác với người dân, xử lý tình huống phức tạp, chuyển tải tinh thần phục vụ của Nhà nước và tạo dựng niềm tin vào chính quyền. Cùng một quy định thể chế, cùng một nền tảng công nghệ, nhưng kết quả thực thi có thể khác nhau tùy thuộc vào năng lực, thái độ, trách nhiệm và văn hóa công vụ của đội ngũ này.
2.4. Cơ sở thực tiễn từ SIPAS, PAPI, PCI và minh chứng định tính vùng Đông Nam Bộ
Để làm rõ cơ sở thực tiễn của nội dung cốt lõi, bài viết đối chiếu xu hướng ba năm gần nhất của SIPAS, PAPI và PCI (xem Bảng 1). Đây không phải là các khảo sát trực tiếp về quyền lực chính trị ở cấp cơ sở, nhưng là “tín hiệu thực tiễn” phản ánh cách quyền lực công được người dân và doanh nghiệp cảm nhận qua mức độ hài lòng, minh bạch, giải trình, thuận tiện, chi phí tuân thủ và tính năng động của chính quyền.

Bảng 1. Một số tín hiệu thực tiễn từ SIPAS, PAPI, PCI giai đoạn 2022-2024

Nguồn dữ liệu 2022  2023  2024
SIPAS 80,08% hài lòng trung bình cả nước 82,66%, tăng 2,58 điểm % 83,94%, tăng 1,28 điểm %. Xu hướng tích cực nhưng mức tăng chậm hơn
PAPI 16.117 công dân được khảo sát; phản ánh trải nghiệm quản trị, hành chính công và dịch vụ công sau đại dịch 19.536 người trả lời; kiểm soát tham nhũng và quản trị điện tử có tiến bộ, nhưng công khai minh bạch ở địa phương giảm 18.894 người trả lời; 7/8 nội dung được đánh giá cao hơn, song tham gia cơ sở, minh bạch, giải trình, quản trị điện tử còn là điểm cần cải thiện
PCI 11.872 doanh nghiệp; ghi nhận cải thiện thủ tục, giảm chi phí thời gian và chi phí không chính thức Khoảng 9.100 doanh nghiệp tư nhân và 1.500 doanh nghiệp FDI; chi phí không chính thức giảm còn 33,3% từ mức 42,6% năm 2022 Gần 11.000 doanh nghiệp; chi phí không chính thức tăng gần 37%, tiếp cận đất đai, chi phí tuân thủ và tính năng động còn là thách thức

Nguồn: Tổng hợp từ Bộ Nội vụ (2023, 2024, 2025), UNDP (2023, 2024, 2025), VCCI (2023, 2024, 2025)

Dữ liệu SIPAS cho thấy, mức độ hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước tăng liên tục trong giai đoạn 2022 – 2024. Đây là căn cứ để khẳng định cải cách hành chính và chất lượng phục vụ có chuyển biến tích cực. Tuy nhiên, mức tăng không quá lớn và còn chênh lệch giữa các địa phương, gợi mở rằng chất lượng phục vụ vẫn phụ thuộc vào năng lực cán bộ, tinh thần trách nhiệm, mức độ chuẩn hóa quy trình, khả năng xử lý phản ánh, kiến nghị và điều kiện tổ chức thực thi ở từng nơi.
Dữ liệu PAPI cho phép quan sát các chiều cạnh liên quan trực tiếp đến quyền lực chính trị ở cấp cơ sở: sự tham gia của người dân, công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình, kiểm soát tham nhũng, thủ tục hành chính, cung ứng dịch vụ công và quản trị điện tử. Những nội dung còn điểm số thấp cho thấy quyền lực cấp cơ sở không thể chỉ được đánh giá qua việc có thẩm quyền hay quy trình, mà phải được kiểm nghiệm qua khả năng mở rộng tham gia, minh bạch thông tin, giải trình trách nhiệm và tạo điều kiện để người dân giám sát.
PCI bổ sung góc nhìn của doanh nghiệp về chất lượng điều hành kinh tế ở địa phương. Các tín hiệu về chi phí không chính thức, chi phí tuân thủ, tiếp cận đất đai và tính năng động của chính quyền cho thấy việc chủ thể hóa quyền lực ở cấp cơ sở không chỉ liên quan đến quan hệ hành chính – dân sinh, mà còn tác động trực tiếp đến môi trường kinh doanh, chi phí xã hội của quyền lực công và niềm tin của doanh nghiệp vào chất lượng điều hành địa phương.
Bên cạnh các dữ liệu định lượng, phỏng vấn sâu giúp nhận diện chiều cạnh bên trong của quá trình chủ thể hóa quyền lực (xem Bảng 2). Tổng hợp các phiếu cho thấy cải cách chính quyền địa phương hai cấp tạo ra hai xu hướng song hành. Ở chiều tích cực, nhiều cán bộ, công chức nhận thấy rõ hơn trách nhiệm cá nhân, động lực tự học, tinh thần chủ động, yêu cầu phục vụ nhân dân và cơ hội phát huy năng lực trong môi trường tinh gọn hơn. Ở chiều áp lực, quá trình chuyển đổi làm tăng khối lượng công việc, yêu cầu tiến độ, áp lực thích ứng với vị trí, địa bàn, quy trình, phần mềm, kỹ năng số và cơ chế phối hợp mới; đồng thời, làm bộc lộ sự không đồng đều về năng lực, thái độ, văn hóa công vụ và mức độ bắt nhịp của từng nhóm cán bộ, công chức (PVS-CBCC01, 2025; PVS-CBCC02, 2025; PVS-CBCC03, 2025; PVS-CBCC05, 2025).
Qua kết quả phỏng vấn doanh nghiệp và người dân là thông tin đối chiếu bên ngoài đối với chất lượng thực thi quyền lực. Doanh nghiệp ghi nhận một số thủ tục như thuế điện tử, đăng ký kinh doanh có chuyển biến thuận lợi, nhanh và minh bạch hơn; nhưng cũng phản ánh chất lượng phục vụ chưa đồng đều, còn tình trạng hướng dẫn chưa rõ, bổ sung hồ sơ nhiều lần, xử lý kéo dài, lúng túng ở những nội dung chưa phân quyền rõ, nhất là đất đai, môi trường, quy hoạch và xây dựng. Người dân cũng cho thấy những tiêu chí đánh giá quan trọng đối với quyền lực cấp cơ sở là thái độ phục vụ, công khai minh bạch, khả năng lắng nghe, liêm chính, sự thuận tiện khi nộp hồ sơ và chất lượng phản hồi. Điều này củng cố luận điểm: cùng một thể chế và quy trình, kết quả thực thi vẫn phụ thuộc đáng kể vào năng lực, trách nhiệm, văn hóa phục vụ và cơ chế giải trình của chủ thể thực thi (PVS-DN01, 2025; PVS-ND01, 2025).
Như vậy, các chỉ số SIPAS, PAPI và PCI cung cấp bức tranh chung về cải cách hành chính, quản trị công và chất lượng điều hành địa phương ở Việt Nam; còn phỏng vấn sâu tại vùng Đông Nam Bộ giúp minh họa cụ thể cách những xu hướng đó được cảm nhận và chuyển hóa trong thực tiễn thực thi công vụ ở một số trường hợp nghiên cứu.
Từ các phân tích trên có thể rút ra bốn nhận xét. Một là, chất lượng phục vụ hành chính có xu hướng cải thiện nhưng chưa đồng đều. Hai là, dân chủ cơ sở, công khai minh bạch, trách nhiệm giải trình và quản trị điện tử cho thấy quyền lực cấp cơ sở phải được đặt trong quan hệ tương tác, giám sát và phản hồi của người dân. Ba là, từ góc nhìn doanh nghiệp, chi phí thời gian, chi phí tuân thủ, tiếp cận đất đai và tính minh bạch vẫn là hạn chế đối với chất lượng điều hành. Bốn là, phỏng vấn sâu cho thấy chủ thể hóa quyền lực chính trị không diễn ra tự động; nó phụ thuộc vào động lực công vụ, năng lực thích ứng, văn hóa phối hợp, vai trò người đứng đầu, điều kiện thực thi và khả năng kiểm soát trách nhiệm trong từng tình huống cụ thể.

Bảng 2. Tổng hợp minh chứng định tính về chủ thể hóa quyền lực chính trị ở cấp cơ sở

Nhóm chủ đề Biểu hiện qua phỏng vấn Ý nghĩa phân tích    Mã nguồn
Động lực và trách nhiệm công vụ Nhiều cán bộ, công chức coi sắp xếp bộ máy là cơ hội nâng cao trách nhiệm, chủ động học hỏi, rèn kỹ năng, phục vụ nhân dân tốt hơn; sự quyết liệt, minh bạch trong lãnh đạo, chỉ đạo làm tăng niềm tin và động lực chính trị. Quyền lực được chủ thể hóa tích cực khi thẩm quyền được chuyển thành trách nhiệm, động lực cống hiến và hành vi phục vụ cụ thể. PVS-CBCC01; PVS-CBCC03; PVS-CBCC08
Áp lực thích ứng và quá tải thực thi Khối lượng công việc tăng, tiến độ cao, thay đổi vị trí, địa bàn, môi trường làm việc; có trường hợp đi lại xa, chi phí thời gian lớn, khó cân bằng gia đình – công việc. Phân quyền chỉ tạo hiệu quả khi đi kèm nguồn lực, điều kiện làm việc, hỗ trợ thích ứng và thiết kế vị trí việc làm phù hợp. PVS-CBCC02; PVS-CBCC05; PVS-CBCC07
Phân cấp, hướng dẫn và phối hợp liên thông Một số quy trình, thủ tục mới đang hoàn thiện; phối hợp giữa các bộ phận có lúc chậm, chưa nhịp nhàng; có nội dung chưa rõ phân quyền nên cán bộ còn lúng túng. Khoảng cách giữa thể chế và thực thi xuất hiện ở điểm giao giữa phân quyền, hướng dẫn nghiệp vụ, phối hợp liên thông và trách nhiệm giải trình. PVS-CBCC02; PVS-CBCC06; PVS-DN01
Năng lực số và quy trình số Yêu cầu ứng dụng công nghệ thông tin, phần mềm, hồ sơ điện tử tăng; một bộ phận cán bộ còn hạn chế kỹ năng số, trong khi doanh nghiệp mong muốn hồ sơ, quy trình được công bố minh bạch trên dịch vụ công trực tuyến. Chuyển đổi số chỉ trở thành công cụ kiểm soát quyền lực khi đi kèm năng lực số, dữ liệu liên thông, quy trình rõ và trách nhiệm có thể truy vết. PVS-CBCC02; PVS-CBCC04; PVS-DN01
Văn hóa công vụ và phối hợp nội bộ Nhiều ý kiến nhấn mạnh đoàn kết, trách nhiệm, tôn trọng, hỗ trợ nhau; đồng thời phản ánh sự khác biệt về thói quen, tư duy cũ, tâm lý e dè hoặc mức độ bắt nhịp chưa đều giữa các nhóm cán bộ sau sắp xếp. Chủ thể hóa quyền lực không chỉ là năng lực cá nhân, mà còn là văn hóa phối hợp, kỷ luật, thấu hiểu, công bằng trong bố trí cán bộ và khả năng tạo đồng thuận nội bộ. PVS-CBCC03; PVS-CBCC04; PVS-CBCC06
Tư duy cũ, cửa quyền và né tránh trách nhiệm Một số ý kiến phản ánh còn biểu hiện công thần, cửa quyền, trông chờ, ỷ lại, dựa dẫm vào cấp dưới, chưa chịu nghiên cứu công việc hoặc chậm bắt nhịp với mô hình mới. Đây là mặt trái của quá trình chủ thể hóa: quyền lực nếu không gắn với chuẩn mực trách nhiệm và kiểm soát sẽ dễ chuyển thành trì trệ, đùn đẩy hoặc hành chính hóa. PVS-CBCC02; PVS-CBCC07
Góc nhìn doanh nghiệp về chất lượng phục vụ Doanh nghiệp ghi nhận thuế điện tử, đăng ký kinh doanh thuận lợi hơn; song chất lượng phục vụ chưa đồng đều, còn hướng dẫn vòng vo, bổ sung hồ sơ nhiều lần, xử lý kéo dài, vướng đất đai – môi trường – quy hoạch. Kết quả thực thi quyền lực được kiểm nghiệm qua chi phí thời gian, sự thuận tiện, tính minh bạch và niềm tin của doanh nghiệp vào chính quyền. PVS-DN01
Tiêu chí đánh giá từ phía người dân Phiếu dành cho người dân tập trung vào phong cách, thái độ, chất lượng phục vụ, công khai minh bạch, liêm chính, lắng nghe phản ánh, thuận tiện khi nộp hồ sơ và nhận kết quả. Các tiêu chí này cho thấy quyền lực cấp cơ sở được xã hội đánh giá không chỉ bằng thẩm quyền pháp lý, mà bằng trải nghiệm thực tế của người dân trong tương tác với chính quyền. PVS-ND01

Nguồn: Tổng hợp từ dữ liệu phỏng vấn sâu thuộc đề tài cấp Bộ; các mã phỏng vấn được ẩn danh. Nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ (2025)

2.5. Một số vấn đề đặt ra
Thứ nhất, nhận thức về quyền lực chính trị ở cấp cơ sở chưa đầy đủ, bị thu hẹp thành quyền lực hành chính hoặc thủ tục hành chính. Nếu chỉ tập trung vào sắp xếp bộ máy, phân cấp nhiệm vụ, giải quyết hồ sơ và chỉ tiêu dịch vụ công trực tuyến, có thể bỏ qua bản chất chính trị của cấp cơ sở: nơi tổ chức quan hệ giữa chính quyền với nhân dân, nơi tạo dựng đồng thuận, nơi kiểm nghiệm niềm tin vào thể chế và nơi quyền làm chủ của nhân dân được thực hành hằng ngày.
Thứ hai, có khoảng cách giữa phân cấp, phân quyền về mặt thể chế và năng lực thực thi thực tế của cấp cơ sở. Khi nhiệm vụ được chuyển xuống gần dân hơn, cấp cơ sở phải xử lý nhiều việc hơn, phức tạp hơn và chịu áp lực trực tiếp hơn từ người dân, doanh nghiệp. Nếu năng lực đội ngũ, điều kiện tài chính, hạ tầng số, quy trình phối hợp và cơ chế hướng dẫn không đồng bộ, phân quyền có thể dẫn đến quá tải hoặc đùn đẩy trách nhiệm.
Thứ ba, năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở chưa đồng đều. Trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp, cán bộ cơ sở phải am hiểu quy định, sử dụng được công nghệ, giao tiếp hiệu quả với người dân, vừa xử lý các vấn đề đa ngành, đa lĩnh vực. Phỏng vấn sâu cho thấy, cùng trong một môi trường cải cách, có cán bộ thích ứng nhanh, nhưng cũng có trường hợp chậm bắt nhịp, nặng tư duy cũ hoặc gặp khó khăn khi tiếp cận quy trình, phần mềm và phương thức làm việc mới.
Thứ tư, chuyển đổi số có thể tạo thuận lợi cho minh bạch và giám sát, nhưng cũng có nguy cơ hình thức nếu quy trình chưa được cải cách thực chất. Số hóa hồ sơ không đồng nghĩa với cải cách quyền lực nếu thủ tục vẫn phức tạp, dữ liệu không liên thông, trách nhiệm không rõ và người dân vẫn phải đi lại nhiều lần.
Thứ năm, cơ chế kiểm soát quyền lực, phân định trách nhiệm và truy trách nhiệm trong môi trường dữ liệu, liên thông, quy trình số cần tiếp tục được làm rõ. Khi một hồ sơ đi qua nhiều khâu, nhiều nền tảng, nhiều chủ thể phối hợp, cần xác định rõ ai chịu trách nhiệm chính, trách nhiệm được ghi nhận ở đâu, người dân giám sát như thế nào và cơ quan có thẩm quyền truy vết trách nhiệm ra sao.
2.6. Hàm ý chính sách
Một là, rà soát và hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền theo nguyên tắc rõ việc, rõ thẩm quyền, rõ nguồn lực, rõ trách nhiệm và rõ cơ chế kiểm soát. Phân quyền phải đi kèm điều kiện thực thi; cấp cơ sở được giao thêm nhiệm vụ thì phải được bảo đảm về nhân lực, tài chính, dữ liệu, hạ tầng công nghệ, hướng dẫn chuyên môn và cơ chế phối hợp.
Hai là, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức cấp cơ sở theo hướng coi năng lực số, năng lực giải trình, năng lực phục vụ người dân và năng lực xử lý tình huống là trọng tâm. Đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức cấp cơ sở cần chú trọng kỹ năng đối thoại, truyền thông chính sách, phân tích dữ liệu, đạo đức công vụ, văn hóa phục vụ và trách nhiệm nêu gương của người đứng đầu.
Ba là, thiết lập quy trình công vụ theo hướng minh bạch, có lưu vết, dễ giám sát và không để công nghệ trở thành lớp che phủ trách nhiệm. Mỗi khâu xử lý hồ sơ, mỗi lần chuyển trạng thái, mỗi yêu cầu bổ sung, mỗi thời hạn giải quyết cần được ghi nhận rõ ràng để người dân và doanh nghiệp có thể theo dõi tiến độ, biết nơi chịu trách nhiệm và phản hồi hiệu quả.
Bốn là, tăng cường cơ chế tham gia, giám sát và phản hồi của người dân, doanh nghiệp đối với hoạt động của chính quyền cấp cơ sở. Các kênh tiếp dân, đối thoại, phản ánh hiện trường, khảo sát hài lòng, tiếp xúc cử tri, giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và cộng đồng dân cư cần được vận hành thực chất, hiệu quả.
Năm là, kết hợp cải cách hành chính, chuyển đổi số và xây dựng văn hóa công vụ phục vụ. Cải cách hành chính tạo quy trình hợp lý; chuyển đổi số tạo công cụ minh bạch, liên thông; văn hóa công vụ tạo thái độ, trách nhiệm và chuẩn mực ứng xử. Thiếu một trong ba yếu tố này, quyền lực chính trị ở cấp cơ sở khó được chủ thể hóa đúng hướng.
3. Kết luận
Mô hình chính quyền địa phương hai cấp đặt cấp cơ sở vào vị trí mới trong vận hành quyền lực chính trị ở Việt Nam. Khi cấp gần dân nhất được trao vai trò lớn hơn trong tổ chức thực thi chính sách, cung ứng dịch vụ công, tiếp nhận phản hồi và xử lý vấn đề xã hội, quyền lực chính trị ở cấp cơ sở cần được nhận thức không chỉ như thẩm quyền hành chính, mà như năng lực chính trị – công vụ được hiện thực hóa qua chủ thể cụ thể.
Tiếp cận “từ thể chế đến chủ thể hóa thực thi” cho phép nhận diện đầy đủ hơn bản chất của quyền lực chính trị ở cấp cơ sở trong mô hình chính quyền địa phương hai cấp. Thể chế quy định vị trí, thẩm quyền và trách nhiệm, nhưng chính đội ngũ cán bộ, công chức, người đứng đầu và các thiết chế gần dân mới là nơi quyền lực được chuyển hóa thành hành động, dịch vụ, đối thoại, giải trình và niềm tin. Vì vậy, hiệu quả của mô hình chính quyền địa phương hai cấp không chỉ phụ thuộc vào thiết kế tổ chức, mà còn phụ thuộc vào năng lực chủ thể, quy trình minh bạch, hạ tầng số, văn hóa phục vụ và cơ chế kiểm soát quyền lực.
Thời gian tới, để quyền lực chính trị ở cấp cơ sở vận hành hiệu quả, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế phân cấp, phân quyền; nâng cao chất lượng cán bộ, công chức; cải cách quy trình công vụ; phát huy dân chủ và giám sát của nhân dân; bảo đảm chuyển đổi số gắn với trách nhiệm giải trình; đồng thời xây dựng văn hóa công vụ phục vụ. Khi quyền lực được chủ thể hóa đúng hướng, cấp cơ sở sẽ không chỉ là nơi tiếp nhận và thực hiện mệnh lệnh hành chính, mà ngày càng gần dân hơn, chính sách đi vào thực tiễn đời sống hơn, trách nhiệm công vụ được kiểm nghiệm hằng ngày và niềm tin của nhân dân được củng cố bền vững hơn./.

—————————————-

Ngày nhận bài: 02/3/2026; ngày thẩm định: 05/3/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Bộ Nội vụ (2023). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước – SIPAS 2022 và Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính – PAR Index 2022. https://caicachhanhchinh.gov.vn.
Bộ Nội vụ (2024). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước – SIPAS 2023 và Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính – PAR Index 2023. https://caicachhanhchinh.gov.vn.
Bộ Nội vụ (2025). Báo cáo Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước – SIPAS 2024 và Báo cáo Chỉ số cải cách hành chính – PAR Index 2024. https://caicachhanhchinh.gov.vn.
Chính phủ (07/4/2025). Nghị quyết số 74/NQ-CP ban hành Kế hoạch thực hiện sắp xếp đơn vị hành chính và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
Nhóm nghiên cứu đề tài cấp Bộ (2025). Phiếu phỏng vấn sâu cán bộ, công chức và doanh nghiệp phục vụ đề tài “Nâng cao văn hóa chính trị của cán bộ, công chức vùng Đông Nam Bộ trong bối cảnh hiện nay”, phỏng vấn tháng 12/2025 [Tài liệu nghiên cứu chưa công bố].
Quốc hội (2025a). Luật Tổ chức chính quyền địa phương số 72/2025/QH15.
Quốc hội (2025b). Nghị quyết số 202/2025/QH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính cấp tỉnh.
Thủ tướng Chính phủ (12/3/2025). Quyết định số 571/QĐ-TTg về việc thành lập Ban Chỉ đạo thực hiện sắp xếp, tổ chức lại đơn vị hành chính các cấp và xây dựng mô hình tổ chức chính quyền địa phương 02 cấp.
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (14/4/2025. Nghị quyết số 76/2025/UBTVQH15 về việc sắp xếp đơn vị hành chính năm 2025.
UNDP (2023). The 2022 Viet Nam Provincial Governance and Public Administration Performance Index (PAPI): Measuring citizens’ experiences. https://www.undp.org.
UNDP (2024). The 2023 Viet Nam Provincial Governance and Public Administration Performance Index (PAPI): Measuring citizens’ experiences. https://papi.org.vn.
UNDP (2025). The 2024 Viet Nam Provincial Governance and Public Administration Performance Index (PAPI): Measuring citizens’ experiences. https://www.undp.org.
VCCI (2023). Báo cáo Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI 2022. https://pcivietnam.vn.
VCCI (2024). Báo cáo Chỉ số PCI và Chỉ số xanh cấp tỉnh PGI 2023. https://pcivietnam.vn.
VCCI (2025). Báo cáo PCI 2024. https://pcivietnam.vn.

(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *