MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG

MỐI QUAN HỆ GIỮA TỰ CHỦ CHIẾN LƯỢC VÀ HỘI NHẬP QUỐC TẾ TRONG VĂN KIỆN ĐẠI HỘI LẦN THỨ XIV CỦA ĐẢNG

ThS. TRẦN NHẬT MINH
Học viện Chính trị khu vực II

ThS. NGUYỄN THỊ CẨM TRANG
Trường Chính trị tỉnh Lâm Đồng

Tóm tắt: Tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế có mối quan hệ mật thiết với nhau, tạo nên sức mạnh tổng hợp của quốc gia. Tự chủ chiến lược thể hiện năng lực tổ chức sức mạnh tổng hợp quốc gia thành năng lực tự quyết, kiểm soát các điều kiện chiến lược và nâng cao sức chống chịu. Hội nhập quốc tế tạo điều kiện chuyển hóa nguồn lực quốc tế thành năng lực phát triển bên trong. Bài viết phân tích mối quan hệ giữa tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng và đúc rút ý nghĩa của việc giải quyết mối quan hệ giữa tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế đối với tư duy lý luận, chính sách, mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.
Từ khóa: Đại hội lần thứ XIV; hội nhập quốc tế; tự chủ chiến lược

THE INTERRELATIONSHIP BETWEEN STRATEGIC AUTONOMY AND INTERNATIONAL INTEGRATION IN THE DOCUMENTS OF THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE COMMUNIST PARTY OF VIET NAM

Abstract: Strategic autonomy and international integration are closely interrelated, together generating the nation’s aggregate strength. Strategic autonomy reflects the capacity to organize national aggregate strength into self-determination capability, to control strategic conditions, and to enhance resilience. International integration creates conditions for transforming international resources into internal development capacity. This article analyzes the relationship between strategic autonomy and international integration in the Documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam, and clarifies the significance of properly addressing this relationship for theoretical thinking, policy formulation, and the realization of national development goals toward 2030, with a vision to 2045.
Keywords: strategic autonomy; international integration; 14th National Party Congress

1. Mở đầu
Hiện nay, tình hình thế giới có nhiều biến động nhanh, phức tạp, khó lường, đan xen thách thức và cơ hội, đã đặt tiến trình phát triển đất nước trước yêu cầu tự chủ chiến lược. Hội nhập quốc tế, trong bối cảnh ấy, trở thành phương thức mở rộng không gian phát triển, tiếp cận nguồn lực bên ngoài và chuyển hóa ngoại lực thành nội lực. Hồ Chí Minh, khi bàn về quan hệ giữa tự chủ và đối ngoại, từng chỉ rõ “Phải tin vào sức ta trước hết: Chỉ có nỗ lực mới làm cho ngoại giao toàn thắng” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.57). Luận điểm này xác lập nguyên tắc nội lực giữ vai trò nền tảng, ngoại lực phát huy giá trị khi được chuyển hóa thành sức mạnh nội sinh của dân tộc. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt tự chủ chiến lược trong quan hệ chặt chẽ với hội nhập quốc tế, xác lập yêu cầu phát triển đất nước trên sự thống nhất giữa củng cố nội lực, tranh thủ ngoại lực, giữ vững độc lập, tự chủ và mở rộng không gian phát triển. Làm rõ quan hệ giữa hai phạm trù góp phần nhận diện bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại, năng lực quốc gia và môi trường quốc tế, tự chủ phát triển và hội nhập sâu rộng. Bài viết phân tích nội hàm, cơ chế tác động qua lại và ý nghĩa của quan hệ này đối với phát triển tư duy lý luận, hoạch định chính sách và hiện thực hóa mục tiêu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết vận dụng nguyên lý về mối liên hệ phổ biến của phép biện chứng duy vật để xem xét quan hệ giữa tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế trong tư duy phát triển đất nước của Đảng. Phương pháp phân tích tài liệu được sử dụng để khảo cứu các luận điểm trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, làm rõ nội hàm, mối quan hệ, vị trí và ý nghĩa của hai khái niệm trong chỉnh thể đường lối phát triển đất nước đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Phương pháp lịch sử, logic giúp nhận diện sự phát triển nhận thức của Đảng về độc lập, tự chủ, nội lực, ngoại lực, hội nhập và phát triển bền vững. Phương pháp so sánh làm rõ bước phát triển của Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng so với Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng trong xử lý mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Nội hàm của tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Tự chủ chiến lược chỉ năng lực của quốc gia trong việc chủ động quyết định, tổ chức và kiểm soát các điều kiện cốt lõi của phát triển nhằm giữ vững quyền tự quyết, nâng cao sức chống chịu và bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc. Đại hội lần thứ XIV của Đảng đặt yêu cầu “tự chủ chiến lược” trong tổng thể tư duy phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Sự xuất hiện của phạm trù “tự chủ chiến lược” trong Đại hội lần thứ XIV của Đảng đánh dấu bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về độc lập, tự chủ. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng đặt độc lập, tự chủ với tự lực, tự cường, hội nhập quốc tế và nhấn mạnh “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.29). Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng phát triển nhận thức ấy thành yêu cầu “bảo đảm tự chủ chiến lược … giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, không ngừng nâng cao vị thế, vai trò của Việt Nam trên trường quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.264). Nếu độc lập, tự chủ là nền tảng xuyên suốt trong việc giữ vững chủ quyền, lợi ích quốc gia, thì tự chủ chiến lược phản ánh sự phát triển của tư duy độc lập, tự chủ. Tự chủ chiến lược gắn quyền tự quyết với năng lực làm chủ con đường, mô hình, nguồn lực và điều kiện chiến lược của phát triển. Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, tự chủ chiến lược được hiểu là năng lực tự quyết định con đường phát triển, chống lệ thuộc bên ngoài, bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, nâng cao sức chống chịu, kiến tạo thế và lực phát triển trong kỷ nguyên mới.
Hội nhập quốc tế là quá trình chủ động mở rộng và làm sâu sắc quan hệ quốc tế nhằm tranh thủ các điều kiện thuận lợi cho phát triển đất nước, giữ vững đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ và lợi ích quốc gia, dân tộc. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng xác định “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, giải quyết tốt mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế; thúc đẩy hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, linh hoạt, hiệu quả vì lợi ích quốc gia – dân tộc, bảo đảm độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.164). Hội nhập thường được nhấn mạnh nhiều ở phương diện mở cửa và tham gia vào các cơ chế hợp tác khu vực, quốc tế. Sau 40 năm đổi mới (1986 – 2026), hội nhập quốc tế được đặt trong yêu cầu cao hơn về hiệu quả, chiều sâu và năng lực “tự thiết kế các quan hệ đối ngoại”. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định: “Định hướng hội nhập quốc tế ngày càng được làm rõ: Từ “phá thế bị bao vây, cấm vận” tiến đến “hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới” và tiếp theo là “chủ động và tích cực hội nhập quốc tế” một cách toàn diện, từ vị thế hội nhập của một quốc gia đi sau sang trạng thái một quốc gia vươn lên, tiên phong vào những lĩnh vực mới” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.85). Trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, hội nhập quốc tế là quá trình chủ động kết nối với đời sống quốc tế nhằm mở rộng không gian phát triển, huy động nguồn lực bên ngoài, nâng cao vị thế, tham gia định hình luật chơi chung và chuyển hóa sức mạnh thời đại thành nội lực quốc gia.
3.2. Mối quan hệ giữa tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Một là, tự chủ chiến lược là điều kiện quyết định mục tiêu, hiệu quả và giảm thiểu rủi ro trong hội nhập quốc tế
Tự chủ chiến lược định hướng mục tiêu cho hội nhập quốc tế. Trong điều kiện thế giới liên kết ngày càng sâu rộng, cạnh tranh chiến lược gay gắt, rủi ro lệ thuộc và các “cú sốc” từ bên ngoài gia tăng, hội nhập quốc tế chỉ phục vụ phát triển đất nước khi được đặt trên nền tảng năng lực tự chủ chiến lược vững chắc. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định “tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh vào kỷ nguyên mới của dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.25). Tự chủ chiến lược tạo cơ sở để hội nhập quốc tế vận động theo mục tiêu bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc, mở rộng không gian phát triển, tranh thủ nguồn lực bên ngoài, đồng thời giữ vững quyền tự quyết đối với con đường phát triển của đất nước. Tự chủ chiến lược tạo ra giới hạn định hướng cho hội nhập quốc tế. Mọi quá trình mở cửa, hợp tác, liên kết, tham gia các cơ chế khu vực và quốc tế đều phải gắn với yêu cầu giữ vững lợi ích quốc gia – dân tộc, giữ vững quyền tự quyết đối với con đường phát triển, bảo đảm khả năng kiểm soát các nguồn lực chiến lược của đất nước. “Đảng ta luôn chú trọng mối quan hệ giữa giữ vững độc lập, tự chủ và hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng; sự cần thiết phải tăng cường nội lực để bảo đảm hội nhập thành công” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.86). Tự chủ là điều kiện để hội nhập có phương hướng, có tiêu chuẩn lựa chọn, có giới hạn kiểm soát, không làm suy giảm năng lực nội sinh và không dẫn tới lệ thuộc vào bên ngoài.
Tự chủ chiến lược tạo nền tảng để hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả. Năng lực tự chủ chiến lược đòi hỏi sức mạnh tổng hợp trên các lĩnh vực và sức chống chịu xã hội. Trong khi đó, hội nhập quốc tế phải được triển khai đồng bộ, đa phương, đa dạng, gắn song phương với đa phương, kinh tế với khoa học, công nghệ, giáo dục, văn hóa, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế là yêu cầu kép của quá trình phát triển nhanh, bền vững đất nước trong điều kiện mới. Tự chủ chiến lược tạo nền tảng để hội nhập quốc tế vận hành có trọng tâm, trọng điểm, lựa chọn đúng đối tác, lĩnh vực ưu tiên, cấp độ liên kết và nguồn lực phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc. Hiệu quả thực chất của hội nhập phụ thuộc vào năng lực làm chủ định hướng phát triển và kiểm soát các điều kiện chiến lược của quốc gia. Để tự chủ chiến lược trong thúc đẩy hội nhập quốc tế hiệu quả, Đảng chủ trương “nâng cao tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.269), “tự chủ sản xuất trong nước… hiện đại hóa nền công nghiệp quốc gia vững mạnh, lấy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo làm động lực chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.94); và cần “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ gắn với chủ động hội nhập quốc tế; tập trung nâng cao năng lực sản xuất một số ngành công nghiệp chiến lược, tiến tới tự lực, tự chủ, tự cường về khoa học, công nghệ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.201). Hiệu quả thực chất của hội nhập quốc tế được đo bằng khả năng giữ đúng quỹ đạo tự chủ chiến lược và chuyển hóa cơ hội bên ngoài thành động lực phát triển bên trong.
Tự chủ chiến lược giữ vai trò kiểm soát rủi ro, phòng ngừa lệ thuộc và bảo đảm sức chống chịu của hội nhập quốc tế. Hội nhập sâu rộng làm gia tăng tiếp xúc với thị trường, công nghệ, tài chính, chuỗi cung ứng, tiêu chuẩn phát triển, mô hình quản trị và cạnh tranh địa chiến lược. Các tác động bên ngoài mở rộng nguồn lực, đồng thời tạo nguy cơ lệ thuộc nếu nền tảng tự chủ còn yếu. Hội nhập quốc tế phải được tổ chức như quá trình lựa chọn, kiểm soát và giảm thiểu rủi ro. “Khẩn trương nâng cao năng lực phân tích, dự báo chiến lược và đánh giá rủi ro hệ thống, đáp ứng được nhu cầu xử lý những tình huống phức tạp phát sinh” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.269). Tự chủ chiến lược tạo năng lực xác định giới hạn hội nhập, ngưỡng an toàn liên kết, lĩnh vực ưu tiên, mức độ phụ thuộc, năng lực dự báo, xử lý khủng hoảng và điều chỉnh chính sách. Sức ép về thể chế, công nghệ, thị trường, nhân lực, năng suất và quản trị chỉ trở thành động lực đổi mới khi được cấu trúc tự chủ đủ vững để tiếp thu, chọn lọc, chuyển hóa. Hội nhập có định hướng gắn với kiểm soát rủi ro; hội nhập hiệu quả gắn với nâng cao sức chống chịu; hội nhập sâu rộng gắn với bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc.
Hai là, hội nhập quốc tế là phương thức quan trọng để củng cố và nâng cao tự chủ chiến lược
Hội nhập quốc tế tạo lập môi trường và nguồn lực để củng cố tự chủ chiến lược. Hội nhập quốc tế là phương thức tiếp cận, huy động, chọn lọc và chuyển hóa nguồn lực bên ngoài thành năng lực phát triển bên trong. Năng lực tự chủ quốc gia được bồi đắp thông qua việc tham gia chủ động vào các quan hệ kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, công nghệ và quản trị toàn cầu. Hội nhập mở rộng thị trường, tiếp cận tri thức, công nghệ, kinh nghiệm quản trị, mạng lưới đối tác và chuẩn mực phát triển hiện đại, góp phần củng cố sức mạnh tổng hợp quốc gia. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ “tăng cường quốc phòng, an ninh, đẩy mạnh đối ngoại, hội nhập quốc tế là trọng yếu, thường xuyên”; “đối ngoại tiếp tục giữ vai trò tiên phong bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc;… tận dụng hiệu quả các cơ hội hợp tác” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.26, 33) và khẳng định “hội nhập quốc tế là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.86). Hội nhập quốc tế đã được xác định như phương thức chiến lược tạo lập môi trường, nguồn lực, vị thế và điều kiện phát triển. Mức độ chủ động, toàn diện, sâu rộng, hiệu quả của hội nhập quốc tế gắn với khả năng gia tăng nguồn lực, mở rộng không gian phát triển, tiếp cận khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, đa dạng hóa đối tác, nâng cao sức chống chịu và vị thế quốc gia. “Đối ngoại đã phát huy tích cực, hiệu quả vai trò tiên phong, góp phần duy trì, củng cố môi trường hoà bình, ổn định, mở ra cục diện mới chưa từng có cho phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.54). Hội nhập quốc tế tạo môi trường phát triển, tham gia trực tiếp vào việc hình thành những điều kiện vật chất, công nghệ, thể chế và vị thế cần thiết để củng cố tự chủ chiến lược. “Lấy hội nhập quốc tế làm phương thức để huy động mọi nguồn lực cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.94). Do vậy, hội nhập quốc tế là phương thức tổ chức quan hệ với môi trường quốc tế để biến cơ hội bên ngoài thành điều kiện phát triển bên trong.
Hội nhập quốc tế giúp tự chủ chiến lược không rơi vào biệt lập, củng cố niềm tin chính trị và vị thế của quốc gia. Hội nhập quốc tế củng cố tự chủ chiến lược thông qua năng lực tham gia, lựa chọn, hợp tác, đàm phán, xử lý quan hệ lợi ích và bảo vệ quyền tự quyết trong môi trường quốc tế. Năng lực tự chủ được khẳng định bằng sự tham gia chủ động, có trách nhiệm, tạo tin cậy chính trị, hài hòa lợi ích giữa các chủ thể và mở rộng khả năng tự quyết. Vì vậy, cần “đẩy mạnh và nâng tầm đối ngoại đa phương kết hợp chặt chẽ với đối ngoại song phương; phát huy vai trò thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Chủ động tham gia và phát huy vai trò của Việt Nam tại các cơ chế đa phương khu vực và quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.281). Hội nhập quốc tế củng cố tự chủ chiến lược qua việc tham gia có trách nhiệm vào các cơ chế khu vực, quốc tế, kết hợp song phương với đa phương, gia tăng tin cậy đối ngoại, mở rộng không gian hợp tác và nâng cao năng lực xử lý quan hệ phức tạp. Trong quan hệ với tự chủ chiến lược, hội nhập quốc tế biểu hiện tập trung qua năng lực chủ động thiết kế các quan hệ đối ngoại, chuyển hóa vị thế đối ngoại thành môi trường hòa bình, ổn định, tin cậy chính trị, khả năng huy động nguồn lực, tham gia xử lý các vấn đề khu vực, quốc tế và bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc. “Kiên trì và sáng tạo thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hoá, đa dạng hoá; chủ động, tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả… là thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.261-262). Hội nhập quốc tế là phương thức làm cho tự chủ chiến lược được củng cố trong trật tự thế giới biến động phức tạp.
Hội nhập quốc tế là cơ chế sàng lọc, cân bằng và điều chỉnh giữa nguồn lực bên trong với môi trường quốc tế bên ngoài. Hội nhập quốc tế là cơ chế kiểm nghiệm nội lực quốc gia trước cạnh tranh quốc tế, làm rõ giới hạn của thể chế, công nghệ, nguồn nhân lực, doanh nghiệp, quản trị và sức chống chịu kinh tế. Yêu cầu từ môi trường quốc tế trở thành hệ quy chiếu để xác lập ưu tiên chiến lược, lựa chọn đột phá, điều chỉnh chính sách và nâng cao năng lực tự chủ. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh: “Tăng cường nghiên cứu, dự báo, tham mưu chiến lược về công tác đối ngoại chủ động, kịp thời phát hiện cơ hội, thách thức” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.281). Hội nhập quốc tế gắn với năng lực phân tích môi trường, nhận diện thời cơ, dự báo rủi ro, điều chỉnh ưu tiên và phòng ngừa tác động bất lợi. Hội nhập vận hành như cơ chế sàng lọc, cân bằng chiến lược, giúp quốc gia phân biệt cơ hội với lệ thuộc, hợp tác với phụ thuộc, mở rộng không gian phát triển với đánh đổi lợi ích chiến lược, tranh thủ ngoại lực với bảo toàn nền tảng tự chủ. Tiến trình hội nhập làm rõ giới hạn của kinh tế, công nghệ, nhân lực, thể chế, quản trị và sức chống chịu, đặt ra yêu cầu đổi mới để nâng cao năng lực tự chủ. Vì vậy, cần “phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại trong việc tạo lập và giữ vững môi trường hoà bình, ổn định; huy động các nguồn lực bên ngoài để phát triển đất nước; không ngừng nâng cao tiềm lực, vai trò, vị thế, uy tín quốc tế của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.281). Tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế tạo thành chỉnh thể phát triển, trong đó tự chủ chiến lược giữ vai trò nền tảng, hội nhập quốc tế giữ vai trò phương thức chuyển hóa nguồn lực thời đại thành năng lực quốc gia.
3.3. Ý nghĩa của việc giải quyết mối quan hệ giữa tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế trong Văn kiện Đại hội XIV của Đảng
Một là, ý nghĩa đối với phát triển tư duy của Đảng về mối quan hệ giữa nội lực và ngoại lực, sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại
Tư duy của Đảng về kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nội lực với ngoại lực phát triển từ nhận thức về vai trò quyết định của tự chủ quốc gia trong hội nhập quốc tế. Đảng xử lý quan hệ giữa bên trong và bên ngoài theo nguyên tắc lấy nội lực làm nền tảng, tranh thủ ngoại lực một cách chủ động, chọn lọc, phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc và yêu cầu phát triển đất nước. Hồ Chí Minh từng chỉ rõ: “Tự lực cánh sinh là chính, việc các nước bạn giúp ta là phụ. Các nước bạn giúp ta cũng như thêm vốn cho ta. Ta phải khéo dùng cái vốn ấy để bồi bổ lực lượng của ta, phát triển khả năng của ta” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.56-57). Theo đó, ngoại lực chỉ trở thành sức mạnh phát triển khi được tiếp nhận bằng năng lực nội sinh, được tổ chức dưới sự chủ động của quốc gia và được chuyển hóa thành năng lực bên trong của dân tộc. Trong điều kiện toàn cầu hóa, quốc tế hóa và cạnh tranh chiến lược gia tăng, Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định “chủ động, tích cực hội nhập sâu rộng hơn vào nền chính trị thế giới, nền kinh tế quốc tế và nền văn minh nhân loại, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại trong xây dựng, phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.73), đồng thời “hội nhập quốc tế trên cơ sở phát huy tối đa nội lực, tranh thủ ngoại lực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.86). Những luận điểm trên cho thấy bước phát triển tư duy từ phối hợp nguồn lực sang tổ chức, tiếp thu, sàng lọc và chuyển hóa nguồn lực. Nội lực là nền tảng độc lập, tự chủ, quyền tự quyết, sức chống chịu; ngoại lực bổ sung cho sự phát triển nhanh, bền vững khi được tiếp nhận, sử dụng và nội sinh hóa bằng tự chủ chiến lược. Quan hệ giữa nội lực và ngoại lực được hiện thực hóa qua quan hệ giữa tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế. Tự chủ chiến lược tổ chức nội lực thành sức mạnh tự quyết, kiến tạo phát triển. Hội nhập quốc tế chuyển hóa ngoại lực thành nguồn lực, vị thế và điều kiện phát triển. Giải quyết quan hệ giữa tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế làm rõ cơ chế chuyển hóa sức mạnh thời đại thành sức mạnh dân tộc. Ngoại lực trở thành nội lực thông qua tự chủ chiến lược, lợi ích quốc gia – dân tộc, năng lực sản xuất, khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực, quản trị và sức chống chịu kinh tế. Hội nhập quốc tế củng cố tự chủ chiến lược bằng môi trường hòa bình, ổn định, quan hệ đối ngoại rộng mở, vị thế quốc gia, năng lực huy động nguồn lực và động lực đổi mới từ sức ép hội nhập. Đại hội lần XIV của Đảng “đã nhận thức sâu sắc hơn yêu cầu giải quyết một cách thỏa đáng mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và giữ vững độc lập, tự chủ, chủ quyền quốc gia” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.86). Đảng nhất quán quan điểm “mở rộng đối ngoại để tận dụng ngoại lực, phát huy nội lực cho xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.81). Điều này cho thấy bước phát triển trong tư duy lý luận của Đảng về quan hệ giữa hội nhập quốc tế, độc lập, tự chủ và chủ quyền quốc gia. Hội nhập gắn với giữ vững độc lập, tự chủ; mở rộng đối ngoại gắn với phát huy nội lực; tranh thủ ngoại lực chịu sự điều tiết của lợi ích quốc gia – dân tộc và năng lực tự chủ chiến lược. Tư duy của Đảng vượt khỏi cách hiểu cộng gộp giữa nội lực và ngoại lực sang tổ chức, tiếp thu, sàng lọc và chuyển hóa nguồn lực phát triển. Tự chủ chiến lược trở thành hình thức hiện đại của độc lập, tự chủ; hội nhập quốc tế trở thành phương thức phát triển sức mạnh dân tộc trong quan hệ với sức mạnh thời đại, phục vụ đường lối phát triển nhanh, bền vững, độc lập, tự chủ, chủ động, tích cực và thích ứng cao.
Hai là, ý nghĩa đối với hoạch định đường lối, chính sách củng cố nội lực, tranh thủ ngoại lực trong kỷ nguyên phát triển mới
Đường lối, chính sách của Đảng phải lấy năng lực nội sinh làm nền tảng, tự chủ chiến lược làm điều kiện bảo đảm quyền tự quyết, hội nhập quốc tế là phương thức huy động, sàng lọc và chuyển hóa ngoại lực thành năng lực bên trong. Hồ Chí Minh từng khẳng định: “Các nước anh em giúp chỉ là một phần. Còn tự lực cánh sinh là chính” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.614-615). Nhờ đó, “những thắng lợi của chúng ta là do nhân dân ta tự lực cánh sinh là chính nhưng cũng không tách rời sự giúp đỡ chí tình của các nước anh em…” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.257). Trong xây dựng đất nước, tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế tạo sức mạnh tổng hợp. Đại hội lần thứ XIV của Đảng yêu cầu “phát huy cao độ tinh thần yêu nước, khát vọng phát triển, sức mạnh của Nhân dân và đại đoàn kết toàn dân tộc; kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, đổi mới mạnh mẽ tư duy; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các quyết sách chiến lược” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.148). Theo đó, củng cố nội lực bao gồm phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ, nguồn nhân lực, văn hóa, thể chế, quản trị quốc gia và sức chống chịu của hệ thống. Tuyệt đối hóa ngoại lực dẫn tới nguy cơ phụ thuộc, bị động trước biến động bên ngoài; tuyệt đối hóa nội lực thu hẹp không gian phát triển, hạn chế khả năng bứt phá. Hoạch định đường lối, chính sách trong kỷ nguyên mới phải thống nhất củng cố nền tảng nội sinh với mở rộng hội nhập, chuyển hóa ngoại lực thành điều kiện nâng cao nội lực.
Ba là, ý nghĩa đối với hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn 2045
Đây là một trong những điều kiện để bảo đảm cho tiến trình phát triển, vừa giữ được định hướng chiến lược, vừa có đủ khả năng thích ứng và bứt phá trong bối cảnh mới. Những mục tiêu phát triển ấy đòi hỏi sự chuyển biến về chất của nền kinh tế, năng lực công nghệ, hiệu quả quản trị quốc gia, sức cạnh tranh và vị thế đất nước trong sinh hoạt kinh tế và chính trị toàn cầu. “Đại hội XIV có trọng trách lịch sử xác lập những quyết sách mang tính “bệ phóng” để thực hiện thành công hai mục tiêu chiến lược 100 năm của đất nước”, cho nên cần “tinh thần cầu thị, khoa học, hành động” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.25, 23) trong hoạch định đường lối, chính sách. Mặt khác, việc giải quyết đúng mối quan hệ này tạo cơ sở chuyển hóa khát vọng phát triển thành năng lực phát triển thực tế. Tự chủ chiến lược bảo đảm quyền lựa chọn con đường phát triển, mô hình tăng trưởng, kiểm soát điều kiện chiến lược và bảo vệ lợi ích quốc gia – dân tộc trong hội nhập; hội nhập quốc tế trên nền tảng tự chủ, mở rộng điều kiện, nâng cao chất lượng tăng trưởng và củng cố năng lực phát triển dài hạn. Trong hoạch định các chính sách phát triển, cần “khơi thông và giải phóng sức sản xuất, phát huy mọi nguồn lực, trong đó nguồn nội lực là chủ đạo, nguồn lực quốc tế là quan trọng” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.260-261). Vì vậy, giải quyết đúng mối quan hệ giữa tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế là yêu cầu về phương pháp của tư duy phát triển, đồng thời là điều kiện thực tiễn bảo đảm đất nước phát triển nhanh, bền vững
4. Kết luận
Tự chủ chiến lược và hội nhập quốc tế trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng là hai mặt gắn bó chặt chẽ trong tư duy phát triển đất nước của Đảng. Giải quyết đúng mối quan hệ giữa hai phương diện ấy có ý nghĩa trực tiếp đối với việc phát triển tư duy lý luận của Đảng về kết hợp nội lực với ngoại lực, sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại; đối với hoạch định đường lối, chính sách phát triển trong kỷ nguyên mới; cũng như đối với hiện thực hóa các mục tiêu phát triển đất nước đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045. Từ đây, có thể tiếp tục nghiên cứu sâu hơn về mối quan hệ này trong từng lĩnh vực cụ thể và trong tiến trình phát triển tư duy của Đảng qua các kỳ đại hội./.

——————————————

Ngày nhận bài: 20/3/2026; ngày thẩm định: 23/3/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
[email protected]
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia.

(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *