TS. HUỲNH TUẤN LINH
Trường Đại học Công Thương Thành phố Hồ Chí Minh
Tóm tắt: Phong cách tư duy Hồ Chí Minh có giá trị phương pháp luận quan trọng trong giáo dục, rèn luyện thanh niên Việt Nam trước những tác động mạnh mẽ của chuyển đổi số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo. Những biểu hiện cốt lõi của phong cách tư duy Hồ Chí Minh, như độc lập, tự chủ, sáng tạo; lý luận gắn với thực tiễn; linh hoạt, mềm dẻo là cơ sở quan trọng để hình thành bản lĩnh chính trị, năng lực phản biện và khả năng làm chủ công nghệ của thanh niên. Thực tiễn cho thấy, bên cạnh những chuyển biến tích cực về nhận thức chính trị và năng lực thích ứng công nghệ, một bộ phận thanh niên vẫn còn hạn chế về tư duy phản biện, khả năng kiểm chứng thông tin và ý thức trách nhiệm trong môi trường số. Vì vậy, cần đổi mới giáo dục lý luận chính trị, gắn lý luận với thực tiễn, bồi dưỡng năng lực công dân số và phát huy vai trò chủ thể của thanh niên trong kỷ nguyên số.
Từ khóa: giáo dục; kỷ nguyên số; phong cách tư duy Hồ Chí Minh; thanh niên
APPLYING HO CHI MINH’S THINKING STYLE TO YOUTH EDUCATION AND CULTIVATION IN THE DIGITAL ERA
Abstract: Ho Chi Minh’s style of thinking holds significant methodological value for the education and cultivation of Vietnamese youth amid the profound impacts of digital transformation, social media, and artificial intelligence. The core manifestations of Ho Chi Minh’s style of thinking, such as independence, autonomy, and creativity; the linkage between theory and practice; and flexibility and adaptability, provide an important foundation for forming young people’s political steadfastness, critical thinking capacity, and ability to master technology. Practice shows that, alongside positive changes in political awareness and technological adaptability, a segment of young people still has limitations in critical thinking, information verification, and sense of responsibility in the digital environment. Therefore, it is necessary to renew political theory education, link theory with practice, foster digital citizenship capacity, and promote the role of young people as active subjects in the digital era.
Keywords: education; Ho Chi Minh’s thinking style; the digital era; youth
1. Đặt vấn đề
Thanh niên là lực lượng xã hội to lớn, giữ vai trò xung kích, sáng tạo trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn khẳng định: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.261). Người đặc biệt quan tâm đến việc giáo dục, rèn luyện thanh niên cả về đạo đức, trí tuệ, bản lĩnh và phương pháp tư duy.
Trong giai đoạn hiện nay, cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và chuyển đổi số tạo ra những biến đổi sâu sắc trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Không gian số mở ra nhiều cơ hội học tập, sáng tạo, khởi nghiệp cho thanh niên; đồng thời, đặt ra những thách thức mới, như nguy cơ lệch chuẩn giá trị, tiếp nhận thông tin thiếu chọn lọc, phụ thuộc vào công nghệ, năng lực tự học và tư duy độc lập bị giảm và dễ bị tác động bởi các luồng thông tin sai lệch trên mạng xã hội. Thực tiễn đó đòi hỏi phải đổi mới nội dung, phương thức giáo dục, rèn luyện thanh niên, trong đó việc vận dụng tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, nhất là phong cách tư duy Hồ Chí Minh, có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc.
Trên cơ sở sử dụng phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, bài viết khái quát những biểu hiện cơ bản của phong cách tư duy Hồ Chí Minh; phân tích thực trạng vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh vào giáo dục, rèn luyện thanh niên Việt Nam trong kỷ nguyên số theo các phương diện: nhận thức chính trị, năng lực tư duy độc lập, khả năng kiểm chứng thông tin và mức độ làm chủ công nghệ; từ đó, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục, rèn luyện phong cách tư duy Hồ Chí Minh cho thanh niên hiện nay.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Biểu hiện nổi bật của phong cách tư duy Hồ Chí Minh
Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là sự kết tinh giữa trí tuệ sắc sảo, bản lĩnh chính trị kiên định và kinh nghiệm thực tiễn phong phú. Phong cách đó được hình thành trên cơ sở kế thừa truyền thống tư duy của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại, đặc biệt là chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời được kiểm nghiệm, bổ sung và phát triển trong thực tiễn đấu tranh cách mạng. Văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng khẳng định: “Tư tưởng Hồ Chí Minh là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo chủ nghĩa Mác – Lênin vào điều kiện cụ thể của nước ta” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.83).
Điểm nổi bật trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh là sự thống nhất biện chứng giữa lý luận và thực tiễn. Hồ Chí Minh luôn coi thực tiễn là điểm xuất phát và tiêu chuẩn kiểm nghiệm chân lý; đồng thời, yêu cầu vận dụng lý luận một cách sáng tạo, tránh giáo điều, máy móc. Người nhấn mạnh: “Lý luận mà không liên hệ với thực tiễn là lý luận suông” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.273). Bên cạnh đó, phong cách tư duy của Người còn thể hiện ở sự kết hợp hài hòa giữa tính nguyên tắc và tính linh hoạt, giữa mục tiêu chiến lược lâu dài và sách lược cụ thể trong từng hoàn cảnh.
Phong cách tư duy Hồ Chí Minh là một chỉnh thể thống nhất, vừa mang tính khoa học, cách mạng, vừa thấm đượm giá trị nhân văn, thể hiện ở các biểu hiện nổi bật sau:
Thứ nhất, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo
Trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Hồ Chí Minh là tấm gương tiêu biểu về tư duy độc lập, tự chủ và sáng tạo. Người luôn phê phán lối tư duy giáo điều, máy móc. Hồ Chí Minh chỉ rõ: “Học tập kinh nghiệm của người khác là rất cần, nhưng không được bắt chước một cách máy móc, vì bắt chước như thế là thất bại” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.293). Phong cách tư duy đó thể hiện rõ trong quá trình Người tìm đường cứu nước và xác định con đường cách mạng Việt Nam. Trên cơ sở tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh không vận dụng giáo điều các mô hình cách mạng có sẵn, mà luôn xuất phát từ điều kiện lịch sử, kinh tế, xã hội cụ thể của Việt Nam để xác định đường lối cách mạng giải phóng dân tộc phù hợp. Người khẳng định: “Muốn người ta giúp cho mình thì trước hết mình phải tự giúp lấy mình đã” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.320). Vì vậy, tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh luôn gắn liền với tinh thần tự lực, tự cường của dân tộc, trở thành giá trị phương pháp luận có ý nghĩa sâu sắc đối với cách mạng Việt Nam.
Thứ hai, tư duy lý luận gắn với thực tiễn
Một trong những đặc trưng xuyên suốt trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh là sự thống nhất chặt chẽ giữa tư duy lý luận và thực tiễn cách mạng. Đối với Người, thực tiễn không chỉ là điểm xuất phát của nhận thức, mà còn là thước đo kiểm nghiệm giá trị của lý luận. Từ lập trường đó, Hồ Chí Minh luôn tiếp cận và vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin một cách sáng tạo, phù hợp với điều kiện lịch sử – cụ thể của Việt Nam, tránh mọi biểu hiện giáo điều, rập khuôn.
Ngay từ khi tiếp thu chủ nghĩa Mác – Lênin, Hồ Chí Minh không vận dụng một cách giáo điều, máy móc mà luôn bổ sung, phát triển trên cơ sở thực tiễn phong phú của các dân tộc, đặc biệt là các nước phương Đông. Người nhấn mạnh phải “xem xét lại chủ nghĩa Mác về cơ sở lịch sử của nó, củng cố nó bằng dân tộc học phương Đông” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.465). Điều này cho thấy phương pháp tư duy của Hồ Chí Minh luôn xuất phát từ thực tiễn dân tộc để tiếp thu lý luận, đồng thời dùng thực tiễn để làm phong phú và phát triển lý luận.
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Hồ Chí Minh kiên quyết phê phán biểu hiện xa rời thực tiễn, coi đó là nguyên nhân dẫn đến sai lầm trong nhận thức và hành động. Do đó, học tập lý luận không phải chỉ để tích lũy tri thức, mà trước hết nhằm phục vụ thực tiễn cách mạng. Người khẳng định: “Học để hành. Học mà không hành thì học vô ích” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.208). Như vậy, trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh, lý luận chỉ thực sự có ý nghĩa khi được chuyển hóa thành hành động để giải quyết những vấn đề thực tiễn đặt ra.
Tư tưởng đó tiếp tục được Đảng kế thừa và phát triển trong điều kiện mới. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận với hoạch định và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.239). Quan điểm này không chỉ khẳng định giá trị bền vững của phong cách tư duy Hồ Chí Minh, mà còn cho thấy ý nghĩa phương pháp luận sâu sắc của việc gắn lý luận với thực tiễn trong sự nghiệp đổi mới và phát triển đất nước hiện nay.
Thứ ba, tư duy linh hoạt, mềm dẻo trên nền tảng kiên định mục tiêu, nguyên tắc
Nếu sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn tạo nên chiều sâu khoa học trong phong cách tư duy Hồ Chí Minh, thì tính linh hoạt, mềm dẻo thể hiện rõ bản lĩnh và nghệ thuật xử lý các vấn đề cách mạng trong những hoàn cảnh cụ thể. Phong cách tư duy này được cô đọng trong phương châm “Dĩ bất biến, ứng vạn biến”. Theo Hồ Chí Minh, cái “bất biến” là lợi ích tối cao của dân tộc, là độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; còn “vạn biến” là sự linh hoạt, sáng tạo trong phương thức hành động, là khả năng thích ứng trước những biến động phức tạp của tình hình trong nước và quốc tế.
Nhờ kiên định nguyên tắc, Người có thể chủ động lựa chọn giải pháp phù hợp trong từng hoàn cảnh, kết hợp hài hòa giữa mục tiêu lâu dài và nhiệm vụ trước mắt, giữa lợi ích dân tộc và nghĩa vụ quốc tế.
Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1945, nước ta phải đối mặt với nhiều thách thức nghiêm trọng: kinh tế kiệt quệ, nạn đói, nạn dốt, thù trong giặc ngoài, nguy cơ mất chính quyền cách mạng. Với bản lĩnh chính trị và phương pháp tư duy linh hoạt, mềm dẻo, Hồ Chí Minh cùng Đảng lãnh đạo nhân dân từng bước vượt qua tình thế hiểm nghèo, củng cố chính quyền cách mạng và chuẩn bị điều kiện cho cuộc kháng chiến lâu dài. Trong bối cảnh hiện nay, giá trị của phong cách tư duy này tiếp tục được Đảng kế thừa và phát triển. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu chủ động, sáng tạo, linh hoạt trong lãnh đạo, chỉ đạo; kiên định mục tiêu chiến lược, đồng thời xử lý tốt các vấn đề nảy sinh từ thực tiễn (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.44). Do vậy, tư duy linh hoạt, mềm dẻo của Hồ Chí Minh không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà còn có giá trị thực tiễn sâu sắc đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.
2.2. Vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh vào giáo dục, rèn luyện thanh niên Việt Nam trong kỷ nguyên số
2.2.1. Thực trạng vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh vào giáo dục, rèn luyện thanh niên trong kỷ nguyên số
Trong những năm gần đây, việc vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh vào giáo dục, rèn luyện thanh niên Việt Nam đã có những chuyển biến tích cực, gắn với quá trình đổi mới giáo dục và sự phát triển mạnh mẽ của môi trường số. Với sự lãnh đạo của Đảng, việc giáo dục phương pháp tư duy theo phong cách Hồ Chí Minh từng bước được chú trọng, góp phần củng cố nhận thức chính trị, tư tưởng, đồng thời hình thành ở thanh niên năng lực tư duy phù hợp hơn với yêu cầu của thời kỳ chuyển đổi số.
Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” xác định thanh niên là “rường cột của nước nhà, chủ nhân tương lai của đất nước, là lực lượng xung kích trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Ban Chấp hành Trung ương, 2008). Công tác giáo dục thanh niên không chỉ dừng lại ở truyền thụ tri thức, mà còn phải hướng tới phát triển toàn diện về tư duy, bản lĩnh chính trị và năng lực hành động. Trong kỷ nguyên số, yêu cầu này càng trở nên cấp thiết khi thanh niên vừa là đối tượng tiếp nhận, vừa là chủ thể sáng tạo trong không gian mạng. Theo một khảo sát được công bố, Việt Nam có khoảng 23 triệu thanh niên, chiếm gần 24% dân số; trong đó, 75,4% thanh niên được khảo sát cho biết sử dụng internet để giải trí (Bảo Minh, 2025). Không gian số đã trở thành môi trường quen thuộc của thanh niên, đặt ra yêu cầu định hướng để thanh niên sử dụng không gian số cho học tập, sáng tạo, rèn luyện tư duy độc lập, khả năng chọn lọc thông tin và năng lực phản biện trước các luồng thông tin đa dạng, phức tạp.
Thực tiễn cho thấy, phần lớn thanh niên Việt Nam hiện nay năng động, sáng tạo, có khả năng thích ứng nhanh với khoa học, công nghệ và chuyển đổi số. Các phong trào như “Thanh niên khởi nghiệp”, “Tuổi trẻ sáng tạo”, “Thanh niên tình nguyện” tạo môi trường thực tiễn để thanh niên học tập, rèn luyện phương pháp tư duy gắn với hành động, phù hợp với lời dạy của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Học để hành. Học mà không hành thì học vô ích” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.208). Đặc biệt, nhiều mô hình khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo dựa trên nền tảng số đã thể hiện khả năng vận dụng linh hoạt, sáng tạo tri thức vào giải quyết các vấn đề thực tiễn của đất nước.
Trong lĩnh vực giáo dục, việc giảng dạy môn Tư tưởng Hồ Chí Minh ở các cơ sở giáo dục đại học tạo nền tảng quan trọng cho việc hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho sinh viên. Không chỉ truyền đạt hệ thống quan điểm, môn học ngày càng chú trọng giá trị phương pháp luận của tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo và khả năng vận dụng lý luận vào thực tiễn. Văn kiện Đại hội lần thứ XIII của Đảng nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục nâng cao chất lượng giảng dạy các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, góp phần hình thành thế giới quan, phương pháp luận khoa học cho thế hệ trẻ (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.166). Trong bối cảnh chuyển đổi số trong giáo dục, phương pháp giảng dạy các môn lý luận chính trị, trong đó có tư tưởng Hồ Chí Minh, đã có nhiều đổi mới theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ số, hệ thống học tập trực tuyến, nền tảng thảo luận mở, lớp học đảo ngược. Những phương thức này góp phần nâng cao tính tương tác, phát huy tư duy phản biện và khả năng tự học của sinh viên, từng bước chuyển quá trình học tập từ tiếp thu thụ động sang tự kiến tạo tri thức.
Bên cạnh nhà trường, tổ chức đoàn, hội có vai trò quan trọng để lan tỏa phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong thanh niên, đặc biệt trên không gian số. Các cuộc thi trực tuyến, diễn đàn lý luận trẻ, chiến dịch truyền thông số về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh đã thu hút đông đảo đoàn viên, thanh niên tham gia. Những hoạt động này không chỉ góp phần củng cố tri thức lý luận, mà còn tạo môi trường thực hành tư duy phản biện, năng lực lập luận và kỹ năng xử lý thông tin trong môi trường số.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả tích cực, việc vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong giáo dục, rèn luyện thanh niên vẫn bộc lộ một số hạn chế. Một bộ phận thanh niên còn thiếu tư duy phản biện, tư duy khoa học; chưa thực sự làm chủ công nghệ mà có biểu hiện phụ thuộc vào các công cụ số, nhất là trí tuệ nhân tạo, dẫn đến giảm tính chủ động trong tư duy, sao chép thông tin một cách máy móc. Điều này trái với tinh thần độc lập, tự chủ, sáng tạo mà Hồ Chí Minh luôn nhấn mạnh.
Trong môi trường số, một bộ phận thanh niên còn hạn chế về khả năng chọn lọc, kiểm chứng thông tin, dễ bị tác động bởi các quan điểm sai trái, thù địch. Đảng nhận định công tác “đấu tranh, ngăn chặn các hoạt động chống phá, xử lý thông tin xấu độc trên không gian mạng còn khó khăn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.334). Từ đó, yêu cầu nâng cao năng lực sàng lọc, phân tích, phản biện và bảo vệ quan điểm đúng đắn trên nền tảng khoa học cho thanh niên trở thành yêu cầu cấp thiết hơn. Mặt khác, công tác tuyên truyền, giáo dục chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, đường lối, quan điểm của Đảng ở một số nơi vẫn còn biểu hiện xơ cứng, giáo điều; nội dung, hình thức tuyên truyền chưa thật phong phú (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.224). Những hạn chế này làm giảm sức hấp dẫn và hiệu quả chuyển hóa tri thức lý luận thành năng lực tư duy, hành động của thanh niên.
Những hạn chế trên xuất phát từ các nguyên nhân: một số hoạt động giáo dục lý luận chính trị còn nặng về truyền đạt tri thức, chưa chú trọng đúng mức đến rèn luyện phương pháp tư duy, kỹ năng lập luận và năng lực giải quyết vấn đề; tốc độ phát triển của công nghệ, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo nhanh hơn khả năng thích ứng của một số nhà trường, tổ chức đoàn, hội và đội ngũ làm công tác giáo dục thanh niên; kỹ năng công dân số, đạo đức sử dụng công nghệ, năng lực kiểm chứng thông tin và năng lực phản biện trên không gian mạng chưa được thiết kế thành nội dung giáo dục thường xuyên, có tiêu chí đánh giá cụ thể; bản thân một bộ phận thanh niên tuy có ưu thế tiếp cận công nghệ nhưng chưa hình thành đầy đủ thói quen tự học, tự kiểm chứng và tự chịu trách nhiệm đối với hành vi của mình trên môi trường số.
Nhìn chung, việc vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong giáo dục, rèn luyện thanh niên hiện nay đang đứng trước cơ hội và thách thức đan xen. Kỷ nguyên số vừa mở rộng không gian tiếp cận tri thức, vừa đặt ra yêu cầu cao hơn đối với năng lực tư duy độc lập, sáng tạo và bản lĩnh chính trị của thanh niên. Vì vậy, tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức giáo dục phong cách tư duy Hồ Chí Minh gắn với môi trường số, phát huy vai trò chủ thể của thanh niên, đồng thời tăng cường khả năng sàng lọc thông tin trước tác động tiêu cực của không gian mạng là yêu cầu cấp thiết hiện nay.
2.2.2. Giải pháp giáo dục, rèn luyện thanh niên Việt Nam trong kỷ nguyên số theo phong cách tư duy Hồ Chí Minh
Trong bối cảnh chuyển đổi số và hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng mạnh mẽ, giáo dục, rèn luyện thanh niên không chỉ dừng lại ở trang bị tri thức, mà cần hướng tới hình thành năng lực tư duy, đặc biệt là phong cách tư duy khoa học, độc lập, sáng tạo theo phong cách Hồ Chí Minh. Điều đó đòi hỏi hệ thống giải pháp đồng bộ, vừa dựa trên nền tảng tư tưởng của Đảng, vừa thích ứng linh hoạt với đặc trưng của thời đại số.
Thứ nhất, tiếp tục quán triệt và cụ thể hóa quan điểm của Đảng về công tác thanh niên, đặt giáo dục phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong tổng thể nhiệm vụ xây dựng thế hệ trẻ Việt Nam thời kỳ mới. Đảng luôn nhấn mạnh yêu cầu xây dựng thế hệ trẻ có lý tưởng cách mạng, bản lĩnh chính trị, tư duy độc lập, sáng tạo (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.167). Đồng thời, yêu cầu đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia đặt ra nhiệm vụ đổi mới tư duy, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu của kỷ nguyên mới (Bộ Chính trị, 2024). Từ góc nhìn đó, phong cách tư duy Hồ Chí Minh cần được nhận thức như một hệ phương pháp luận sống động, giúp thanh niên biết tự mình suy nghĩ, tự mình giải quyết vấn đề, tránh lệ thuộc vào lối tư duy thụ động, sao chép máy móc. Tinh thần này cũng phù hợp với yêu cầu phát huy vai trò của thanh niên như chủ thể sáng tạo tương lai đất nước (Tô Lâm, 2026).
Thứ hai, nâng cao chất lượng giáo dục lý luận chính trị theo hướng phát triển năng lực tư duy. Các cơ sở giáo dục đại học cần chuyển mạnh việc giảng dạy các môn khoa học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh từ trọng tâm truyền thụ tri thức sang hình thành phương pháp tư duy. Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” đã chỉ rõ yêu cầu “chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học” (Ban Chấp hành Trung ương, 2013). Trên cơ sở đó, giảng viên không chỉ truyền đạt nội dung, mà phải định hướng phương pháp tư duy, giúp sinh viên biết phân tích, phản biện và vận dụng lý luận vào giải quyết các vấn đề thực tiễn. Trong môi trường số, cần tận dụng các nền tảng công nghệ để đổi mới phương pháp giảng dạy, xây dựng mô hình học tập mở, học tập số, khuyến khích người học chủ động tìm kiếm, xử lý và kiểm chứng thông tin. Các bài tập tình huống về nhận diện thông tin sai lệch, kiểm chứng nguồn tin, văn hóa tranh luận trên mạng xã hội cần được đưa vào chương trình dạy học nhằm rèn luyện tư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo.
Thứ ba, gắn giáo dục phong cách tư duy Hồ Chí Minh với thực tiễn rèn luyện của thanh niên thông qua các phong trào cụ thể, thiết thực. Thực tiễn là môi trường quan trọng để tư duy được kiểm nghiệm và phát triển. Các phong trào do tổ chức đoàn, hội phát động cần tiếp tục đổi mới theo hướng gắn với các vấn đề của thời đại số như chuyển đổi số, khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, công dân số, trách nhiệm xã hội trên không gian mạng. Qua đó, thanh niên không chỉ hiểu, mà còn thực hành phong cách tư duy Hồ Chí Minh. Cần tăng cường phối hợp giữa tổ chức đoàn, hội, nhà trường và đội ngũ giảng viên nhằm bảo đảm sự thống nhất giữa giáo dục lý luận và rèn luyện thực tiễn. Có thể triển khai các diễn đàn phản biện trẻ, cuộc thi xử lý tình huống trên không gian số, mô hình truyền thông tích cực của đoàn viên, thanh niên hoặc các dự án cộng đồng ứng dụng công nghệ để giải quyết vấn đề thực tiễn. Đây là con đường quan trọng để chuyển hóa tri thức thành năng lực tư duy và hành động.
Thứ tư, bồi dưỡng năng lực tư duy phản biện, khả năng chọn lọc, kiểm chứng thông tin và đạo đức sử dụng trí tuệ nhân tạo cho thanh niên. Trước sự bùng nổ của thông tin và sự phát triển nhanh của trí tuệ nhân tạo, nếu không có bản lĩnh và phương pháp tư duy đúng, thanh niên dễ rơi vào tình trạng lệ thuộc công nghệ, mất phương hướng hoặc bị dẫn dắt bởi các luồng thông tin sai lệch. Vì vậy, cần tăng cường giáo dục thanh niên về ý thức trách nhiệm, tinh thần cảnh giác khi tham gia môi trường truyền thông số (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.273). Nâng cao năng lực nhận diện thông tin, phân tích, đánh giá, phản biện và bảo vệ quan điểm trên cơ sở khoa học là yêu cầu cấp thiết. Đồng thời, cần hướng dẫn thanh niên sử dụng trí tuệ nhân tạo trong học tập, nghiên cứu, bảo đảm đúng quy định. Nhà trường, tổ chức đoàn, hội và giảng viên cần khuyến khích thanh niên công khai việc sử dụng công cụ AI khi cần thiết, kiểm tra lại thông tin do AI gợi ý, trích dẫn nguồn rõ ràng và chịu trách nhiệm học thuật đối với sản phẩm của mình
Thứ năm, xây dựng môi trường số với vai trò nêu gương, dẫn dắt của đội ngũ cán bộ, giảng viên, cán bộ đoàn, hội. Giáo dục phong cách tư duy Hồ Chí Minh chỉ đạt hiệu quả bền vững khi được đặt trong một môi trường văn hóa số tích cực, nơi thanh niên được khuyến khích tranh luận có văn hóa, tôn trọng sự thật, bằng chứng và có trách nhiệm với phát ngôn của mình. Đội ngũ cán bộ, giảng viên, cán bộ đoàn, hội cần làm gương trong tiếp cận thông tin, sử dụng mạng xã hội, khai thác công nghệ số và phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Cùng với đó, cần phát triển các kênh truyền thông chính thống, hấp dẫn, gần gũi với thanh niên; tăng cường sản phẩm truyền thông số có chiều sâu, có tính đối thoại, tránh tuyên truyền một chiều, khô cứng.
3. Kết luận
Việc vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh góp phần hình thành cho thanh niên tư duy khoa học, bản lĩnh chính trị vững vàng, khả năng phản biện và năng lực thích ứng trước những biến đổi nhanh chóng của xã hội hiện đại. Trong kỷ nguyên số, giáo dục phong cách tư duy Hồ Chí Minh không chỉ là truyền đạt tri thức về tư tưởng Hồ Chí Minh, mà quan trọng hơn là giúp thanh niên biết tự học, tự tư duy, tự kiểm chứng thông tin, sử dụng công nghệ có trách nhiệm và chuyển hóa tri thức thành hành động thực tiễn. Do đó, tiếp tục nghiên cứu, vận dụng phong cách tư duy Hồ Chí Minh trong giáo dục, rèn luyện thanh niên là yêu cầu khách quan, có ý nghĩa quan trọng đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay./.
—————————————————————
Ngày nhận bài: 13/5/2026; ngày thẩm định: 15/5/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương (2008). Nghị quyết số 25-NQ/TW ngày 25/7/2008 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác thanh niên thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.
Ban Chấp hành Trung ương (2013). Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo.
Bảo Minh (19/01/2025). 75,4% thanh niên được khảo sát cho biết sử dụng internet để giải trí. Báo Quân đội nhân dân điện tử. https://www.qdnd.vn
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 2). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia.
Tô Lâm (24/3/2026). Thanh niên với tương lai đất nước. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn
(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)
