TÁC PHẨM “KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP, TỰ DO” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SAU 60 NĂM NHÌN LẠI

TÁC PHẨM “KHÔNG CÓ GÌ QUÝ HƠN ĐỘC LẬP, TỰ DO” CỦA CHỦ TỊCH HỒ CHÍ MINH SAU 60 NĂM NHÌN LẠI

GS,TS. TRẦN THỊ MINH TUYẾT (*)

(*) Học viện Báo chí và Tuyên Truyền

MAI ĐỨC NGỌC (**)

(**) Học viện Báo chí và Tuyên Truyền

Tóm tắt: Đối với dân tộc Việt Nam, thế kỷ XX là một thế kỷ hào hùng nhưng cũng đầy thử thách khi phải liên tiếp tiến hành các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược. Trước sự leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ ở Việt Nam, ngày 17/7/1966, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước phát huy tinh thần “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” để kiên quyết đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. 60 năm trôi qua nhưng âm hưởng hào hùng của lời hịch cứu nước vẫn vang vọng những ký ức về một thời lửa đạn của dân tộc và là lời hiệu triệu nhân dân Việt Nam bước vào kỷ nguyên phát triển mới với ý chí kiên cường, bất khuất.
Từ khóa: Chủ tịch Hồ Chí Minh; “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”; kháng chiến chống Mỹ

PRESIDENT HO CHI MINH’S WORK “NOTHING IS MORE PRECIOUS THAN INDEPENDENCE AND FREEDOM”: A SIXTY-YEAR RETROSPECTIVE
Abstract: For the Vietnamese nation, the twentieth century was both a heroic and challenging era, marked by successive wars of resistance against foreign aggressors. In response to the escalation of the U.S. imperialist war in Viet Nam, on 17 July 1966, President Ho Chi Minh called upon compatriots and soldiers throughout the country to uphold the spirit of “Nothing is more precious than independence and freedom” and resolutely defeat the American aggressors. Sixty years later, the heroic resonance of this call for national salvation still evokes memories of the nation’s years of war and continues to serve as a summons for the Vietnamese people to enter a new era of development with resilience and indomitable will.
Keywords: President Ho Chi Minh; “Nothing is more precious than independence and freedom”; resistance war against American aggression

1. Đặt vấn đề
Là một dân tộc yêu chuộng hòa bình nhưng do yếu tố địa – chính trị, Việt Nam liên tiếp phải đối đầu với các cuộc chiến tranh xâm lược. Thực tế đó dẫn đến việc, nhiều tác phẩm văn học chính luận nổi tiếng của dân tộc đã trở thành lời hiệu triệu đánh giặc, cứu nước, như Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Hịch xuất quân của Quang Trung – Nguyễn Huệ,… Kế thừa văn hóa giữ nước của dân tộc, năm 1966, khi cuộc đụng đầu với đế quốc Mỹ xâm lược đang ở thời điểm “sinh – tử”, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời hiệu triệu đồng bào và chiến sĩ cả nước quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược. Lời hịch cứu nước với chân lý bất hủ Không có gì quý hơn độc lập, tự do đã trở thành sức mạnh tinh thần để dân tộc Việt Nam quyết chiến và đi đến quyết thắng.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp, so sánh nhằm tái hiện bối cảnh, nội dung của tác phẩm và làm rõ ý nghĩa to lớn của lời hịch cứu nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã truyền đi 60 năm trước.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Bối cảnh ra đời và nội dung tác phẩm “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Giành chính quyền đã khó nhưng giữ chính quyền còn khó hơn. Vì vậy, ngay trong Tuyên ngôn Độc lập (ngày 02/9/1945), Chủ tịch Hồ Chí Minh đã dõng dạc tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thực đã thành một nước tự do và độc lập. Toàn thể dân Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vững quyền tự do và độc lập ấy” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.3). Thực hiện lời thề thiêng liêng đó, khi thực dân Pháp quyết cướp nước ta một lần nữa, nhân dân Việt Nam đã kiên cường tiến hành cuộc kháng chiến chống Pháp gian khổ và làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Tuy nhiên, Hiệp định Giơnevơ vừa được ký kết, với nội dung cốt lõi là sự công nhận và tôn trọng độc lập, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, đã bị đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai phá bỏ. Đất nước rơi vào tình trạng bị chia cắt lâu dài; nhân dân Việt Nam buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến chống chủ nghĩa thực dân mới – một hình thức xâm lược tinh vi của đế quốc Mỹ để bảo vệ các quyền dân tộc cơ bản của mình.
Từ xưa đến nay, kẻ thù đánh Việt Nam thì dễ nhưng thắng Việt Nam rất khó, thậm chí là không thể. Đế quốc Mỹ do quá ngạo mạn về sức mạnh kinh tế – quân sự nên đã “sa lầy” trong chiến tranh Việt Nam. Với bản chất ngoan cố, sau thất bại của chiến lược Chiến tranh đơn phương (1954 – 1960) và Chiến tranh đặc biệt (1960 – 1964), đế quốc Mỹ đã quyết định thi hành chiến lược Chiến tranh cục bộ bằng cách đưa quân Mỹ và các nước chư hầu trực tiếp vào tham chiến ở miền Nam và dùng máy bay bắn phá hủy diệt miền Bắc. Từ đây, chiến tranh đã lan rộng ra phạm vi cả nước, lực lượng vũ trang cách mạng ở miền Nam không chỉ phải đối đầu với 01 triệu quân ngụy, mà còn phải đương đầu với đội quân thiện chiến của Mỹ và các nước chư hầu. Trước một cuộc chiến tranh “không đối xứng” như vậy, một câu hỏi lớn được đặt ra: Việt Nam có dám đánh Mỹ hay không và nếu đánh thì đánh bằng cách nào? Đây là câu trả lời của Đảng ta dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Mặc dầu đế quốc Mỹ đưa vào miền Nam hàng chục vạn quân đội viễn chinh, lực lượng so sánh giữa ta và địch vẫn không thay đổi lớn… Nhân dân ta đã có cơ sở chắc chắn để giữ vững và tiếp tục giành thế chủ động trên chiến trường, có lực lượng và điều kiện để đánh bại âm mưu trước mắt và lâu dài của địch” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2003, tr.633).
Thực hiện ý chí dám đánh Mỹ và quyết thắng Mỹ, Đảng quyết định chuyển toàn bộ hoạt động của miền Bắc sang thời chiến và phát động phong trào thi đua yêu nước trong phạm vi cả nước. Để chuẩn bị tư tưởng cho toàn Đảng, toàn quân, toàn dân bước vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết Lời kêu gọi đồng bào và chiến sĩ cả nước. Sáng ngày 17/7/1966, lời hịch cứu nước của Người được truyền tải qua sóng Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam và báo Nhân dân, đã lay động mạnh mẽ tâm hồn của mỗi người dân Việt Nam. Lời kêu gọi đã đi vào lịch sử với tên gọi thể hiện tinh thần chủ đạo là Không có gì quý hơn độc lập, tự do. Tác phẩm chính là sự kế thừa và phát huy tinh thần “thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ” mà Người đã thể hiện trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến từ năm 1946. Chỉ trong hai thập kỷ mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã hai lần viết lời hịch cứu nước. Điều này thể hiện rõ nét lịch sử đau thương nhưng anh dũng vô song của dân tộc Việt Nam và vị thế tối cao, vai trò to lớn của Người đối với toàn dân tộc. Đụng độ với một siêu cường trong bối cảnh Liên Xô và Trung Quốc có sự bất đồng, nhân dân thế giới e sợ chiến tranh và sức mạnh của Mỹ, do đó, nhân dân Việt Nam gặp rất nhiều khó khăn. Trong thời khắc mang tính sinh – tử đó, lời hịch chống Mỹ, cứu nước với tinh thần Không có gì quý hơn độc lập, tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã toát lên những nội dung rất quan trọng, cụ thể:
Thứ nhất, chỉ rõ nguồn gốc chiến tranh và tố cáo tội ác dã man của đế quốc Mỹ ở Việt Nam
Mở đầu tác phẩm, Người nhấn mạnh: do “Đế quốc Mỹ dã man, gây ra chiến tranh xâm lược hòng ăn cướp nước ta” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.130) nên nhân dân Việt Nam buộc phải tiến hành cuộc kháng chiến để bảo vệ các quyền dân tộc chân chính. Đây chính là sự bác bỏ hoàn toàn giọng điệu xuyên tạc của đế quốc Mỹ về bản chất chiến tranh Việt Nam, rằng đây là nội chiến giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa với Việt Nam Cộng hòa và Mỹ chỉ thực hiện trách nhiệm với đồng minh của mình. Trên thực tế, đế quốc Mỹ chính là kẻ đã xâm lược Việt Nam bằng mô hình chủ nghĩa thực dân mới, chính quyền, quân đội ở miền Nam Việt Nam lúc đó chỉ là chính quyền tay sai, quân đội đánh thuê. Vì vậy, ở bất cứ thời điểm nào, dù có người Mỹ tham chiến hay không, đây vẫn là cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ của nhân dân Việt Nam anh hùng. Chủ tịch Hồ Chí Minh tố cáo sự lừa bịp của đế quốc Mỹ khi miệng luôn nói hòa bình, nhưng đã điên cuồng thi hành chính sách “đốt sạch, giết sạch, phá sạch” hòng hủy diệt một dân tộc nhỏ, không thể gây ra bất cứ mối đe dọa nào đối với nước Mỹ. Tuy nhiên, Người không coi sự hung bạo, leo thang chiến tranh của đế quốc Mỹ là biểu hiện của sức mạnh, mà ngược lại, chỉ là những hành động cùng quẫn: “khác nào con thú dữ bị thương nặng, giãy giụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.131). Phải dùng “hạ sách” là đưa quân Mỹ vào trực tiếp tham chiến, điều hoàn toàn trái ngược với âm mưu thi hành chủ nghĩa thực dân mới – tức là đế quốc Mỹ đang ở thế bất đắc dĩ do sự yếu kém cùng cực của thế lực tay sai và sự thất bại của chiến lược chiến tranh đặc biệt. Đế quốc Mỹ cũng thừa hiểu rằng, tội ác của chúng gây ra ở hai miền Nam – Bắc chỉ làm nhân dân Việt Nam thêm sôi sục căm hờn, nhân loại tiến bộ nguyền rủa, nhân dân Mỹ gia tăng sự phản chiến. Tuy nhiên, do bản chất ngoan cố, hiếu chiến, đế quốc Mỹ vẫn “leo thang” chiến tranh. Như vậy, mở đầu tác phẩm bằng việc tố cáo tính phi nghĩa và sự hiếu chiến của đế quốc Mỹ, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu cao tính chính nghĩa của nhân dân Việt Nam và tạo cơ sở pháp lý cho lời hiệu triệu.
Thứ hai, khẳng định ý chí chiến đấu đến cùng của dân tộc Việt Nam và chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Trải qua bao cuộc chiến tranh giữ nước, độc lập, tự do là khát vọng lớn nhất và giá trị hàng đầu của con người Việt Nam. Tin vào sức mạnh của chủ nghĩa yêu nước Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra lời cảnh báo: “Giônxơn và bè lũ phải biết rằng: Chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc. Nhưng chúng quyết không thể lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mỹ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.131). Chúng mặc sức đem đến nơi đây vũ khí, tiền bạc và quân đội, nhưng cái chúng không thể đem đến cho nhân dân Việt Nam là nỗi sợ hãi hay sự cúi đầu khuất phục. Khi một dân tộc đã biết đoàn kết và quyết chiến đấu cho chính nghĩa thì không một sức mạnh hung bạo nào có thể tiêu diệt. Để khẳng định ý chí chiến đấu đến cùng của nhân dân Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra giả định theo cấp số nhân: “Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa. Hà Nội, Hải Phòng và một số thành phố, xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.131). Tinh thần dân tộc, tình yêu Tổ quốc và phẩm giá con người đã làm cho nhân dân Việt Nam chấp nhận mọi sự hy sinh để bảo vệ quyền sống như một con người. Do đó, để nhấn mạnh và lý giải ý chí chiến đấu ngoan cường của dân tộc Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh đúc kết chân lý: Không có gì quý hơn độc lập, tự do (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.131). Đây không chỉ là triết lý nhân sinh của Hồ Chí Minh, mà còn là lẽ sống của dân tộc Việt Nam và chân lý vĩnh hằng của nhân loại.
Thứ ba, nhấn mạnh các điều kiện để chấm dứt chiến tranh
Tác phẩm Không có gì quý hơn độc lập, tự do không chỉ là thông điệp hướng tới nhân dân, mà còn là thông điệp gửi đến toàn thế giới, trong đó có cả đối phương đang lún sâu vào chiến tranh Việt Nam. Kế thừa tinh thần trượng nghĩa, nhân văn của dân tộc, dù sẵn sàng chiến đấu đến hơi thở cuối cùng vì nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc, Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn mở ra cho kẻ xâm lược cơ hội rút lui khỏi cuộc chiến phi nghĩa với điều kiện tiên quyết là: “Mỹ phải chấm dứt chiến tranh xâm lược Việt Nam, phải rút hết quân đội Mỹ và chư hầu ra khỏi Việt Nam thì hòa bình sẽ trở lại ngay lập tức” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.132). Bản chất của đế quốc Mỹ là ngụy tạo thiện chí hòa bình và đổ lỗi việc kéo dài chiến tranh cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nên Người nhấn mạnh: “Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hòa bình, hòa bình thật sự, hòa bình trong độc lập tự do, chứ không phải thứ hòa bình giả hiệu, “hòa bình” kiểu Mỹ” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.132). Vì vậy, đế quốc Mỹ buộc phải rút quân và phải thực sự tôn trọng nền độc lập của Việt Nam bằng cách chấm dứt mọi can thiệp vào nội bộ của Việt Nam. Với nhân dân Việt Nam, cuộc chiến này hoàn toàn mang tính tự vệ, là cuộc chiến “bất đắc dĩ”. Một siêu cường mang quân đi đánh một nước nhỏ mà không thắng tức là đã thua, nên chiến tranh càng kéo dài thì nước Mỹ càng bị tổn hại về mọi mặt, trước hết là danh tiếng, uy lực của một siêu cường.
Thứ tư, kêu gọi sự đoàn kết, chiến đấu hy sinh của nhân dân hai miền Nam – Bắc và khẳng định niềm tin tất thắng của cách mạng Việt Nam
Chiến tranh luôn là sự đụng độ khốc liệt về sức mạnh, mưu lược, niềm tin và ý chí, nhưng đụng độ với Mỹ – một siêu cường thì sự khốc liệt càng gia tăng. Với tinh thần đồng cam cộng khổ cùng nhân dân, thấu hiểu sự hy sinh to lớn của nhân dân, trong lời kêu gọi, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã biểu dương ý chí và thành tích chiến đấu của quân và dân ta trên cả hai miền Nam – Bắc. Mặt khác, hiểu rằng, đế quốc Mỹ càng bị thua đau thì chúng càng liều lĩnh hòng lật ngược thế thua, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: “Trước tình hình mới, chúng ta quyết tâm nhất trí, vượt mọi gian khổ hy sinh, kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ lịch sử vẻ vang của dân tộc ta là đánh thắng giặc Mỹ xâm lược” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.132). Đồng thời, Người nhấn mạnh mục tiêu dân tộc và mục tiêu nhân loại trong cuộc đấu tranh của nhân dân Việt Nam: “Vì độc lập của Tổ quốc, vì nghĩa vụ đối với các dân tộc đang chống đế quốc Mỹ, toàn dân và toàn quân ta đoàn kết một lòng, không sợ hy sinh gian khổ, kiên quyết chiến đấu đến thắng lợi hoàn toàn” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.132).
Con đường đi đến độc lập, tự do của dân tộc nhỏ phải trải qua nhiều “khúc quanh” đầy máu và nước mắt nên để động viên nhân dân bền gan, bền chí chiến đấu, hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định sự tất thắng của cuộc kháng chiến chống Mỹ. Niềm tin đó được Người thể hiện dưới nhiều dạng thức. Khi tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, Người biểu lộ niềm tin chiến thắng bằng việc khẳng định “thế thua” của kẻ thù, rằng “chúng đang thua to”, đang “giãy giụa một cách hung tợn trước hơi thở cuối cùng”. Khi khẳng định ý chí chiến đấu đến cùng của nhân dân Việt Nam, niềm tin chiến thắng được Người thể hiện qua câu nói: “Đến ngày chiến thắng nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn”. Cuối cùng, Người kết thúc tác phẩm bằng khẩu hiệu khẳng định sự toàn thắng của cách mạng Việt Nam: “Nhân dân Việt Nam nhất định thắng! Giặc Mỹ xâm lược nhất định thua”. Trong những giây phút sinh tử, vai trò của niềm tin là rất lớn. Niềm tin khoa học, ý chí cách mạng tiến công mà Chủ tịch Hồ Chí Minh truyền đi đã trở thành điểm tựa tinh thần vững chắc để nhân dân Việt Nam đồng lòng chiến đấu, hy sinh và đi đến ngày toàn thắng.
Thứ năm, kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân thế giới
Chủ tịch Hồ Chí Minh là người Việt Nam đầu tiên đề ra chiến lược đoàn kết quốc tế. Trong lời kêu gọi, Người đã gửi những thông điệp quan trọng tới nhân loại tiến bộ: “Thay mặt nhân dân Việt Nam, nhiệt liệt cảm ơn sự ủng hộ và giúp đỡ hết lòng của nhân dân các nước xã hội chủ nghĩa, của nhân dân tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân Mỹ” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.133). Do sự điên cuồng của đế quốc Mỹ, cuộc chiến đấu của nhân dân Việt Nam đang bước vào giai đoạn “một mất, một còn”. Hơn bao giờ hết, nhân dân Việt Nam cần sự đồng cảm, ủng hộ, giúp đỡ của nhân dân thế giới: “Trước âm mưu tội ác mới của đế quốc Mỹ, tôi tin chắc rằng nhân dân và chính phủ các nước xã hội chủ nghĩa anh em, các nước yêu chuộng hòa bình và chính nghĩa trên thế giới càng ra sức ủng hộ và giúp đỡ hơn nữa nhân dân Việt Nam chống Mỹ, cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.133). Có thể thấy, Người đặt niềm tin mãnh liệt vào lương tri nhân loại với mong muốn sự ủng hộ của nhân loại tiến bộ chính là sự “lên ngôi” của cái thiện so với cái ác, của lẽ phải so với sự tham tàn, bạo ngược của chủ nghĩa đế quốc, chủ nghĩa thực dân.
Tác phẩm Không có gì quý hơn độc lập, tự do của Chủ tịch Hồ Chí Minh ra đời trong thời điểm khốc liệt nhất của cuộc chiến tranh, bằng văn phong hàm súc, giản dị và có tính hiệu triệu cao, đã “chạm” tới điều sâu thẳm là tình yêu Tổ quốc, khát vọng thống nhất của nhân dân Việt Nam và khát vọng hòa bình của nhân dân thế giới. Chân lý thời đại “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” – tư tưởng chủ đạo trong lời hịch cứu nước đã trở thành nguồn sức mạnh vô song của dân tộc Việt Nam và rộng hơn là tất cả các dân tộc bị áp bức trong cuộc đấu tranh giành độc lập.
3.2. Ý nghĩa lịch sử và đương đại của tác phẩm “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”
Tư tưởng về độc lập dân tộc và cách mạng giải phóng dân tộc của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã được thể hiện một cách sinh động, rõ nét trong lời hịch kháng chiến chống đế quốc Mỹ. C.Mác – lãnh tụ của giai cấp vô sản đã từng nói về sức mạnh vật chất của lý luận cách mạng: “Vũ khí của sự phê phán cố nhiên không thể thay thế được sự phê phán của vũ khí, lực lượng vật chất chỉ có thể bị đánh đổ bằng lực lượng vật chất; nhưng lý luận cũng sẽ trở thành lực lượng vật chất, một khi nó thâm nhập vào quần chúng” (C.Mác & Ph.Ăngghen, 2002, tr.580). Lời hịch cứu nước với chân lý bất hủ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trở thành động lực tinh thần vĩ đại để nhân dân Việt Nam ngoan cường tiến hành cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ ngay cả khi Người đã đi xa. Thực hiện lời kêu gọi “đồng bào và chiến sĩ cả nước, anh dũng tiến lên”, nhân dân Việt Nam đã kiên trì thực hiện nghệ thuật thắng từng bước để “đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào” và kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ gian khổ. Nhờ đó, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên phạm vi cả nước đã được hoàn thành, giang sơn được đưa về một mối và một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên hòa bình, độc lập, thống nhất và cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội đã được mở ra.
Không dừng ở quy mô dân tộc, lời hịch kháng chiến chống Mỹ của Chủ tịch Hồ Chí Minh – với tư cách là thông điệp của một dân tộc đang đứng ở tuyến đầu chống Mỹ đã tác động mạnh mẽ đến dư luận thế giới. Lời hịch ấy giúp các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân yêu chuộng hòa bình thế giới hiểu rõ về sự hy sinh to lớn của nhân dân Việt Nam và trách nhiệm trong việc ủng hộ Việt Nam đánh Mỹ, thắng Mỹ để xây dựng một thế giới hòa bình và bình đẳng. Nhờ có sự kết hợp giữa sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại, nhân dân Việt Nam đã đánh bại mô hình chủ nghĩa thực dân mới mà đế quốc Mỹ đã thi hành ở Việt Nam, làm phá sản “thần tượng Mỹ” và để lại trong lòng nước Mỹ một vết thương mang tên “Hội chứng Việt Nam”. Chính người Mỹ đã thừa nhận: “Chỉ có một bài học duy nhất được rút ra: không có thêm Việt Nam” (Shultz, 2002, tr.510). Sau thất bại ở Việt Nam, đế quốc Mỹ buộc phải điều chỉnh chiến lược toàn cầu và chuyển sang thực hiện “diễn biến hòa bình” khi muốn can thiệp vào nội trị của nước khác. Lời hiệu triệu của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã góp phần cổ vũ phong trào giải phóng dân tộc trên thế giới, qua đó, “vẽ lại” bản đồ thế giới theo chiều hướng công bằng và nhân văn. Bằng lời hịch đánh Mỹ kiên cường, Người đã “chữa cho nhân loại một căn bệnh kinh niên là nghe theo Mỹ và sợ Mỹ”. Từ một quốc gia không có tên trên bản đồ thế giới, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng của lương tri, lẽ phải, sự can trường, bất khuất và đỉnh cao trí tuệ con người trong chiến tranh vệ quốc.
Tác phẩm “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” không chỉ có ý nghĩa lịch sử, mà còn gợi mở những bài học quý báu cho muôn đời sau:
Một là, phải kiên quyết bảo vệ nền độc lập thiêng liêng mà Chủ tịch Hồ Chí Minh và các thế hệ đi trước đã dày công xây đắp
Độc lập, tự do là giá trị bất biến, là mục tiêu tối thượng của dân tộc Việt Nam, nên mọi chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước đều phải thấm nhuần tinh thần này và phải phục vụ cho mục tiêu cao cả đó. Lực lượng lãnh đạo không bao giờ được phép vì một mối quan hệ hợp tác nào đó hay vì một lợi ích trước mắt mà làm tổn hại hoặc tạo ra nguy cơ đe dọa nền độc lập, tự do thiêng liêng của Tổ quốc. Tuy nhiên, chúng ta không thể giữ nước chỉ bằng ý chí, mà ý chí phải đi đôi với thực lực về mọi phương diện, đặc biệt là thực lực về kinh tế. Việt Nam phải đẩy mạnh chuyển đổi số, phát huy vai trò của khoa học, công nghệ, cải cách thể chế để thoát khỏi nguy cơ rơi vào “bẫy thu nhập trung bình”, bởi sự tụt hậu về kinh tế tất yếu sẽ dẫn đến sự lệ thuộc về kinh tế và sau đó là sự lệ thuộc về chính trị. Sự tụt hậu về kinh tế còn tạo ra những khó khăn trong công cuộc bảo vệ độc lập, chủ quyền cũng như xác lập, nâng cao vị thế quốc tế của dân tộc. Do đó, hơn bao giờ hết, con đường duy nhất đúng đắn là phải vươn lên, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển kinh tế với các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới. Kết hợp phát triển kinh tế – xã hội phải gắn kết với mục tiêu an ninh – quốc phòng theo hướng tích hợp và lưỡng dụng. Xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa hùng cường phải đi đôi với bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Đây chính là trách nhiệm của những con người tin vào chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”.
Hai là, giữ vững bản sắc văn hóa dân tộc
Hiện nay, trong bối cảnh hội nhập ngày càng sâu rộng, chỉ dân tộc nào gìn giữ được bản sắc văn hóa mới có thể tồn tại và đủ năng lực tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại để vươn tới đỉnh cao phát triển. Văn hóa, đặc biệt là văn hóa giáo dục, phải góp phần tạo dựng những con người có lòng yêu nước và tinh thần dân tộc chân chính. Bởi vì, nếu không có những con người như vậy thì nền độc lập đã được đánh đổi bằng bao máu xương không thể được giữ vững. Văn hóa, ngoài việc góp phần bảo vệ môi trường để hướng tới mô hình phát triển bền vững, còn là nền công nghiệp văn hóa đầy tiềm năng phát triển. Do đó, nhận thức đúng và ứng xử đúng với văn hóa chính là “chìa khóa” hữu hiệu để giữ vững nền độc lập và mở ra tương lai tươi sáng cho dân tộc.
Ba là, chăm lo cho hạnh phúc nhân dân, coi đó là kế sách “sâu rễ, bền gốc” để giữ nước
Chí sĩ yêu nước Phan Bội Châu từng đúc kết những điều chí lý về mối quan hệ giữa dân và nước: “Người dân ta, của dân ta/ Dân là dân nước, nước là nước dân… Sông phía Bắc, biển phía Đông/ Nếu không dân cũng là không có gì” (Phan Bội Châu, 2017, tr.97-100). Kế thừa triết lý “Việc nhân nghĩa cốt ở yên dân” của ông cha, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: “Gốc có vững cây mới bền/ Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.502). Do đó, sự nghiệp đấu tranh giành và bảo vệ độc lập dân tộc dưới sự lãnh đạo của Đảng luôn gắn với nhân dân: Khởi nghĩa toàn dân, chiến tranh nhân dân, nền quốc phòng toàn dân, Quân đội nhân dân, Công an nhân dân… Tuy nhiên, muốn dựa vào dân thì trước hết Đảng và Nhà nước phải hết lòng chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Chân lý “Không có gì quý hơn độc lập, tự do” của Hồ Chí Minh có tính triệt để, độc lập ở đây không chỉ là độc lập dân tộc, mà còn là vị thế độc lập, quyền suy nghĩ độc lập và quyền nói lên tiếng nói độc lập của từng con người. Tự do không chỉ là quyền của mỗi dân tộc trong mối quan hệ với các dân tộc khác, mà còn là tự do của mỗi cá nhân: “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do, thì độc lập cũng chẳng có nghĩa lý gì” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.64). Tuy nhiên, quyền suy nghĩ độc lập và tự do nói lên suy nghĩ của người dân chỉ có thể trở thành hiện thực khi có một cơ chế dân chủ. Vì vậy, vấn đề hiện nay không phải là nói dân chủ, mà phải thực hiện dân chủ, đẩy lùi các tệ quan liêu, tham nhũng và sự vô cảm trước những bức xúc, gian khó đời thường của nhân dân,… để củng cố lòng tin của nhân dân vào Đảng, vào chế độ. “Độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội” là lý tưởng bất biến của dân tộc Việt Nam, thì không ngừng nâng cao “chỉ số hạnh phúc” của nhân dân và khơi dậy trong nhân dân khát vọng phồn vinh, hạnh phúc chính là phương thức trọng yếu để bảo vệ nền độc lập dân tộc.
Bốn là, đẩy mạnh xây dựng, chỉnh đốn Đảng để Đảng ta thật sự “là đạo đức, là văn minh” như Chủ tịch Hồ Chí Minh và Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã xác định
Các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác – Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh đều gặp nhau ở quan điểm: Muốn có phong trào cách mạng, trước hết phải có một Đảng cách mạng và Đảng có vững thì cách mạng mới thành công. Lịch sử gần 100 năm trưởng thành và phát triển của Đảng Cộng sản Việt Nam đã khẳng định nguyên lý: sự lãnh đạo đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam. Tuy nhiên, “một dân tộc, một đảng và mỗi con người, ngày hôm qua là vĩ đại, có sức hấp dẫn lớn, không nhất định hôm nay và ngày mai vẫn được mọi người yêu mến và ca ngợi, nếu lòng dạ không trong sáng nữa, nếu sa vào chủ nghĩa cá nhân” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.672). Ngày nay, bảo vệ Tổ quốc không chỉ là bảo vệ cương vực đất nước, mà còn là bảo vệ Đảng, bảo vệ chế độ. Đảng viên chính là đội ngũ bảo vệ Đảng hữu hiệu, nhưng chính họ cũng có thể “phá Đảng” nếu suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Vì vậy, nâng cao đạo đức, trí tuệ, tinh thần cống hiến của đội ngũ cán bộ đảng viên, nhất là cán bộ cấp chiến lược để phòng ngừa sự suy thoái, tham nhũng trong Đảng chính là giải pháp quan trọng để bảo vệ Tổ quốc.
4. Kết luận
Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn ý thức rõ về chức phận của mình: “Phận sự tôi như một người cầm lái, phải chèo chống thế nào để đưa chiếc thuyền Tổ quốc vượt khỏi những cơn sóng gió, mà an toàn đi đến bờ bến hạnh phúc của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.191). Trong những thời khắc khốc liệt của lịch sử, Người đã làm trọn chức phận của thủ lĩnh dân tộc khi kịp thời cổ vũ, động viên, hướng dẫn nhân dân hết lòng chiến đấu, hy sinh để bảo vệ nền độc lập thiêng liêng của Tổ quốc. Bằng việc khái quát lên chân lý vĩnh hằng của nhân loại là Không có gì quý hơn độc lập, tự do, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa chủ nghĩa yêu nước Việt Nam lên một tầm cao mới, đưa dân tộc Việt Nam trở thành biểu tượng cao quý của khát vọng độc lập, tự do. Năm tháng trôi qua nhưng âm hưởng hào hùng của lời hịch cứu nước 60 năm về trước mãi là niềm tự hào và động lực tinh thần to lớn của dân tộc Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mớiq
Ngày nhận bài: 08/5/2026; ngày thẩm định: 11/5/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]

—————————————–
Tài liệu tham khảo
C.Mác và Ph.Ăngghen (2002). Toàn tập (Tập 1). Nxb Chính trị quốc gia.
Phan Bội Châu (2017). Hải ngoại huyết thư. Nxb Thanh niên.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2003). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 26). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 5). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 15). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Shultz, R. H. (2002). Cuộc chiến tranh bí mật chống Hà Nội. Nxb Văn hóa – Thông tin.

(Tạp chí Khoa học chính trị Số 4/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *