VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ SỐ TRONG BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

VAI TRÒ CỦA CHÍNH PHỦ SỐ TRONG BẢO VỆ AN NINH QUỐC GIA

PGS, TS. PHẠM MINH TUẤN
Tạp chí Cộng sản

Tóm tắt: Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, Chính phủ số là một trong những phương thức quản trị nhà nước hiện đại và là một cấu phần quan trọng của năng lực bảo vệ an ninh quốc gia. Bài viết phân tích vai trò của Chính phủ số trong việc nâng cao năng lực quản trị và dự báo rủi ro; phòng, chống tội phạm công nghệ cao; bảo vệ an ninh, an toàn dữ liệu; củng cố chủ quyền số và tăng cường phối hợp liên ngành. Từ thực tiễn Chính phủ số ở Việt Nam, bài viết đánh giá những kết quả đạt được, nhận diện các hạn chế về thể chế, hạ tầng, dữ liệu, nhân lực và năng lực bảo đảm an ninh; qua đó đề xuất các giải pháp nhằm phát huy hiệu quả Chính phủ số gắn với yêu cầu bảo vệ vững chắc an ninh quốc gia trong giai đoạn mới.
Từ khóa: bảo vệ an ninh quốc gia; Chính phủ số; dữ liệu quốc gia
THE ROLE OF DIGITAL GOVERNMENT IN SAFEGUARDING NATIONAL SECURITY
Abstract: Amid far-reaching digital transformation, digital government is one of the modes of modern state governance and an important component of the capacity to safeguard national security. This article analyzes the role of digital government in enhancing governance capacity and risk forecasting; preventing and combating high-tech crime; ensuring data security and safety; strengthening digital sovereignty; and enhancing interagency coordination. Drawing on Viet Nam’s experience with digital government, the article assesses achievements and identifies limitations in institutions, infrastructure, data, human resources, and the capacity to ensure security. It then proposes solutions to enhance the effectiveness of digital government in line with the requirement to firmly safeguard national security in the new period.
Keywords: safeguarding national security; digital government; national data

1. Đặt vấn đề
Chuyển đổi số ngày càng làm thay đổi phương thức tổ chức, vận hành của Nhà nước và đời sống kinh tế – xã hội. Trong tiến trình đó, Chính phủ số vừa là phương thức tổ chức và vận hành hoạt động của Chính phủ trên môi trường số, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản trị quốc gia, nhất là trong điều kiện không gian mạng trở thành một địa bàn chiến lược mới, tiềm ẩn nhiều nguy cơ an ninh phi truyền thống. Ở Việt Nam, những năm gần đây chứng kiến bước chuyển mạnh mẽ về thể chế và thực tiễn: từ Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số, Đề án 06, đến việc ban hành đồng bộ Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật An ninh mạng, Luật Chuyển đổi số… Điều này đặt ra yêu cầu phải nhận thức đầy đủ, hệ thống về mối quan hệ giữa phát triển Chính phủ số với bảo vệ an ninh quốc gia. Tuy nhiên, trên thực tế, hai lĩnh vực này vẫn thường được tiếp cận, xử lý tương đối tách biệt, chưa tương xứng với tính chất gắn kết ngày càng sâu sắc giữa quản trị số và an ninh trong kỷ nguyên số. Vì vậy, luận giải một cách hệ thống vai trò của Chính phủ số trong bảo vệ an ninh quốc gia có ý nghĩa lý luận và thực tiễn.
2. Cơ sở lý luận về Chính phủ số và an ninh quốc gia
Chính phủ số là bước phát triển cao hơn của quá trình ứng dụng công nghệ trong khu vực công: nếu Chính phủ điện tử chủ yếu điện tử hóa quy trình hành chính và đưa dịch vụ công lên môi trường mạng, thì chính phủ số đặt trọng tâm vào tái cấu trúc phương thức hoạt động của Nhà nước trên cơ sở dữ liệu, nền tảng số và kết nối liên thông (Thủ tướng Chính phủ, 2021). Khác biệt căn bản giữa hai mô hình không chỉ ở mức độ ứng dụng công nghệ mà ở phương thức quản trị: Chính phủ điện tử có thể vận hành trên nền các quy trình truyền thống được điện tử hóa, còn chính phủ số đòi hỏi tái thiết kế quy trình, chuẩn hóa và chia sẻ dữ liệu, tăng liên thông giữa các cấp, các ngành. Luật Chuyển đổi số năm 2025 cùng với Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân và Luật An ninh mạng đã tạo cơ sở pháp lý quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia và bảo đảm an ninh trên môi trường số.
Cùng với sự phát triển của khoa học, công nghệ và toàn cầu hóa, nội hàm an ninh quốc gia ngày càng được mở rộng theo hướng toàn diện. An ninh chính trị tiếp tục giữ vị trí cốt lõi, song các nguy cơ có thể phát sinh từ sự cố hạ tầng số, xâm nhập hệ thống thông tin, đánh cắp hoặc thao túng dữ liệu, tội phạm công nghệ cao, gián điệp mạng, các chiến dịch thông tin có chủ đích và sự phụ thuộc quá mức vào công nghệ bên ngoài. Luật An ninh mạng năm 2025 cụ thể hóa yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội và chủ quyền quốc gia trên không gian mạng (Quốc hội, 2025a).
Trong cấu trúc an ninh của thời đại số, dữ liệu vừa là nguồn lực phát triển, vừa là đối tượng cần được bảo vệ: phục vụ quản trị, dịch vụ công, hoạch định chính sách, phát triển kinh tế, nhưng cũng có thể là mục tiêu thu thập trái phép, mua bán, can thiệp, thao túng hoặc phá hoại. Việc ban hành Luật Dữ liệu năm 2024 và Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân năm 2025 cho thấy quản trị, khai thác và bảo vệ dữ liệu đã trở thành một trụ cột của thể chế chuyển đổi số ở Việt Nam (Quốc hội, 2024; Quốc hội, 2025b).
Không gian mạng là một không gian chiến lược xuyên biên giới, tốc độ lan truyền cao, chi phí tiếp cận thấp và thường khó xác định chủ thể tác động; những đặc điểm này đòi hỏi phòng ngừa phải được đặt ra từ sớm, từ xa; cảnh báo phải dựa ngày càng nhiều vào dữ liệu và phân tích; ứng phó phải liên ngành, kịp thời. Vì vậy, Chính phủ số vừa là công cụ nâng cao năng lực bảo vệ an ninh quốc gia, vừa tạo lập hệ thống hạ tầng, dữ liệu và nền tảng số quốc gia cần được bảo vệ nghiêm ngặt trước các nguy cơ an ninh số. Vai trò của Chính phủ số trong bảo vệ an ninh quốc gia thể hiện ở:
Một là, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và kiểm soát rủi ro an ninh. Hạn chế căn bản của mô hình quản trị truyền thống là thông tin phân tán theo cơ quan, lĩnh vực, cấp hành chính; thời gian tổng hợp kéo dài; khả năng phát hiện bất thường còn hạn chế. Chính phủ số khắc phục tình trạng này qua cơ sở dữ liệu dùng chung, nền tảng tích hợp và hệ thống hỗ trợ phân tích, giúp cơ quan nhà nước nhận diện tình hình đầy đủ hơn, rút ngắn thời gian ra quyết định, nâng cao chất lượng dự báo và chủ động xử lý nguy cơ an ninh.
Hai là, tăng cường năng lực phòng, chống tội phạm công nghệ cao. Sự phát triển của internet, thanh toán số, trí tuệ nhân tạo tạo sinh và các nền tảng xuyên biên giới làm gia tăng quy mô, tốc độ và mức độ tinh vi của hành vi phạm tội. Chính phủ số tạo nền tảng để cơ quan chức năng khai thác dữ liệu phục vụ xác minh, điều tra, cảnh báo sớm và phối hợp xử lý; công nghệ phân tích hành vi, phát hiện bất thường, nhận diện gian lận và tương quan dữ liệu góp phần nâng cao hiệu quả đấu tranh với lừa đảo trực tuyến, xâm nhập hệ thống, chiếm đoạt tài sản, đánh cắp dữ liệu và các hành vi xâm phạm an ninh, trật tự bằng công nghệ. Việc ứng dụng công nghệ trong phòng, chống tội phạm phải đặt trong khuôn khổ pháp luật, đúng thẩm quyền, mục đích, phạm vi, gắn với bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân. Năng lực kỹ thuật càng lớn, yêu cầu kiểm soát truy cập, phân quyền, lưu vết, bảo mật và giám sát sử dụng dữ liệu càng cao, bảo đảm nâng cao hiệu quả bảo vệ an ninh, trật tự, củng cố niềm tin xã hội đối với các hệ thống số của Nhà nước.
Ba là, bảo vệ chủ quyền quốc gia trên không gian mạng. Trong chuyển đổi số, chủ quyền quốc gia trên không gian mạng gắn với bảo vệ các hệ thống thông tin quan trọng, liên quan trực tiếp đến năng lực tự chủ về dữ liệu, hạ tầng, nền tảng, công nghệ cốt lõi và khả năng thực thi pháp luật trong môi trường số. Tin giả, thông tin sai sự thật, thao túng nhận thức, tấn công từ chối dịch vụ, xâm nhập chuỗi cung ứng hoặc chiếm đoạt dữ liệu đều có thể tác động trực tiếp đến hoạt động của cơ quan nhà nước, đời sống kinh tế – xã hội và tâm lý xã hội. Chính phủ số giúp Nhà nước nâng cao khả năng giám sát an toàn hệ thống, xác thực nguồn dữ liệu, cảnh báo nguy cơ và cung cấp thông tin chính thống kịp thời.
Bốn là, nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các lực lượng. Bảo vệ an ninh quốc gia trong môi trường số là nhiệm vụ liên ngành, liên lĩnh vực, không thể thực hiện hiệu quả bởi một cơ quan riêng lẻ, vì các nguy cơ an ninh số có thể đồng thời liên quan đến quốc phòng, an ninh, đối ngoại, khoa học, công nghệ, tài chính, ngân hàng, tư pháp và chính quyền địa phương. Khả năng kết nối dữ liệu và vận hành các nền tảng dùng chung của Chính phủ số giúp rút ngắn thời gian phối hợp, hạn chế chia cắt thông tin, nâng cao chất lượng đánh giá và xử lý tình huống liên ngành.
Sau sắp xếp tổ chức bộ máy, nhiều chức năng quản lý nhà nước về chuyển đổi số, viễn thông, công nghệ số và an toàn thông tin được rà soát, điều chỉnh, phân loại theo hướng rõ đầu mối, rõ trách nhiệm, giảm chồng chéo, tăng liên thông (Chính phủ, 2025). Đây là điều kiện quan trọng để Chính phủ số vận hành hiệu quả hơn, nhất là trong điều kiện quản lý dữ liệu, bảo đảm an ninh mạng
3. Thực tiễn thực hiện vai trò của Chính phủ số trong bảo vệ an ninh quốc gia hiện nay
Thời gian qua, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng trong thực hiện vai trò của Chính phủ số, thể hiện trên các phương diện thể chế, dịch vụ công trực tuyến, dữ liệu dân cư, định danh điện tử, hạ tầng dữ liệu và bảo đảm an ninh mạng. Chiến lược ban hành năm 2021 tạo khuôn khổ chuyển tiếp từ Chính phủ điện tử sang Chính phủ số (Thủ tướng Chính phủ, 2021); Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 “Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030” (Đề án 06) thúc đẩy khai thác dữ liệu dân cư, định danh và xác thực điện tử (Thủ tướng Chính phủ, 2022); Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” tạo động lực chính trị mới cho lĩnh vực này (Bộ Chính trị, 2024). Giai đoạn 2025 – 2026 tiếp tục ghi nhận bước phát triển mạnh về thể chế với việc ban hành và có hiệu lực của nhiều đạo luật, chương trình lớn về dữ liệu, bảo vệ dữ liệu cá nhân, an ninh mạng và chuyển đổi số.
Các kết quả được phản ánh khá rõ những đánh giá chính thức trong nước và quốc tế. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng ghi nhận việc hiện đại hóa hành chính thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, đẩy mạnh phát triển chính quyền điện tử; Việt Nam duy trì tăng hạng chỉ số Chính phủ điện tử liên tục trong giai đoạn 2014 – 2024, từ vị trí thứ 99 lên vị trí thứ 71/193 quốc gia (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.110), đồng thời đánh giá: “Năng lực quản lý và điều hành của Chính phủ ngày càng hiệu quả hơn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.111). Trong lĩnh vực an ninh mạng, Việt Nam tăng 8 bậc, xếp thứ 17/194; Báo cáo Global Cybersecurity Index 2024 của Liên minh Viễn thông quốc tế xếp Việt Nam vào Tier 1 – nhóm có mức cam kết an ninh mạng cao nhất theo phương pháp đánh giá mới (International Telecommunication Union, 2024).
Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 tại Khu công nghệ cao Hòa Lạc vào vận hành ngày 18/8/2025. Với quy mô trên 20 ha, Trung tâm được định hướng là hạ tầng tập trung cho dữ liệu cốt lõi quốc gia và các nền tảng dùng chung; đến tháng 10/2025, công trình được bổ sung vào Danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia (Hồng Giang, 2025; Thủ tướng Chính phủ, 2025a). Điều này cho thấy nhận thức và chính sách đối với dữ liệu đã có bước phát triển rõ rệt: dữ liệu không chỉ là nguồn lực phục vụ quản trị, phát triển, mà còn là tài sản chiến lược gắn trực tiếp với an ninh quốc gia.
Hệ thống định danh và xác thực điện tử, tiêu biểu là VNeID, là cấu phần quan trọng của hệ sinh thái Chính phủ số, góp phần giảm xuất trình lặp lại giấy tờ, hỗ trợ xác thực dịch vụ công và giao dịch số. Tuy nhiên, tích hợp càng sâu thì yêu cầu an ninh tài khoản, xác thực đa yếu tố, quản lý quyền truy cập và ứng cứu sự cố càng cao, bởi rủi ro tại hệ thống định danh có thể lan sang nhiều dịch vụ liên quan.
Khung pháp lý về dữ liệu và an ninh số cũng được hoàn thiện đồng bộ hơn: Luật Dữ liệu điều chỉnh việc xây dựng, phát triển, bảo vệ, quản trị, xử lý và sử dụng dữ liệu số; Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân đưa cơ chế bảo vệ dữ liệu cá nhân lên cấp độ luật; Luật An ninh mạng năm 2025 tạo khuôn khổ pháp lý thống nhất hơn về bảo vệ an ninh mạng; Luật Chuyển đổi số năm 2025 xác lập cơ sở pháp lý chung cho chuyển đổi số quốc gia, trong đó có Chính phủ số (Quốc hội, 2025c). Đáng chú ý, ngày 19/8/2026, Chính phủ ban hành đồng thời nhiều nghị định hướng dẫn Luật An ninh mạng, quy định về phòng, chống tin giả, bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin và biện pháp thi hành Luật (Chính phủ, 2026a, 2026b, 2026c, 2026d) – bước cập nhật pháp lý trực tiếp liên quan đến bảo vệ an ninh quốc gia trong tiến trình xây dựng Chính phủ số.
Chương trình phát triển Chính phủ số tiếp tục đặt ra yêu cầu mới: đến năm 2030 hoàn thành xây dựng Chính phủ số, hình thành chính phủ thông minh vận hành trên nền tảng dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo, hướng tới quản trị chủ động, dự báo, lấy người dùng làm trung tâm, gắn với bảo đảm an ninh mạng, bảo vệ dữ liệu cá nhân và giữ vững chủ quyền số quốc gia (Thủ tướng Chính phủ, 2025b), chuyển dịch từ tư duy “đưa dịch vụ lên môi trường số” sang tổ chức lại phương thức quản trị trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số.
Bên cạnh kết quả đạt được, một số vai trò của Chính phủ số vẫn chưa được thực hiện đồng bộ, đầy đủ. Năng lực số giữa các cơ quan, địa phương chưa đồng đều; chất lượng, chuẩn hóa, liên thông dữ liệu còn hạn chế; một bộ phận hệ thống cũ khó tích hợp; nhân lực liên ngành về công nghệ, pháp luật, quản trị còn thiếu; sự phụ thuộc vào một số công nghệ nền tảng, chuỗi cung ứng bên ngoài vẫn đáng lưu ý. Cùng với đó, lừa đảo trực tuyến, mã độc, tấn công chuỗi cung ứng và thao túng thông tin tiếp tục diễn biến phức tạp. Trong hệ thống ngày càng kết nối, điểm yếu tại một mắt xích có thể chuyển hóa thành rủi ro hệ thống. Thực tiễn giai đoạn 2024 – 2026 cho thấy, Việt Nam đã bước sang giai đoạn phát triển mới của Chính phủ số, với thể chế, hạ tầng dữ liệu và năng lực bảo đảm an ninh mạng được hoàn thiện nhanh và có tính hệ thống hơn. Song, mức độ kết nối và phụ thuộc dữ liệu ngày càng cao đặt ra yêu cầu mới đối với quản trị rủi ro: bảo đảm an ninh không thể là khâu bổ sung sau khi hệ thống hoàn thành, mà phải là yêu cầu xuyên suốt từ thiết kế thể chế, kiến trúc hệ thống, quản trị dữ liệu đến tổ chức vận hành.
4. Một số giải pháp phát huy vai trò của Chính phủ số trong bảo vệ an ninh quốc gia
Trước sự gia tăng của các thách thức an ninh phi truyền thống, nhất là tấn công mạng, gián điệp công nghệ, lừa đảo xuyên biên giới và thao túng dữ liệu, phát huy vai trò của Chính phủ số trong bảo vệ an ninh quốc gia cần được triển khai đồng bộ, có trọng tâm, trọng điểm. Vấn đề cốt lõi không chỉ là tăng đầu tư cho công nghệ, mà là xây dựng mô hình quản trị số an toàn, tự chủ, có khả năng kiểm soát rủi ro, bảo đảm việc thực thi quyền lực nhà nước đúng thẩm quyền, minh bạch và trách nhiệm giải trình.
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện và tổ chức thi hành đồng bộ thể chế về chuyển đổi số, an ninh mạng và dữ liệu. Trong điều kiện Luật Dữ liệu, Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật An ninh mạng và Luật Chuyển đổi số đã có hiệu lực, trọng tâm cần chuyển mạnh từ xây dựng khuôn khổ pháp lý sang bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ, hiệu quả trong tổ chức thực hiện: rà soát các điểm giao thoa về thu thập, chia sẻ, lưu trữ, xử lý, cung cấp dữ liệu; phân định rõ trách nhiệm của cơ quan chủ quản dữ liệu, đơn vị vận hành hệ thống, nhà cung cấp dịch vụ số và người đứng đầu; hoàn thiện tiêu chuẩn, quy chuẩn, cơ chế giám sát tuân thủ.
Cần thể chế hóa nguyên tắc bảo đảm an ninh, an toàn và bảo vệ dữ liệu. Đối với các hệ thống sử dụng trí tuệ nhân tạo trong hoạt động công, cần có cơ chế kiểm định dữ liệu đầu vào, đánh giá sai lệch, giám sát mô hình, lưu vết quyết định và xác định rõ trách nhiệm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quá trình thiết kế, triển khai, vận hành và sử dụng hệ thống trí tuệ nhân tạo.
Thứ hai, xây dựng hạ tầng số an toàn, tự chủ và có khả năng phục hồi cao. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực trung tâm của phát triển, đồng thời nêu rõ: “Tập trung phát triển công nghệ chiến lược. Thúc đẩy chuyển đổi số quốc gia toàn diện, trước hết là hoàn thiện hạ tầng số, dữ liệu số; xây dựng Chính phủ số, kinh tế số, xã hội số, công dân số; bảo đảm an ninh mạng, an toàn dữ liệu; đẩy mạnh ứng dụng, phổ cập kỹ năng số, thu hẹp khoảng cách số; tạo môi trường thử nghiệm, khuyến khích đổi mới và bảo vệ sáng tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.31). Theo đó, cần phát triển hạ tầng điện toán đám mây cho khu vực công, trung tâm dữ liệu, hạ tầng kết nối và nền tảng chia sẻ dữ liệu theo kiến trúc thống nhất, đồng thời bảo đảm năng lực dự phòng, sao lưu, khôi phục và chuyển đổi vận hành khi xảy ra sự cố.
Thứ ba, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao về an ninh mạng, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo trong khu vực công. Con người vẫn là nhân tố quyết định hiệu quả và độ an toàn của hệ thống số, đòi hỏi hình thành đội ngũ có năng lực liên ngành, am hiểu đồng thời công nghệ, pháp luật, quản trị công và yêu cầu bảo vệ an ninh quốc gia. Nội dung đào tạo cần chuyển từ phổ cập kỹ năng sử dụng công nghệ sang nâng cao năng lực thiết kế kiến trúc, phân tích dữ liệu, điều tra số, ứng cứu sự cố, quản trị rủi ro trí tuệ nhân tạo và bảo vệ dữ liệu.
Bên cạnh đào tạo chính quy, cần có cơ chế thu hút, sử dụng, đãi ngộ chuyên gia công nghệ cao; mở rộng hợp tác giữa cơ quan nhà nước, lực lượng công an, quân đội, viện nghiên cứu, cơ sở đào tạo và doanh nghiệp công nghệ; đồng thời nâng cao năng lực số của đội ngũ lãnh đạo, quản lý, nhất là người đứng đầu, bởi nhiều rủi ro của Chính phủ số bắt nguồn từ bất cập trong quyết định quản trị, phân quyền, đầu tư và tổ chức vận hành, không chỉ từ hạn chế kỹ thuật.
Thứ tư, đẩy mạnh hợp tác quốc tế về an ninh số và phòng, chống tội phạm mạng trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc. Tính xuyên biên giới của tội phạm mạng khiến hoạt động điều tra, thu thập chứng cứ điện tử, phong tỏa tài sản số và tương trợ tư pháp không thể chỉ dựa vào năng lực của từng quốc gia. Công ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm mạng, được mở ký tại Hà Nội (tháng 10/2025), tạo thêm khuôn khổ quan trọng cho hợp tác quốc tế trong phòng, chống tội phạm mạng và chia sẻ chứng cứ điện tử (United Nations, 2025). Việt Nam cần chủ động chuẩn bị điều kiện pháp lý, kỹ thuật và tổ chức để tham gia, khai thác hiệu quả các cơ chế hợp tác đa phương, qua đó nâng cao năng lực bảo vệ an ninh quốc gia trong môi trường số.
Hợp tác quốc tế cần được mở rộng trên các phương diện chia sẻ cảnh báo sớm, bảo đảm an ninh chuỗi cung ứng, đánh giá lỗ hổng, đào tạo chuyên gia và xây dựng chuẩn mực sử dụng trí tuệ nhân tạo trong khu vực công; đồng thời luôn đặt trong yêu cầu bảo vệ chủ quyền số, bí mật nhà nước, dữ liệu chiến lược và năng lực tự chủ công nghệ, không để kết nối và hội nhập số ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia.
5. Kết luận
Phát huy vai trò của Chính phủ số trong bảo vệ an ninh quốc gia đòi hỏi phải giải quyết đồng bộ ba mối quan hệ: giữa khai thác dữ liệu và bảo vệ dữ liệu; giữa mở rộng kết nối và bảo đảm an ninh, an toàn; giữa tiếp thu, hợp tác quốc tế và củng cố năng lực tự chủ. Đây là nhiệm vụ chiến lược, thường xuyên trong tiến trình hiện đại hóa Nhà nước, bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Chính phủ số cần đồng thời đáp ứng hai yêu cầu: nâng cao năng lực quản trị quốc gia và củng cố năng lực bảo vệ quốc gia trong môi trường số – đòi hỏi kết hợp chặt chẽ giữa thể chế đồng bộ, hạ tầng an toàn và tự chủ, dữ liệu tin cậy, nguồn nhân lực chất lượng cao, cơ chế phối hợp liên ngành hiệu quả và hợp tác quốc tế chủ động. Khi những điều kiện này được bảo đảm, chuyển đổi số mới thực sự chuyển hóa thành năng lực quản trị, sức chống chịu quốc gia và nguồn lực phục vụ mục tiêu phát triển nhanh, bền vững, bảo vệ vững chắc lợi ích quốc gia – dân tộc trong kỷ nguyên mới./.

—————————————-
Ngày nhận bài: 18/8/2026; Ngày phản biện: 20/8/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email liên hệ: [email protected]

————————————-
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.
Chính phủ (2025). Nghị định số 55/2025/NĐ-CP ngày 02/3/2025 “Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Khoa học và Công nghệ”.
Chính phủ (2026a). Nghị định số 327/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 “quy định về phòng ngừa, xử lý thông tin và hành vi sử dụng công nghệ thông tin, mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử xâm phạm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội trên không gian mạng”.
Chính phủ (2026b). Nghị định số 328/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 “quy định phòng, chống tin giả, tin sai sự thật”.
Chính phủ (2026c). Nghị định số 331/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 “về bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin”.
Chính phủ (2026d). Nghị định số 333/2026/NĐ-CP ngày 19/8/2026 “quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật An ninh mạng”.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồng Giang (2025). Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính dự Lễ khai trương Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1. Cổng thông tin điện tử Bộ Công an. https://bocongan.gov.vn/bai-viet/thu-tuong-chinh-phu-pham-minh-chinh-du-le-khai-truong-trung-tam-du-lieu-quoc-gia-so-1-1755523709, ngày 18/8/2025.
International Telecommunication Union (2024). Global Cybersecurity Index 2024. ITU.
Quốc hội (2024). Luật Dữ liệu, Luật số 60/2024/QH15 ngày 30/11/2024.
Quốc hội (2025a). Luật An ninh mạng, Luật số 116/2025/QH15 ngày 10/12/2025.
Quốc hội (2025b). Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, Luật số 91/2025/QH15 ngày 26/6/2025.
Quốc hội (2025c). Luật Chuyển đổi số, Luật số 148/2025/QH15 ngày 11/12/2025.
Thủ tướng Chính phủ (2021). Quyết định số 942/QĐ-TTg ngày 15/6/2021 “Phê duyệt Chiến lược phát triển Chính phủ điện tử hướng tới Chính phủ số giai đoạn 2021 – 2025, định hướng đến năm 2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2022). Quyết định số 06/QĐ-TTg ngày 06/01/2022 “Phê duyệt Đề án phát triển ứng dụng dữ liệu về dân cư, định danh và xác thực điện tử phục vụ chuyển đổi số quốc gia giai đoạn 2022 – 2025, tầm nhìn đến năm 2030”.
Thủ tướng Chính phủ (2025a). Quyết định số 2224/QĐ-TTg ngày 08/10/2025 bổ sung Trung tâm Dữ liệu quốc gia số 1 vào Danh mục công trình quan trọng liên quan đến an ninh quốc gia.
Thủ tướng Chính phủ (2025b). Quyết định số 2629/QĐ-TTg ngày 01/12/2025 phê duyệt Chương trình phát triển Chính phủ số.
United Nations (2025). United Nations Convention against Cybercrime (mở ký tại Hà Nội, ngày 25-26/10/2025).

(Tạp chí Khoa học Chính trị số 06/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *