NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ CỦA GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH, THÀNH PHỐ Ở VIỆT NAM: MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

NĂNG LỰC ĐỔI MỚI SÁNG TẠO VÀ CHUYỂN ĐỔI SỐ CỦA GIẢNG VIÊN CÁC TRƯỜNG CHÍNH TRỊ TỈNH, THÀNH PHỐ Ở VIỆT NAM: MÔ HÌNH CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG

ThS. LƯU THỊ NGỌC
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

TS. NGUYỄN VĂN VIÊN
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị có ý nghĩa quan trọng đối với chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Bài viết đề xuất mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên, bao gồm thể chế và chính sách, môi trường tổ chức, hạ tầng công nghệ, năng lực cá nhân và môi trường thực tiễn địa phương. Kết quả nghiên cứu cho thấy, năng lực cá nhân của giảng viên và hạ tầng công nghệ của nhà trường là hai yếu tố có tác động mạnh nhất đến quá trình đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên. Những phát hiện này góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách phát triển đội ngũ giảng viên các trường chính trị, đồng thời hỗ trợ quá trình xây dựng và phát triển các trường chính trị đạt chuẩn trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
Từ khóa: đổi mới sáng tạo; chuyển đổi số; giảng viên; mô hình các yếu tố ảnh hưởng; trường chính trị

INNOVATION AND DIGITAL TRANSFORMATION CAPACITY OF LECTURERS AT PROVINCIAL AND MUNICIPAL POLITICAL SCHOOLS IN VIET NAM: A MODEL OF INFLUENCING FACTORS
Abstract: Enhancing innovation and digital transformation capacity among lecturers at political schools is of critical importance for improving the quality of cadre training and retraining. This article proposes an analytical model of factors influencing lecturers’ innovation and digital transformation capacity, including institutional and policy factors, organizational environment, technological infrastructure, individual capacity, and the local practical context. The research findings indicate that lecturers’ individual capacity and the school’s technological infrastructure are the two most influential factors affecting innovation and digital transformation. These findings provide a scientific basis for formulating policies to develop lecturers in political schools, while also supporting the development of standardized political schools in the current context of digital transformation.
Keywords: innovation; digital transformation; lecturers; influencing factors; political schools

1. Đặt vấn đề
Trường chính trị tỉnh, thành phố là đơn vị sự nghiệp trực thuộc tỉnh ủy, thành ủy, đặt dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo trực tiếp, toàn diện và thường xuyên của ban thường vụ tỉnh ủy, thành ủy. Trường chính trị tỉnh, thành phố có chức năng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý các cơ quan, đơn vị của hệ thống chính trị xã, phường, đặc khu; cán bộ, công chức, viên chức, người làm việc ở các hội quần chúng được Đảng, Nhà nước giao nhiệm vụ ở địa phương và theo phân cấp nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng (Ban Bí thư, 2026a).
Trong bối cảnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo trở thành động lực quan trọng, sự phát triển của công nghệ số đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của đội ngũ giảng viên nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng và đổi mới phương pháp giảng dạy.
Tuy nhiên, năng lực đổi mới sáng tạo và khả năng ứng dụng công nghệ số của giảng viên các trường chính trị còn chịu tác động của nhiều yếu tố, như thể chế quản lý, môi trường tổ chức của nhà trường, hạ tầng công nghệ và năng lực cá nhân. Trong khi đó, các nghiên cứu hiện nay chủ yếu tập trung vào giảng viên đại học, giáo dục phổ thông, còn nghiên cứu riêng đối với giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố vẫn còn hạn chế. Trong giai đoạn phát triển mới, gắn với việc thực hiện Quy định về trường chính trị chuẩn và yêu cầu của chuyển đổi số, năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trở thành yếu tố quan trọng đối với chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và năng lực hoạt động của hệ thống chính trị địa phương. Nghiên cứu tập trung trả lời câu hỏi: những yếu tố nào ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị tỉnh, thành phố và mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố ra sao? Từ đó, bài viết phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố trên cơ sở tiếp cận từ mô hình năng lực để rút ra hàm ý chính sách đối với các cơ quan có thẩm quyền.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1 Năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị
Năng lực đổi mới sáng tạo ngày càng được xem là yếu tố quan trọng quyết định chất lượng của hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Giảng viên không chỉ truyền đạt tri thức, mà còn là chủ thể sáng tạo tri thức mới, thiết kế các phương pháp giảng dạy hiệu quả và thúc đẩy môi trường học tập tích cực. Đổi mới sáng tạo của giảng viên được thể hiện thông qua việc phát triển các phương pháp giảng dạy mới, ứng dụng công nghệ trong quá trình học tập, xây dựng học liệu số và tăng cường tương tác giữa người dạy và người học.
Cùng với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số đang trở thành xu hướng tất yếu trong giáo dục hiện đại. Chuyển đổi số trong giáo dục được hiểu là quá trình ứng dụng công nghệ số nhằm thay đổi căn bản phương thức tổ chức hoạt động dạy học, quản lý đào tạo và nghiên cứu khoa học. Nhiều nghiên cứu cho rằng, chuyển đổi số không chỉ là việc sử dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy, mà còn bao gồm việc tái cấu trúc các quy trình đào tạo, xây dựng hệ sinh thái học tập số và khai thác dữ liệu nhằm nâng cao hiệu quả quản trị giáo dục.
Trong bối cảnh đó, công nghệ số đóng vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy và tổ chức các hình thức học tập linh hoạt, như học trực tuyến, học kết hợp hoặc học tập cá nhân hóa. Điều này dẫn đến sự thay đổi vai trò của giảng viên, từ người truyền đạt kiến thức theo phương thức truyền thống sang người thiết kế và tổ chức các hoạt động học tập dựa trên nền tảng công nghệ số. Do đó, giảng viên cần có năng lực số phù hợp để thích ứng với sự thay đổi của môi trường giáo dục.
Trên thế giới, nhiều tổ chức quốc tế đã xây dựng các khung năng lực số nhằm đánh giá và phát triển năng lực của người lao động trong xã hội số. Theo UNESCO (2018), khung năng lực số bao gồm các nhóm năng lực, như vận hành thiết bị và phần mềm, quản lý thông tin và dữ liệu, giao tiếp và hợp tác số, sáng tạo nội dung số, đảm bảo an ninh thông tin và giải quyết vấn đề trong môi trường số. Theo Vuorikari và cộng sự (2016), khung năng lực DigComp của Liên minh châu Âu xác định các nhóm năng lực cốt lõi như sử dụng công nghệ số, quản lý dữ liệu, giao tiếp và hợp tác trực tuyến, sáng tạo nội dung số và đảm bảo an toàn thông tin. Ngoài ra, Council of Australian University Librarians (2015) cũng nhấn mạnh các năng lực liên quan đến học tập và phát triển kỹ năng số, hợp tác học thuật và năng lực dữ liệu trong môi trường trực tuyến.
European Commission (2020) cho rằng, phát triển năng lực số của đội ngũ giảng viên là một trong những trụ cột quan trọng nhằm thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy và xây dựng hệ sinh thái học tập số trong các cơ sở đào tạo. Những cách tiếp cận này cho thấy, năng lực số và năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên ngày càng trở thành yếu tố then chốt trong quá trình chuyển đổi số của các tổ chức giáo dục.
Như vậy, năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị được hiểu là khả năng ứng dụng công nghệ số, đổi mới phương pháp giảng dạy, phát triển học liệu số và khai thác dữ liệu thực tiễn địa phương nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giáo dục, phần lớn các nghiên cứu hiện nay tập trung vào sinh viên, giảng viên đại học hoặc nguồn nhân lực trong doanh nghiệp. Trong khi đó, nghiên cứu về năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố còn khá hạn chế. Hệ thống các trường chính trị có những đặc thù riêng so với các cơ sở giáo dục đại học. Bởi đây là các cơ sở đào tạo, bồi dưỡng cán bộ của Đảng và Nhà nước, gắn chặt với nhiệm vụ nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn ở địa phương. Những đặc thù này đòi hỏi một cách tiếp cận nghiên cứu riêng khi phân tích năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị. Việc nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực này không chỉ góp phần bổ sung khoảng trống trong lý luận, mà còn cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng các chính sách phát triển đội ngũ giảng viên trong hệ thống đào tạo cán bộ của Đảng và Nhà nước trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
2.2. Mô hình nghiên cứu và giả thuyết
Thứ nhất, đề xuất mô hình nghiên cứu và giả thuyết nghiên cứu
Trên cơ sở các nghiên cứu về đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và các khung năng lực số trong giáo dục, nghiên cứu này đề xuất mô hình phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố. Cách tiếp cận của nghiên cứu dựa trên quan điểm cho rằng, năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên không chỉ hình thành từ đặc điểm cá nhân, mà còn chịu tác động của môi trường tổ chức, thể chế quản lý và điều kiện công nghệ của cơ sở đào tạo.
Các trường chính trị có nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn phục vụ hoạch định chính sách ở địa phương (Ban Bí thư, 2026a). Để làm tốt nhiệm vụ được giao cần phải tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, đổi mới phương pháp giảng dạy và phát triển năng lực số của đội ngũ giảng viên trong hoạt động đào tạo và nghiên cứu (Ban Bí thư, 2026b). Trong bối cảnh triển khai các quy định của Ban Bí thư về trường chính trị gắn với việc thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng, năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trở thành một yếu tố quan trọng quyết định chất lượng đào tạo và bồi dưỡng cán bộ của các trường chính trị.
Trong mô hình nghiên cứu, năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên được xem là biến phụ thuộc, phản ánh khả năng thiết kế phương pháp giảng dạy mới, ứng dụng công nghệ số trong đào tạo và phát triển học liệu số phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học. Các biến độc lập trong mô hình bao gồm năm nhóm yếu tố: thể chế và chính sách; môi trường tổ chức của nhà trường; hạ tầng và nền tảng công nghệ số; năng lực cá nhân của giảng viên; và môi trường thực tiễn địa phương.
Mô hình nghiên cứu được khái quát như sau: INNO_DIG = f(POL, ORG, INFRA, IND, PRA), trong đó:
° INNO_DIG: năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên
° POL: thể chế và chính sách
° ORG: môi trường tổ chức của nhà trường
° INFRA: hạ tầng và nền tảng công nghệ số
° IND: năng lực cá nhân của giảng viên
° PRA: môi trường thực tiễn địa phương
Nghiên cứu đưa ra các giả thuyết sau:
H1: Thể chế và chính sách có ảnh hưởng tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị.
H2: Môi trường tổ chức của nhà trường có ảnh hưởng tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị.
H3: Hạ tầng và nền tảng công nghệ số có ảnh hưởng tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị.
H4: Năng lực cá nhân của giảng viên có ảnh hưởng tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị.
H5: Môi trường thực tiễn địa phương có ảnh hưởng tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên trường chính trị.
Thứ hai, xây dựng thang đo các biến nghiên cứu
Nghiên cứu xây dựng hệ thống thang đo nhằm đo lường các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố. Các biến nghiên cứu được đo lường thông qua các biến quan sát kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu trước đây về năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực số trong giáo dục, đồng thời được điều chỉnh cho phù hợp với đặc thù hoạt động đào tạo, bồi dưỡng và tổng kết thực tiễn của hệ thống trường chính trị.
Thang đo được thiết kế theo thang Likert 5 mức, từ 1 “hoàn toàn không đồng ý” đến 5 “hoàn toàn đồng ý”. Tổng cộng 19 biến quan sát được sử dụng để đo lường 6 khái niệm nghiên cứu, bao gồm: năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên; thể chế và chính sách; môi trường tổ chức; hạ tầng và nền tảng công nghệ; năng lực cá nhân của giảng viên; và môi trường thực tiễn địa phương. Các thang đo được kế thừa và điều chỉnh từ các nghiên cứu được trình bày trong Bảng 2.
2.3. Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu sử dụng kết hợp phương pháp định tính và định lượng nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố. Phương pháp định tính được thực hiện thông qua tổng quan tài liệu và phân tích các nghiên cứu trước đây về đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong giáo dục, làm cơ sở xây dựng mô hình nghiên cứu và hệ thống thang đo các biến.
Dữ liệu nghiên cứu bao gồm cả dữ liệu thứ cấp và dữ liệu khảo sát. Tổng số giảng viên của 34 trường chính trị tỉnh, thành phố là 1.721 người, trong đó tỉ lệ giảng viên cao cấp, giảng viên chính, giảng viên lần lượt là 1,05%; 64,32%; 34,63% (Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2026), qua đó phản ánh đặc điểm nguồn nhân lực của hệ thống trường chính trị hiện nay. Khảo sát được thực hiện từ tháng 02 – 04/2026 bằng hình thức trực tuyến kết hợp trực tiếp tại một số trường chính trị. Mẫu nghiên cứu được chọn theo phương pháp thuận tiện đối với giảng viên đang tham gia giảng dạy. Các phiếu thiếu thông tin hoặc trả lời không đầy đủ bị loại khỏi mẫu phân tích. Tổng cộng 220 bảng hỏi được phát ra, thu về 203 bảng hợp lệ (tỉ lệ phản hồi 92,3%) và được sử dụng cho phân tích.
Dữ liệu khảo sát được xử lý bằng các phương pháp thống kê định lượng. Độ tin cậy của thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha; giá trị của các thang đo được đánh giá thông qua phân tích nhân tố khám phá (EFA). Mô hình nghiên cứu được kiểm định bằng phân tích hồi quy tuyến tính nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố.
2.4. Kết quả nghiên cứu
Mẫu nghiên cứu gồm các giảng viên đang công tác tại các trường chính trị tỉnh, thành phố với cơ cấu tương đối đa dạng về chức danh nghề nghiệp và kinh nghiệm công tác (xem Bảng 1). Cơ cấu này phản ánh tương đối đầy đủ đặc điểm của đội ngũ giảng viên các trường chính trị hiện nay, qua đó bảo đảm tính đại diện nhất định cho dữ liệu phân tích. Nghiên cứu kiểm định độ tin cậy của các thang đo bằng hệ số Cronbach’s Alpha, kết quả được thể hiện trong Bảng 3.
Phân tích độ tin cậy cho thấy tất cả các biến quan sát đều có hệ số tương quan biến – tổng lớn hơn 0,3 và hệ số Cronbach’s Alpha của các thang đo đều đạt mức chấp nhận được. Do đó, các biến quan sát được giữ lại để tiếp tục thực hiện phân tích nhân tố khám phá, kết quả phân tích EFA được trình bày trong Bảng 4.
Phân tích nhân tố khám phá cho thấy, hệ số KMO = 0,871 (>0,5) và kiểm định Bartlett có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05), chứng tỏ dữ liệu phù hợp để thực hiện phân tích nhân tố. Tổng phương sai trích đạt 67,3%, cho thấy các nhân tố trích giải thích phần lớn sự biến thiên của dữ liệu.
Kết quả EFA trích được 6 nhân tố, tương ứng với 6 khái niệm nghiên cứu ban đầu, bao gồm 05 biến độc lập (POL, ORG, INFRA, IND, PRA) và 01 biến phụ thuộc (INNO_DIG). Do đó, cấu trúc nhân tố của thang đo phù hợp với mô hình nghiên cứu đề xuất. Trên cơ sở cấu trúc nhân tố đã được xác nhận, nghiên cứu tiến hành phân tích hồi quy tuyến tính nhằm xác định mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên, kết quả được trình bày trong Bảng 5.
Kết quả hồi quy cho thấy, các biến độc lập trong mô hình đều có hệ số Beta dương và có ý nghĩa thống kê (Sig. < 0,05) cho thấy các yếu tố này có tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố. Trong đó, năng lực cá nhân của giảng viên (IND) có mức độ ảnh hưởng lớn nhất (Beta = 0,352), tiếp theo là hạ tầng và nền tảng công nghệ của nhà trường (INFRA) với hệ số Beta đạt 0,278.
Các yếu tố còn lại bao gồm môi trường tổ chức của nhà trường (ORG), thể chế và chính sách (POL) và môi trường thực tiễn địa phương (PRA) cũng có tác động tích cực, nhưng với mức độ ảnh hưởng thấp hơn. Kết quả này cho thấy, năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên không chỉ phụ thuộc vào năng lực cá nhân, mà còn chịu ảnh hưởng của điều kiện tổ chức, hạ tầng công nghệ và môi trường thể chế của nhà trường.
2.5. Thảo luận kết quả
Kết quả hồi quy cho thấy, các yếu tố trong mô hình đều tác động tích cực và có ý nghĩa thống kê đối với năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố. Trong đó, năng lực cá nhân của giảng viên (Beta = 0,352; Sig. = 0,000) và hạ tầng công nghệ của nhà trường (Beta = 0,278; Sig. = 0,001) là hai yếu tố có mức độ ảnh hưởng lớn hơn so với các yếu tố còn lại. Kết quả này cho thấy, quá trình thúc đẩy đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các trường chính trị phụ thuộc đáng kể vào năng lực thích ứng, khả năng học tập và kỹ năng số của đội ngũ giảng viên, đồng thời gắn với điều kiện hạ tầng công nghệ của cơ sở đào tạo. Kết luận này phù hợp với nhiều nghiên cứu trước đây khi nhấn mạnh vai trò của năng lực cá nhân và môi trường công nghệ trong quá trình chuyển đổi số trong giáo dục.
Trong hệ thống các trường chính trị tỉnh, thành phố, vai trò của năng lực cá nhân của giảng viên thể hiện rõ qua hệ số tác động cao nhất trong mô hình. Những giảng viên có khả năng sử dụng công nghệ, chủ động cập nhật tri thức và tích cực đổi mới phương pháp giảng dạy thường có mức độ ứng dụng công nghệ và đổi mới nội dung giảng dạy cao hơn. Đặc điểm này phù hợp với chức năng của các trường chính trị, nơi giảng viên không chỉ thực hiện nhiệm vụ giảng dạy lý luận chính trị mà còn tham gia nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn và tham mưu chính sách cho địa phương. Do đó, năng lực đổi mới sáng tạo và năng lực số của giảng viên không chỉ thể hiện ở việc ứng dụng công nghệ trong giảng dạy, mà còn ở khả năng khai thác dữ liệu, phát triển học liệu số và gắn kết nội dung đào tạo với thực tiễn quản lý và phát triển của địa phương.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, hạ tầng và nền tảng công nghệ của nhà trường (Beta = 0,278; Sig. = 0,001) và môi trường tổ chức của nhà trường (Beta = 0,231; Sig. = 0,004) có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy. Việc xây dựng hệ thống học liệu số, nền tảng quản lý học tập và cơ sở dữ liệu phục vụ nghiên cứu khoa học tạo điều kiện cho giảng viên triển khai các phương pháp giảng dạy linh hoạt và tăng cường tương tác với học viên.
Trong khi đó, yếu tố thể chế và chính sách (Beta = 0,186; Sig. = 0,012) và môi trường thực tiễn địa phương (Beta = 0,164; Sig. = 0,021) có mức độ tác động thấp hơn, mặc dù vẫn có ý nghĩa thống kê. Kết quả này phản ánh rằng, sự gắn kết giữa hoạt động giảng dạy lý luận và tổng kết thực tiễn địa phương ở một số trường chính trị chưa được khai thác đầy đủ trong quá trình đổi mới nội dung và phương pháp đào tạo. Vì vậy, việc nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên cần gắn với tăng cường liên kết giữa nhà trường với thực tiễn quản lý và phát triển địa phương, qua đó góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay.
3. Kết luận và hàm ý chính sách
Nghiên cứu đã phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố trên cơ sở mô hình gồm năm nhóm yếu tố: thể chế và chính sách, môi trường tổ chức của nhà trường, hạ tầng công nghệ, năng lực cá nhân của giảng viên và môi trường thực tiễn địa phương. Kết quả phân tích cho thấy, tất cả các yếu tố trong mô hình đều có tác động tích cực đến năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên. Trong đó, năng lực cá nhân của giảng viên và hạ tầng công nghệ của nhà trường là hai yếu tố có mức độ ảnh hưởng mạnh nhất. Điều này cho thấy quá trình thúc đẩy đổi mới phương pháp giảng dạy và chuyển đổi số trong hệ thống các trường chính trị phụ thuộc trước hết vào chất lượng đội ngũ giảng viên, đồng thời cần được hỗ trợ bởi hệ thống hạ tầng công nghệ và môi trường tổ chức phù hợp.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy, môi trường tổ chức của nhà trường và các yếu tố thể chế, chính sách có vai trò tạo điều kiện cho quá trình đổi mới sáng tạo trong hoạt động đào tạo, bồi dưỡng cán bộ. Một môi trường học thuật khuyến khích chia sẻ tri thức, hỗ trợ ứng dụng công nghệ và thúc đẩy nghiên cứu khoa học sẽ tạo động lực để giảng viên đổi mới nội dung và phương pháp giảng dạy. Đồng thời, sự gắn kết giữa hoạt động giảng dạy với tổng kết thực tiễn giúp nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong hệ thống trường chính trị.
Từ kết quả nghiên cứu, có thể rút ra một số hàm ý chính sách nhằm nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của đội ngũ giảng viên các trường chính trị tỉnh, thành phố như sau:
– Đối với Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh: Phát triển năng lực số và năng lực đổi mới sáng tạo của giảng viên cần được đặt ở vị trí trung tâm trong chiến lược xây dựng đội ngũ giảng viên của hệ thống trường chính trị. Bên cạnh việc nâng cao trình độ lý luận và chuyên môn, cần chú trọng bồi dưỡng kỹ năng số, khả năng khai thác dữ liệu, phát triển học liệu số và ứng dụng các phương pháp giảng dạy mới dựa trên công nghệ. Việc xây dựng các chương trình bồi dưỡng giảng viên theo hướng tích hợp giữa lý luận chính trị, kỹ năng sư phạm hiện đại và năng lực số sẽ góp phần nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong bối cảnh chuyển đổi số.
– Đối với trường chính trị tỉnh, thành phố: Tăng cường đầu tư và hoàn thiện hạ tầng công nghệ phục vụ hoạt động đào tạo, nghiên cứu và quản lý. Hạ tầng công nghệ không chỉ bao gồm hệ thống thiết bị giảng dạy trực tuyến, mà còn bao gồm các nền tảng quản lý học tập, hệ thống dữ liệu và học liệu số phục vụ giảng dạy, nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn. Việc phát triển thư viện số, cơ sở dữ liệu nghiên cứu và các nền tảng học tập trực tuyến sẽ tạo điều kiện để giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy và nâng cao hiệu quả đào tạo. Đồng thời, xây dựng môi trường học thuật khuyến khích đổi mới sáng tạo trong hoạt động giảng dạy và nghiên cứu khoa học, hình thành cơ chế khuyến khích giảng viên đổi mới phương pháp giảng dạy, chia sẻ học liệu số và tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học, tổng kết thực tiễn.
– Đối với giảng viên: Chủ động nâng cao năng lực số và năng lực đổi mới sáng tạo thông qua tự học tập, cập nhật công nghệ và đổi mới phương pháp giảng dạy. Tăng cường liên kết giữa hoạt động giảng dạy với thực tiễn địa phương, tham gia nghiên cứu khoa học và tổng kết thực tiễn để không ngừng cập nhật nội dung giảng dạy, qua đó phát huy vai trò là trung tâm đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và nghiên cứu lý luận – tổng kết thực tiễn phục vụ sự phát triển của địa phương.
Nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của giảng viên có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ trong bối cảnh chuyển đổi số hiện nay. Kết quả nghiên cứu góp phần cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách phát triển đội ngũ giảng viên trong hệ thống các trường chính trị tỉnh, thành phố, đồng thời gợi mở các hướng nghiên cứu tiếp theo về đổi mới phương pháp đào tạo, phát triển học liệu số và ứng dụng công nghệ trong giáo dục lý luận chính trị, qua đó hỗ trợ quá trình xây dựng và phát triển các trường chính trị đạt chuẩn theo các tiêu chí về chất lượng đội ngũ, hoạt động đào tạo và chuyển đổi số./.

——————————————————
Ngày nhận bài: 24/4/2026; ngày thẩm định: 27/4/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Ban Bí thư (2026a). Quy định số 393-QĐ/TW ngày 05/01/2026 về chức năng, nhiệm vụ, tổ chức bộ máy của trường chính trị tỉnh, thành phố.
Ban Bí thư (2026b). Quy định số 396-QĐ/TW ngày 06/01/2026 về trường chính trị chuẩn.
Council of Australian University Librarians (2015). Digital dexterity framework. https://www.caul.edu.au.
European Commission (2020). Digital Education Action Plan (2021–2027): Resetting education and training for the digital age. European Commission. https://education.ec.europa.eu.
Hernández, J., Sánchez, A., & Pérez, M. (2007). Innovation and job demand-control model: Empirical evidence from employees. International Journal of Human Resource Management, 18(10), 1836-1853. https://doi.org/10.1080/09585190701570903.
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (15/01/2026). Báo cáo số 44-BC/HVCTQG tổng kết công tác trường chính trị năm 2025, phương hướng, nhiệm vụ năm 2026.
UNESCO (2018). A global framework of reference on digital literacy skills for indicator 4.4.2. UNESCO Institute for Statistics. https://unesdoc.unesco.org.
Vuorikari, R., Punie, Y., Carretero, S., & Van den Brande, G. (2016). DigComp 2.0: The digital competence framework for citizens. European Commission. https://doi.org/10.2791/11517.

(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *