TS. NGUYỄN THỊ OANH
Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sự thật
Tóm tắt: Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định: “Xây dựng nền báo chí, xuất bản, truyền thông chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.272). Đây là định hướng nhất quán của Đảng, đồng thời là cơ sở quan trọng để báo chí, xuất bản và truyền thông phát triển, góp phần vào công cuộc xây dựng và phát triển đất nước. Việc hiện thực hóa mục tiêu này không chỉ xuất phát từ yêu cầu tự đổi mới của ngành, mà còn là nhiệm vụ chính trị có ý nghĩa chiến lược đối với toàn hệ thống chính trị. Trong bối cảnh môi trường truyền thông biến đổi nhanh và phức tạp, báo chí không chỉ làm nhiệm vụ cung cấp thông tin, mà còn giữ vai trò quan trọng trong ổn định chính trị, phát triển văn hóa, nâng cao hiệu lực quản trị quốc gia và củng cố sức mạnh mềm của đất nước.
Từ khóa: báo chí cách mạng; chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại; xây dựng và phát triển đất nước
BUILDING A PROFESSIONAL, HUMANE, AND MODERN VIETNAMESE PRESS IN THE NEW CONTEXT
Abstract: The Documents of the 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam set forth the goal of building a professional, humane, and modern press, publishing, and media sector. This position demonstrates consistency in the Party’s thinking and provides an important foundation for the sector’s development, thereby contributing to the cause of national construction and development. Advancing the press, publishing, and media sector in this direction is not only an intrinsic requirement of its own development but also a strategic political task of the entire political system. Amid rapid and complex changes in the media landscape, the press and media no longer merely perform the function of information dissemination; they also play a vital role in maintaining political stability, promoting cultural development, improving the effectiveness of state governance, and enhancing the country’s soft power.
Keywords: professional, humane, and modern press; national construction and development.
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và sự bùng nổ của công nghệ số, truyền thông đang biến đổi mạnh mẽ cả về cấu trúc, phương thức vận hành và quan hệ quyền lực thông tin. Sự phát triển nhanh của các nền tảng số, mạng xã hội và trí tuệ nhân tạo làm gia tăng tốc độ lan truyền thông tin, thay đổi sâu sắc cách thức sản xuất, phân phối và tiếp nhận thông tin trong xã hội. Trong điều kiện đó, báo chí không còn vận hành trong một môi trường tương đối ổn định như trước, mà phải đối mặt với cạnh tranh đa chiều, áp lực về tốc độ, tính xác thực, cũng như yêu cầu ngày càng cao về chất lượng nội dung và năng lực dẫn dắt dư luận.
Ở Việt Nam, yêu cầu xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại đã được xác định rõ trong Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng, thể hiện tầm nhìn chiến lược về vai trò của báo chí trong hệ thống chính trị và tiến trình phát triển đất nước. Quan điểm này vừa kế thừa nhất quán nhận thức của Đảng về báo chí cách mạng, vừa phản ánh sự thích ứng kịp thời trước những biến động của môi trường truyền thông đương đại. Theo đó, báo chí vừa là công cụ thông tin, tuyên truyền, vừa là thiết chế quan trọng góp phần định hướng giá trị, củng cố niềm tin xã hội, nâng cao năng lực quản trị quốc gia và tăng cường sức mạnh mềm của đất nước.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu của khoa học chính trị nhằm bảo đảm tính hệ thống và độ tin cậy của các luận điểm, trong đó, phương pháp phân tích, tổng hợp được dùng để hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại trên nền tảng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Thực trạng xây dựng nền báo chí Việt Nam chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại trong thời gian qua
3.1.1. Một số kết quả đạt được
Một là, xây dựng nền báo chí Việt Nam đã giữ vững bản chất cách mạng, tính định hướng và sứ mệnh xã hội
Quá trình sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy các cơ quan báo chí đã đạt những kết quả bước đầu quan trọng. Tính đến tháng 11/2025, cả nước có khoảng 778 cơ quan báo chí sau sáp nhập, giảm đáng kể so với giai đoạn trước (Báo Tin tức, 2025). Nền báo chí Việt Nam tiếp tục giữ vững bản chất cách mạng, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng là chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh. Đây là yếu tố mang tính nguyên tắc, bảo đảm báo chí không chệch hướng trong bối cảnh đa dạng hóa thông tin và cạnh tranh gay gắt giữa các luồng tư tưởng trên không gian truyền thông hiện đại.
Trong thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế, chức năng này tiếp tục được phát huy theo hướng hiện đại hóa phương thức thể hiện nhưng vẫn giữ vững nội dung cốt lõi. Báo chí đã tích cực tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, góp phần tạo sự đồng thuận xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng. Đặc biệt, đối với những vấn đề lớn, như phòng, chống tham nhũng, xây dựng Đảng, bảo vệ chủ quyền quốc gia hay xử lý các vấn đề xã hội phức tạp, báo chí đã thể hiện rõ vai trò định hướng dư luận, góp phần ổn định chính trị – xã hội.
Trong bối cảnh các thế lực thù địch gia tăng sử dụng không gian mạng để lan truyền thông tin sai trái, xuyên tạc, báo chí cách mạng phát huy vai trò trong đấu tranh bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, trở thành lực lượng chủ công trong đấu tranh, phản bác các quan điểm sai trái, thù địch. Sự phối hợp giữa các cơ quan báo chí với cơ quan nghiên cứu lý luận, cơ quan tuyên giáo và các lực lượng chuyên trách đã tạo thành mạng lưới bảo vệ tư tưởng tương đối hiệu quả.
Bên cạnh đó, tính nhân văn của báo chí Việt Nam tiếp tục được khẳng định và lan tỏa. Báo chí không chỉ là công cụ tư tưởng, mà còn là diễn đàn xã hội, phản ánh đời sống nhân dân, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, thúc đẩy các giá trị nhân văn và đạo đức xã hội
Hai là, thể chế về xây dựng báo chí từng bước hoàn thiện theo hướng phù hợp với yêu cầu của thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế
Ngay từ những năm đầu của Nhà nước cách mạng, Sắc lệnh số 41/SL năm 1946 đã đặt nền móng cho việc quản lý báo chí, thể hiện tầm nhìn sớm của Đảng và Nhà nước về vai trò đặc biệt của báo chí trong đời sống chính trị – xã hội. Bước sang thời kỳ đổi mới, Luật Báo chí năm 1989 ra đời đã đánh dấu một bước ngoặt quan trọng, lần đầu tiên thiết lập khuôn khổ pháp lý tương đối toàn diện cho hoạt động báo chí, khẳng định quyền tự do ngôn luận của công dân trên báo chí, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm của báo chí trong hệ thống chính trị.
Sự phát triển của truyền thông, nhất là sự xuất hiện của báo chí điện tử và truyền thông đa phương tiện, đã đặt ra yêu cầu tiếp tục hoàn thiện thể chế. Trong bối cảnh đó, Luật Báo chí năm 2016 được ban hành, góp phần định hình khung pháp lý hiện đại cho hoạt động báo chí, phù hợp với xu thế phát triển của truyền thông số, Luật Tiếp cận thông tin năm 2016, Nghị định số 09/2017/NĐ-CP ngày 09/02/2017 của Chính phủ “quy định chi tiết việc phát ngôn và cung cấp thông tin cho báo chí của các cơ quan hành chính nhà nước” và các quy định về quản lý báo chí trên không gian mạng, hệ thống pháp lý về báo chí đã từng bước được hoàn thiện theo hướng tương đối đầy đủ và đồng bộ.
Đặc biệt, việc triển khai Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 03/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ về “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025” đã tạo ra những chuyển biến rõ nét trong tổ chức hệ thống báo chí theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp và hiệu quả. Sau hơn 05 năm thực hiện quy hoạch, nhiều cơ quan báo chí đã được sắp xếp, cơ cấu lại theo đúng tôn chỉ, mục đích; từng bước khắc phục tình trạng chồng chéo chức năng, xa rời tôn chỉ. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, giai đoạn 2019 – 2025, số lượng cơ quan báo, tạp chí giảm đáng kể so với thời điểm trước quy hoạch; nhiều cơ quan báo chí địa phương đã hoàn thành mô hình cơ quan truyền thông đa phương tiện, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước và chất lượng thông tin báo chí.
Quy hoạch báo chí góp phần tái cấu trúc không gian truyền thông quốc gia, hướng tới xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn và hiện đại. Đây là bước chuyển quan trọng từ phát triển theo chiều rộng sang chiều sâu, lấy chất lượng, tính chuyên nghiệp và hiệu quả làm trọng tâm. Thể chế ngày càng hoàn thiện đã tạo ra hành lang pháp lý ổn định, minh bạch và đồng bộ, qua đó thúc đẩy sự phát triển của hệ thống báo chí Việt Nam. Những chuyển biến về thể chế và cơ chế vận hành đã tạo nền tảng vững chắc cho sự phát triển của báo chí Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.
Ba là, đội ngũ người làm báo Việt Nam đã có bước trưởng thành toàn diện về bản lĩnh chính trị, trình độ chuyên môn, năng lực công nghệ và tinh thần trách nhiệm xã hội
Hội Nhà báo Việt Nam có hơn 25.400 hội viên, sinh hoạt tại 63 hội nhà báo tỉnh, thành phố, 21 liên chi hội và 223 chi hội trực thuộc. Mạng lưới hoạt động ngày càng chuyên nghiệp, sâu rộng, thể hiện vai trò nòng cốt trong việc xây dựng môi trường báo chí lành mạnh, nhân văn (Việt Nam Hội nhập, 2025). Đội ngũ người làm báo tiếp tục giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, thể hiện vai trò là lực lượng xung kích trên mặt trận tư tưởng – văn hóa. Trong bối cảnh thông tin đa chiều, phức tạp, đội ngũ nhà báo vẫn giữ được định hướng chính trị vững vàng, tích cực tham gia tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch.
Chất lượng chuyên môn và nghiệp vụ của đội ngũ người làm báo có bước phát triển rõ rệt. Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ báo chí có nhiều chuyển biến tích cực. Các cơ sở đào tạo, như Học viện Báo chí và Tuyên truyền, các khoa báo chí của một số trường đại học, cao đẳng, các trung tâm đào tạo, bồi dưỡng của Hội Nhà báo Việt Nam và Bộ Thông tin và Truyền thông đã chủ động đổi mới nội dung, phương thức đào tạo đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của nghề báo.
Bên cạnh đó, năng lực sáng tạo nội dung của đội ngũ người làm báo ngày càng được khẳng định. Nhiều tác phẩm báo chí chất lượng cao, có tính phát hiện, phân tích sâu sắc và sức lan tỏa lớn trong xã hội đã được công bố, góp phần nâng cao uy tín báo chí và khẳng định vai trò định hướng dư luận. Đội ngũ nhà báo ngày càng thể hiện rõ vai trò xã hội và trách nhiệm nghề nghiệp, dấn thân trong các lĩnh vực khó khăn, phức tạp, như điều tra chống tiêu cực, phản ánh những vấn đề xã hội nhạy cảm, qua đó góp phần thúc đẩy tính minh bạch, công bằng và tiến bộ xã hội.
Bốn là, các cơ quan báo chí chủ động thích ứng trước những biến đổi sâu sắc của môi trường truyền thông.
Đây không chỉ là sự thay đổi về công cụ kỹ thuật, mà còn là sự chuyển dịch toàn diện về mô hình tổ chức, phương thức sản xuất nội dung và cách thức tiếp cận công chúng.
Nhiều cơ quan báo chí đã mạnh dạn xây dựng mô hình tòa soạn hội tụ, phát triển nội dung đa phương tiện, mở rộng hoạt động trên các nền tảng số, như website, mạng xã hội và ứng dụng di động, qua đó nâng cao khả năng tiếp cận và tương tác với công chúng. Biểu hiện rõ nét là sự thay đổi trong phương thức sản xuất và phân phối nội dung. Sản phẩm báo chí không chỉ dừng ở tin, bài truyền thống, mà mở rộng sang video, infographic, podcast và dữ liệu tương tác, đáp ứng nhu cầu tiếp nhận thông tin ngày càng đa dạng của công chúng. Theo đánh giá mức độ trưởng thành chuyển đổi số báo chí năm 2025 của Cục Báo chí, tính đến tháng 12/2025, có 177/778 cơ quan báo chí đạt mức độ trưởng thành nhất định về chuyển đổi số; trong đó, có 33 cơ quan đạt mức xuất sắc, 57 cơ quan đạt mức tốt và 31 cơ quan đạt mức khá (Báo Tin tức, 2025). Một số cơ quan báo chí đã bước đầu triển khai hệ thống đo lường dữ liệu thời gian thực, newsroom tích hợp đa nền tảng và sản xuất nội dung số chuyên biệt cho mạng xã hội, podcast và video ngắn. Điều này cho thấy, chuyển đổi số đã trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với báo chí hiện đại.
Năm là, báo chí Việt Nam đã từng bước nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và khả năng cạnh tranh trong môi trường truyền thông toàn cầu.
Báo chí đã mở rộng đáng kể phạm vi hoạt động ra ngoài biên giới quốc gia, cả về nội dung, đối tượng công chúng và hình thức truyền tải. Các cơ quan báo chí chủ lực đã xây dựng các kênh truyền thông đối ngoại chuyên biệt, góp phần quảng bá hình ảnh đất nước, con người và chính sách của Việt Nam ra thế giới, từ đó nâng cao vị thế quốc gia trong dòng chảy thông tin toàn cầu. Đặc biệt, từ khi Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg ngày 30/11/2010, ban hành “Quy chế Quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại”, hoạt động của các cơ quan báo chí thực hiện nhiệm vụ thông tin đối ngoại đã phát triển mạnh mẽ.
Xét theo tiêu chí sản xuất bằng tiếng nước ngoài và phục vụ công chúng quốc tế, hệ thống báo chí đối ngoại của Việt Nam có bước tiến rõ rệt so với trước đây. Tiêu biểu có kênh phát thanh VOV5 của Đài Tiếng nói Việt Nam với 12 ngoại ngữ; kênh VTV4 của Đài Truyền hình Việt Nam; các ấn phẩm của Thông tấn xã Việt Nam, như Việt Nam News, Le Courrier du Vietnam, Báo Ảnh Việt Nam, báo điện tử VietnamPlus, Tạp chí Vietnam Law and Legal Forum. Một số cơ quan xuất bản nhiều ngoại ngữ, như VietnamPlus, Báo Ảnh Việt Nam, Báo Nhân Dân điện tử, Báo Quân đội nhân dân điện tử, Tạp chí điện tử Thời đại và Sài Gòn Giải phóng.
Báo chí không chỉ phản ánh các sự kiện quốc tế, mà còn tham gia kiến tạo diễn ngôn về Việt Nam trên trường quốc tế, qua đó góp phần nâng cao uy tín quốc gia và tăng cường sức mạnh mềm. Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Bùi Thanh Sơn nhấn mạnh, báo chí đối ngoại có vai trò kể những “câu chuyện Việt Nam” đẹp và đáng tự hào, làm cho dư luận nước ngoài hiểu, đồng tình và ủng hộ Việt Nam (Anh Sơn, 2025). Đáng chú ý, hiện nay nhiều cơ quan báo chí Việt Nam đã bước đầu áp dụng các chuẩn mực quốc tế trong hoạt động báo chí, từ quy trình biên tập, xuất bản đến chuẩn hóa trích dẫn học thuật và phát triển các nền tảng xuất bản điện tử song ngữ. Những nỗ lực này góp phần nâng cao tính chuyên nghiệp, tạo tiền đề để báo chí Việt Nam từng bước hội nhập sâu hơn vào hệ thống truyền thông và học thuật quốc tế, đặc biệt trong lĩnh vực báo chí khoa học.
3.1.2. Một số hạn chế, bất cập
Thứ nhất, tính định hướng và tính chiến đấu của báo chí trong một số trường hợp chưa thật sự sắc bén và kịp thời
Trước sự phát triển nhanh chóng của mạng xã hội và các nền tảng truyền thông số, báo chí chính thống có lúc chưa theo kịp tốc độ lan truyền thông tin, bị động trong định hướng dư luận, ảnh hưởng đến vai trò dẫn dắt của báo chí. Trong nhiều vụ việc xã hội phức tạp, báo chí chính thống phản ứng chậm hơn do phải tuân thủ quy trình kiểm chứng và xác minh thông tin. Theo Báo cáo Digital 2025: Vietnam, Việt Nam hiện có khoảng 76,2 triệu người sử dụng mạng xã hội, chiếm hơn 76,2% dân số; thời gian trung bình sử dụng mạng xã hội đạt trên 2 giờ/ngày (DataReportal, 2025). Điều này cho thấy, không gian mạng ngày càng chi phối mạnh mẽ quá trình hình thành dư luận xã hội. Trong bối cảnh đó, báo chí chính thống nếu không kịp thời định hướng thông tin, khoảng trống truyền thông rất dễ bị lấp đầy bởi tin giả, thông tin sai lệch hoặc các diễn ngôn cực đoan.
Thứ hai, thể chế và mô hình quản trị báo chí có những điểm chưa theo kịp yêu cầu của môi trường truyền thông hiện đại
Mặc dù hệ thống pháp luật về báo chí đã được hoàn thiện đáng kể, song vẫn tồn tại những khoảng trống trong điều chỉnh các vấn đề mới, như quản lý nền tảng số, trí tuệ nhân tạo hay báo chí dữ liệu. Ở không ít cơ quan báo chí, mô hình quản trị còn nặng tính hành chính, chưa chuyển đổi đầy đủ sang mô hình quản trị tích hợp, linh hoạt và dựa trên dữ liệu. Theo Bộ Thông tin và Truyền thông, nguồn thu quảng cáo của báo chí trong nước đang bị các nền tảng xuyên biên giới chiếm lĩnh phần lớn. Trước đây, 80% quảng cáo trực tuyến thuộc về báo chí; nay chủ yếu thuộc về mạng xã hội, khiến nguồn thu của các cơ quan báo chí giảm đáng kể (Báo Pháp luật Việt Nam, 2024). Điều này đặt ra yêu cầu cấp thiết phải đổi mới thể chế quản lý báo chí trong môi trường số và xây dựng cơ chế cạnh tranh công bằng hơn.
Thứ ba, năng lực, phẩm chất đạo đức của đội ngũ người làm báo chưa đồng đều
Trước xu hướng thương mại hóa báo chí, xuất hiện một bộ phận nhà báo thiếu bản lĩnh chính trị, trách nhiệm xã hội và chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, chạy theo lối làm báo giật gân, câu khách, làm nhiễu thông tin và ảnh hưởng đến các giá trị xã hội chân – thiện – mỹ (Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam, n.d.).
Thứ tư, quá trình chuyển đổi số trong báo chí chưa đồng bộ và chưa đi vào chiều sâu
Ở nhiều cơ quan báo chí, chuyển đổi số vẫn chủ yếu dừng ở việc số hóa nội dung hoặc phát triển nền tảng trực tuyến, trong khi các yếu tố cốt lõi, như tái cấu trúc quy trình sản xuất, quản trị dữ liệu, phân tích công chúng và đổi mới mô hình kinh doanh chưa được triển khai đầy đủ. Điều này làm hạn chế hiệu quả chuyển đổi số và chưa tạo ra đột phá. Chuyển đổi số vẫn có sự chênh lệch giữa các khối báo chí. Chẳng hạn, khối báo chí trung ương chuyển đổi số mạnh mẽ hơn, trong khi khối tạp chí khoa học và báo chí địa phương có tỉ lệ chuyển đổi số thấp hơn, đa số ở mức yếu. Nguyên nhân là do khối báo chí trung ương chịu sức ép cao hơn, lượng độc giả nhiều và nguồn thu cao hơn, nên quá trình chuyển đổi số diễn ra rõ rệt hơn; còn khối tạp chí, đặc biệt là tạp chí khoa học, hay báo chí địa phương, chủ yếu dựa vào ngân sách nên chuyển đổi số chậm hơn (Báo Đại đoàn kết, 2025).
Thứ năm, năng lực hội nhập quốc tế và khả năng cạnh tranh của báo chí Việt Nam còn hạn chế
Quy mô và tầm ảnh hưởng quốc tế của báo chí Việt Nam còn khiêm tốn, số lượng sản phẩm có sức lan tỏa toàn cầu, nhất là sản phẩm bằng ngoại ngữ chưa nhiều. Số lượng cơ quan báo chí có sản phẩm truyền thông đa ngữ và hệ sinh thái truyền thông quốc tế quy mô lớn còn hạn chế. Các sản phẩm báo chí bằng tiếng Anh chủ yếu tập trung ở một số cơ quan, như Thông tấn xã Việt Nam, Đài Truyền hình Việt Nam. Báo chí đối ngoại chưa phát triển tương xứng với kỳ vọng và tiềm năng; ngôn ngữ sử dụng vẫn chủ yếu là tiếng Việt và tiếng Anh, còn thiếu các ngôn ngữ phổ biến khác. Nội dung chuyên biệt chưa nhiều; không ít cơ quan mới dừng ở dịch tin, bài tiếng Việt sang tiếng Anh mà chưa đầu tư xây dựng nội dung phù hợp với thị hiếu của độc giả nước ngoài (Phương Hằng, 2025).
3.2. Định hướng xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại ở nước ta trong tình hình mới
Một là, củng cố vững chắc nền tảng tư tưởng – chính trị của báo chí, bảo đảm vai trò định hướng và dẫn dắt xã hội trong điều kiện truyền thông đa chiều
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu xây dựng Đảng về tư tưởng, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng trong điều kiện mới. Định hướng củng cố nền tảng tư tưởng – chính trị của báo chí được đặt trên cơ sở Nghị quyết số 35-NQ/TW ngày 22/10/2018 của Bộ Chính trị “về tăng cường bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới” và Chỉ thị số 43-CT/TW ngày 08/4/2020 của Ban Bí thư “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới”. Những văn bản này đã xác lập rõ vai trò của báo chí cách mạng là lực lượng nòng cốt trên mặt trận tư tưởng, văn hóa trong bối cảnh không gian truyền thông số phát triển mạnh mẽ. Điều này đặt ra yêu cầu báo chí không chỉ phản ánh hiện thực, mà phải chủ động kiến tạo diễn ngôn xã hội, định hướng nhận thức và củng cố niềm tin. Do đó, trong bối cảnh mới yêu cầu báo chí cách mạng phải giữ vững bản lĩnh chính trị, kiên định nền tảng tư tưởng của Đảng, nâng cao năng lực phản bác các quan điểm sai trái, thù địch một cách khoa học và thuyết phục. Đây không chỉ là yêu cầu về nội dung, mà là yêu cầu về phương thức thể hiện.
Hai là, hoàn thiện thể chế và mô hình quản trị báo chí theo hướng hiện đại, minh bạch, thích ứng với môi trường truyền thông số
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng yêu cầu nâng cao năng lực quản lý, quản trị quốc gia và kiến tạo phát triển của Nhà nước, trong đó báo chí là một bộ phận quan trọng của hệ thống này (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.285). Định hướng đổi mới quản trị báo chí được triển khai trực tiếp trên cơ sở Quyết định số 362/QĐ-TTg ngày 03/4/2019 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt “Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025”. Đây là văn bản có ý nghĩa chiến lược trong việc tái cấu trúc hệ thống báo chí theo hướng tinh gọn, chuyên nghiệp, giảm chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí. Đặc biệt, trong bối cảnh chuyển đổi số trở thành động lực chiến lược của phát triển quốc gia, Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” đã khẳng định yêu cầu xây dựng hệ sinh thái số đồng bộ, nâng cao năng lực quản trị trên nền tảng dữ liệu và công nghệ số, từ đó tạo cơ sở chính trị quan trọng để thúc đẩy hiện đại hóa quản trị báo chí trong kỷ nguyên số. Điều này đòi hỏi phải tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý về báo chí theo hướng vừa bảo đảm vai trò lãnh đạo của Đảng, vừa tạo điều kiện cho báo chí phát triển năng động và sáng tạo. Đồng thời, cần chuyển mô hình quản trị báo chí từ cách tiếp cận hành chính truyền thống sang quản trị hiện đại dựa trên dữ liệu, công nghệ và cơ chế tự chủ có kiểm soát. Do đó, việc tái cấu trúc hệ thống cơ quan báo chí theo hướng tinh gọn, chuyên sâu và đa nền tảng chính là điều kiện tất yếu để nâng cao hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh.
Ba là, phát triển đội ngũ người làm báo chuyên nghiệp, bản lĩnh, nhân văn và thích ứng với môi trường truyền thông số
Con người luôn là yếu tố quyết định trong mọi quá trình phát triển. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; … Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp của hệ thống chính trị, nhất là cán bộ cấp chiến lược và cấp cơ sở thật sự tiêu biểu, có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến, phù hợp với mô hình tổ chức mới và yêu cầu phát triển bứt phá của đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.90). Theo đó, người làm báo trong thời đại mới cần vững vàng về chính trị, chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, có tư duy đa nền tảng, khả năng xử lý dữ liệu, sử dụng công nghệ và sáng tạo nội dung phù hợp với các định dạng truyền thông mới. Trong đó, yếu tố “nhân văn” phải được đặt ở vị trí trung tâm, thể hiện ở trách nhiệm xã hội, cách tiếp cận con người và các vấn đề xã hội một cách sâu sắc, có tính xây dựng và hướng thiện.
Bốn là, đẩy mạnh chuyển đổi số toàn diện, ứng dụng khoa học, công nghệ để xây dựng nền báo chí hiện đại, đa nền tảng
Cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang làm thay đổi sâu sắc cấu trúc của hệ sinh thái truyền thông. Vì vậy, chuyển đổi số báo chí không chỉ là việc ứng dụng công nghệ trong sản xuất nội dung mà còn là sự thay đổi toàn diện từ tư duy, quy trình đến mô hình kinh doanh. Báo chí cần phát triển theo hướng “tòa soạn hội tụ”, tích hợp đa phương tiện, cá nhân hóa nội dung, sử dụng trí tuệ nhân tạo và dữ liệu lớn để nâng cao chất lượng thông tin và trải nghiệm công chúng. Đồng thời, báo chí phải chủ động làm chủ công nghệ, giảm phụ thuộc vào các nền tảng xuyên biên giới để bảo đảm chủ quyền thông tin quốc gia trong không gian số.
Thứ năm, nâng cao năng lực hội nhập quốc tế và sức cạnh tranh của báo chí Việt Nam trong không gian truyền thông toàn cầu
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và cạnh tranh thông tin ngày càng gay gắt, báo chí không chỉ phục vụ công chúng trong nước, mà còn là quảng bá hình ảnh quốc gia, nâng cao vị thế Việt Nam trên trường quốc tế. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh: “Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; chủ động và tích cực hội nhập quốc tế toàn diện, sâu rộng, hiệu quả” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.280-281). Điều này đòi hỏi báo chí phải nâng cao năng lực sản xuất nội dung mang tầm khu vực và quốc tế, tăng cường truyền thông đối ngoại, tham gia vào các mạng lưới báo chí toàn cầu. Đồng thời, phải xây dựng các sản phẩm báo chí có giá trị học thuật, giá trị tư tưởng và sức hấp dẫn cao để khẳng định tiếng nói của Việt Nam đối với các vấn đề quốc tế.
4. Kết luận
Xây dựng nền báo chí chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại thực chất là quá trình tái cấu trúc toàn diện từ nền tảng tư tưởng, thể chế, con người đến công nghệ và phương thức vận hành. Trong đó, yếu tố quyết định không chỉ là nguồn lực vật chất hay công nghệ, mà trước hết là tư duy đổi mới, bản lĩnh chính trị và khát vọng phát triển. Đây không chỉ là nhiệm vụ của riêng ngành báo chí, mà là yêu cầu chiến lược của toàn hệ thống chính trị, góp phần tạo nền tảng tinh thần vững chắc và thúc đẩy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên mới./.
—————————————————–
Bài viết là kết quả nghiên cứu của Đề tài cấp Bộ năm 2025 – 2026: “Xây dựng nền báo chí Việt Nam chuyên nghiệp, nhân văn, hiện đại trong tình hình mới”, do TS. Nguyễn Thị Oanh làm chủ nhiệm.
Ngày nhận bài: 09/4/2026; ngày thẩm định: 13/4/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Ban Bí thư (08/4/2020). Chỉ thị số 43-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của Hội Nhà báo Việt Nam trong tình hình mới. Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam. https://tulieuvankien.dangcongsan.vn.
Báo Pháp luật Việt Nam (12/11/2024). 80% quảng cáo trên báo chí hiện thuộc về mạng xã hội. https://baophapluat.vn.
Việt Nam Hội nhập (21/4/2025). Hội Nhà báo Việt Nam – 75 năm đồng hành cùng nền báo chí cách mạng Việt Nam. https://vietnamhoinhap.vn.
Báo Tin tức (19/12/2025). Bức tranh chuyển đổi số báo chí 2025: Cả nước có 33 cơ quan báo chí đạt mức xuất sắc. https://baotintuc.vn.
Bộ Chính trị (22/12/2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ. https://xaydungchinhsach.chinhphu.vn.
DataReportal (03/3/2025). Digital 2025: Vietnam. https://datareportal.com.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026c). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Phương Hằng (25/4/2025). Báo chí đối ngoại: Lực lượng chủ công tạo nên “điểm sáng” Việt Nam. Báo Quốc tế. https://baoquocte.vn.
Anh Sơn (05/5/2025). Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bùi Thanh Sơn: Báo chí góp phần nâng cao hình ảnh và sức mạnh mềm của đất nước. Báo Quốc tế. https://baoquocte.vn.
Tạp chí Khoa học và Công nghệ Việt Nam (n.d.). Đạo đức và đào tạo nhà báo trong bối cảnh số hóa. https://vjst.vn.
Thủ tướng Chính phủ (30/11/2010). Quyết định số 79/2010/QĐ-TTg ban hành Quy chế quản lý nhà nước về thông tin đối ngoại.
Thủ tướng Chính phủ (03/4/2019). Quyết định số 362/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch phát triển và quản lý báo chí toàn quốc đến năm 2025.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)
