TƯ TƯỞNG THỰC HỌC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

TƯ TƯỞNG THỰC HỌC CỦA NGUYỄN TRƯỜNG TỘ VÀ Ý NGHĨA ĐỐI VỚI ĐỔI MỚI GIÁO DỤC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

ThS. ĐỖ THỊ KIM PHƯƠNG
Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn,
Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Bài viết làm rõ tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ như một điểm mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX và một bộ phận quan trọng trong chỉnh thể tư duy canh tân của ông. Từ sự phê phán lối học từ chương, trọng hư văn, xa rời thực tế, Nguyễn Trường Tộ quan niệm giáo dục gắn tri thức với sản xuất, khoa học – kỹ thuật, quản trị xã hội, đào tạo nhân tài và chấn hưng đất nước. Trên cơ sở đó, bài viết chỉ ra ý nghĩa của tư tưởng này đối với đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay, trước hết ở định hướng gắn giáo dục với phát triển con người, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nâng cao năng lực nội sinh quốc gia, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu tiếp nhận trong đúng giới hạn lịch sử của tư tưởng ấy.
Từ khóa: giáo dục; Nguyễn Trường Tộ; thực học; Việt Nam

NGUYEN TRUONG TO’S THOUGHT OF “PRACTICAL LEARNING” AND ITS SIGNIFICANCE FOR EDUCATIONAL REFORM IN VIET NAM TODAY
Abstract: The article clarifies Nguyen Truong To’s thought on practical learning as a distinctive development in nineteenth-century Vietnamese intellectual history and as an important component of his broader reformist thought. By criticizing chapter-and-verse learning, the emphasis on empty rhetoric, and approaches detached from reality, Nguyen Truong To formulated an educational conception that linked knowledge with production, science and technology, social governance, talent cultivation, and national revitalization. On that basis, the article identifies the significance of this thought for educational reform in Viet Nam today, particularly in orienting education toward human development, science and technology, innovation, and the enhancement of the nation’s endogenous capacity. It also emphasizes the need to approach this thought with due regard to its historical limitations.
Keywords: education; Nguyen Truong To; practical learning; Viet Nam

1. Mở đầu
Nguyễn Trường Tộ (1830 – 1871) là nhà tư tưởng tiêu biểu, là nhà cải cách lớn của Việt Nam thời kỳ cận đại. Ông sinh ra và lớn lên trong bối cảnh Việt Nam nửa cuối thế kỷ XIX từng bước lâm vào khủng hoảng toàn diện của chế độ phong kiến triều Nguyễn và nguy cơ xâm lược của chủ nghĩa thực dân phương Tây. Trong bối cảnh đó, “ông dành cả tâm huyết của mình chủ trương thực hiện cuộc cải cách xã hội Việt Nam sâu rộng” (Doãn Chính và Cao Xuân Long, 2025, tr.365). Bởi lẽ, thời bấy giờ, lối học từ chương, khoa cử hình thức đã bộc lộ sự bất lực trước yêu cầu chấn hưng quốc gia. Vì vậy, trong hệ thống tư duy cải cách, vấn đề “thực học” trở thành một điểm nhấn tiêu biểu, làm nên sức sống cho tư tưởng của Nguyễn Trường Tộ trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX. Điểm mới này nằm ở sự chuyển dịch quan niệm giáo dục từ “trọng hư văn” sang “trọng công dụng”, từ tri thức kinh viện sang tri thức gắn với sản xuất, kỹ thuật, quản trị xã hội và thực lực dân tộc. Theo đó, giáo dục phải hướng vào đào tạo nhân lực hữu dụng cho cải cách và tự cường dân tộc. “Nếu không có nền học thuật sáng suốt thì phong tục sẽ ngày một bại hoại, lòng người sẽ ngày một giả dối, phù phiếm trống rỗng” (Trương Bá Cần, 2002, tr.224). Tư tưởng ấy hình thành từ sự bất lực của nền học vấn cũ, từ tiếp xúc với tri thức phương Tây theo nguyên tắc hữu dụng, cũng như từ nỗ lực tái cấu trúc tư duy giáo dục trong chỉnh thể tư duy canh tân của Nguyễn Trường Tộ. Nghiên cứu tư tưởng thực học của ông “sẽ rút ra được những kinh nghiệm quý báu cho hiện tại cũng như tương lai” (Trương Bá Cần, 2002, tr.14), vì tư tưởng ấy vừa có ý nghĩa lịch sử tư tưởng, vừa có ý nghĩa lý luận đối với đổi mới giáo dục hiện nay. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo” đã đặt giáo dục, đào tạo, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao vào vị trí trung tâm, là đột phá phát triển. Nội dung bài viết tập trung làm rõ tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ và ý nghĩa của tư tưởng ấy đối với đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết được triển khai trên cơ sở tiếp cận lịch sử tư tưởng, kết hợp bốn phương pháp chủ yếu. Phương pháp phân tích văn bản được sử dụng để đọc các điều trần, kiến nghị và luận điểm giáo dục của Nguyễn Trường Tộ, qua đó nhận diện nội dung cốt lõi của tư tưởng thực học trong sự phê phán “hư học”, đề cao tri thức hữu dụng, khoa học – kỹ thuật, đào tạo nhân tài và thực lực quốc gia. Phương pháp thống nhất giữa lịch sử và logic đặt tư tưởng ấy trong điều kiện khủng hoảng của xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, sự bất cập của mô hình giáo dục khoa cử cũ và yêu cầu canh tân đất nước. Phương pháp phân tích và tổng hợp được vận dụng để tách các lớp nội dung cơ bản của tư tưởng thực học, quy tụ chúng trong chỉnh thể tư duy canh tân của Nguyễn Trường Tộ. Phương pháp so sánh và đối chiếu được sử dụng nhằm làm rõ ý nghĩa của tư tưởng thực học đối với đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay, trên nguyên tắc phân biệt giá trị tư tưởng có thể kế thừa với giới hạn lịch sử của các đề xuất giáo dục thế kỷ XIX.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Nội dung cơ bản trong tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ
Thứ nhất, tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ được xác lập từ sự phê phán lối học từ chương, tầm chương trích cú, trọng hư văn và khoa cử hình thức
Trong cách nhìn của Nguyễn Trường Tộ, khuyết tật lớn của nền học cũ không nằm ở việc thiên về kinh điển đơn thuần, mà ở chỗ nền học ấy làm cho tri thức tách khỏi đời sống, khỏi việc nước và khỏi yêu cầu lịch sử của dân tộc. “Về lối học cũ, lối học từ chương, ông đã thấy ngay hồi còn nhỏ, là vô bổ, nên ông cũng đã sớm đi tìm lối học thực dụng” (Trương Bá Cần, 2002, tr.85). Khi học chỉ hướng vào văn chương ứng thí, người học bị buộc vào chữ nghĩa cũ, còn năng lực nhận thức hiện thực, năng lực xử lý công việc thực tế và năng lực can dự vào công cuộc chấn hưng đất nước lại không được hình thành. Ông thấy rằng, người thời bấy giờ “không hiểu được sự thể xưa nay thay đổi ra sao, cứ ca tụng thời xưa,… muốn đi ngược lại theo xưa”, “… từ trẻ đến già, từ trường công đến trường tư đua nhau trau chuốt từng câu hay, từng chữ khéo. Sao mà tệ mạt đến thế!” (Trương Bá Cần, 2002, tr.259, 290). Vì vậy, sự phê phán lối học cũ của Nguyễn Trường Tộ thực chất là phê phán một cơ chế đào tạo con người không còn phù hợp với thời thế. Ông phê phán lối học “tầm chương trích cú”, trọng “hư văn”, “từ chương”, khoa cử sáo rỗng, xa rời thực tế và “còn biết bao nhiêu những việc tương tự như thế, mòn bút khô mực cũng không kể hết. Xưa nay các nước trên thế giới chưa từng có nước nào có nền học thuật như vậy. Quả thật lạ đời!” (Trương Bá Cần, 2002, tr.86); đồng thời, nhận định lối học ấy là vô bổ trước yêu cầu cải cách và cứu nước. Từ đây, Nguyễn Trường Tộ đi đến một chuyển hướng quan trọng trong tư duy giáo dục. Ông không còn xem việc học là con đường tiến thân trong quỹ đạo khoa cử, mà đặt việc học vào quan hệ trực tiếp với thực tiễn quốc gia. Nói cách khác, sự phê phán lối học từ chương ở ông đã mở đường cho một quan niệm mới về giáo dục, trong đó tri thức phải được đo bằng công dụng xã hội, bằng khả năng đi vào đời sống và bằng đóng góp đối với thực lực dân tộc. Chính trên nền phê phán ấy, thực học được xác lập như một đòi hỏi lịch sử cho công cuộc canh tân.
Thứ hai, thực học ở Nguyễn Trường Tộ là một quan niệm tái cấu trúc tri thức theo hướng gắn chặt với thực tế xã hội và yêu cầu chấn hưng quốc gia
Nếu lối học cũ lấy kinh điển, văn chương và khoa cử làm chuẩn, thì thực học chuyển thước đo giá trị của tri thức sang công dụng xã hội, hiệu quả thực tiễn và năng lực cải biến hiện thực. “Vậy học những gì? Là học những gì chưa biết để biết mà đem ra thực hành… đó là thực hành những gì thực tế trước mắt và còn để lại lợi ích cho đời sau nữa” (Trương Bá Cần, 2002, tr.288). Trong quan niệm ấy, tri thức không còn là hư văn, là phương tiện tiến thân cá nhân, mà chuyển hóa thành năng lực của sản xuất, của kỹ thuật, của tổ chức xã hội và của quản trị nhà nước. “Cho nên thay đổi đi mà những điều tạo hóa hành sự làm cái học thực dụng” (Trương Bá Cần, 2002, tr.123). Tinh thần “phê hư trọng thực”, tức phê phán hư văn và đề cao thực học của Nguyễn Trường Tộ, thể hiện ở quan niệm coi tri thức chỉ có giá trị khi phục vụ thực tế, gắn với sản xuất, đời sống xã hội và yêu cầu chấn hưng quốc gia. Điểm quan trọng hơn là sự tái cấu trúc này không dừng ở việc đổi nội dung học tập mà chạm tới cấu trúc của chính hoạt động nhận thức. Nguyễn Trường Tộ lựa chọn tiếp nhận tri thức theo nguyên tắc hữu dụng, tập trung vào khoa học thực nghiệm, giáo dục, tổ chức xã hội và quản trị nhà nước. Điều đó cho thấy ông không hiểu thực học như học cái mới một cách chung chung, mà như một phương thức tổ chức lại tri thức theo các lĩnh vực trực tiếp tạo ra thực lực quốc gia. Từ đây, tri thức được kéo ra khỏi quỹ đạo kinh viện để đi vào các phạm vi có khả năng làm thay đổi đời sống vật chất và năng lực tổ chức của đất nước. Nói cách khác, thực học là con đường chuyển tri thức thành nguồn lực để phát triển. Chính trên ý nghĩa ấy, tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ đã vượt khỏi phạm vi một chủ trương giáo dục thông thường để trở thành một bộ phận trong chương trình canh tân, gắn giáo dục với nhân tài, với khoa học – kỹ thuật và với tự cường dân tộc.
Thứ ba, tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ gắn chặt với khoa học – kỹ thuật và đào tạo nhân tài, qua đó nhận thức giáo dục là phương thức tạo lập năng lực phát triển quốc gia
Trong quan niệm này, thực học không dừng ở việc sửa lối học hay đổi môn học, mà hướng tới hình thành một kiểu nhân lực mới, có khả năng đáp ứng những đòi hỏi thực tế của công cuộc canh tân. Cho nên, để chấn hưng sự nghiệp nước nhà thì không gì quan trọng bằng việc học tập những cái khéo léo, cái kỹ thuật của người phương Tây. “Các nước người ta dạy dỗ dân thì như thiên văn, địa lý, nông chính, hầm mỏ, khai thác nguồn lợi biển, nguồn lợi núi, nguồn lợi sông hồ, thủy cục, đường sá, cầu cống, thương mại, giao thông, toán pháp, y tế, cây trồng, cắt may, thực phẩm, nhà cửa, phố xá, cho đến nuôi dạy trẻ, không ngành nghề nào không có chức quan quản thủ, mà tất cả việc gì cũng đều hợp lòng người, không trái nguyện vọng của dân” (Trương Bá Cần, 2002, tr.468). Nguyễn Trường Tộ xem giáo dục là con đường trực tiếp để hình thành năng lực con người và tạo nguồn nhân lực phục vụ công cuộc canh tân đất nước, đồng thời nhấn mạnh rằng vấn đề không chỉ là học cái gì, mà là bồi dưỡng nhân tài cho việc nước. Trong Di thảo số 18, Về việc học thực dụng (ngày 01/9/1866), Nguyễn Trường Tộ “nói rõ về việc học tập bồi dưỡng nhân tài tức con đường rộng lớn để đi đến giàu mạnh” (Trương Bá Cần, 2002, tr.221). Chính vì vậy, khi đất nước đặt yêu cầu tự cường, ông nhìn thấy ngay một thiếu hụt về nhân tài, vì đào tạo nhân tài chưa được dự liệu trước. Qua đó cho thấy, trong tư duy của Nguyễn Trường Tộ, thực học chỉ có ý nghĩa đầy đủ khi nó đi đến đào tạo con người hữu dụng cho quản trị, cho sản xuất, cho cải cách và cho bảo vệ quốc gia; gắn với đào tạo nhân tài là vai trò của khoa học – kỹ thuật. Nguyễn Trường Tộ đặt khoa học – kỹ thuật vào trung tâm của quá trình chấn hưng đất nước, vì ở đó kết tinh khả năng chuyển tri thức thành sức mạnh vật chất và sức mạnh tổ chức năng lực thực tế. Ông đề xuất mở hệ thống giáo dục mới với các chuyên ngành thực dụng: “Nay xin lập các khoa sau đây: 1. Khoa nông chính… 2. Khoa thiên văn và khoa địa lý… 3. Khoa công kỹ nghệ… 4. Khoa luật học…” (Trương Bá Cần, 2002, tr. 291-293). Vấn đề cải cách giáo dục, trong quan niệm của ông, được đặt trong quan hệ hữu cơ với cải cách kinh tế và quốc phòng; còn khoa học – kỹ thuật được nhìn như đòn bẩy làm thay đổi công cụ lao động, phương thức tổ chức và trình độ sản xuất, qua đó tác động trực tiếp đến cấu trúc kinh tế, xã hội và sức mạnh quốc gia. Theo nghĩa ấy, thực học gắn với khoa học – kỹ thuật không chỉ nhằm mở rộng kiến thức thực dụng, mà nhằm kiến tạo một nền tảng trí lực cho tự cường dân tộc. Chính ở đây, trong tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ, đào tạo nhân tài để vận dụng khoa học – kỹ thuật để cải biến hiện thực và từ cải biến hiện thực mà nâng cao thực lực quốc gia.
Thứ tư, tư tưởng thực học là một bộ phận của tư duy canh tân Nguyễn Trường Tộ
Điểm này cần được nhấn mạnh để tránh thu hẹp thực học vào phạm vi sửa nội dung học tập hay đổi phương pháp dạy học. Trong cách nhìn của Nguyễn Trường Tộ, giáo dục chỉ thực sự có ý nghĩa khi tham gia trực tiếp vào việc tái cấu trúc thực lực quốc gia. “Học những gì thực tế thì sẽ có thực dụng” (Trương Bá Cần, 2002, tr.86). Vì vậy, thực học gắn với kinh tế, vì tri thức phải đi vào sản xuất và khai thông nguồn lợi; gắn với khoa học – kỹ thuật, vì canh tân không thể tách khỏi đổi mới công cụ, phương thức lao động và năng lực tổ chức; gắn với quản trị xã hội, vì nhân tài được đào tạo không phải để duy trì lối học cũ, mà để giải quyết những vấn đề thực của đất nước. Nguyễn Trường Tộ đề nghị: “Xin cho các trường Quốc học, tỉnh học, các trường tư và các bài thi Hương thi Hội đều chú trọng vào tình hình hiện tại, như luật lịch, binh quyền, các chính sự về công hình lại lễ, tất cả đều được nói thẳng, không giấu giếm, có cái gì tệ hại, có cái gì hay ho, cái gì nên để lại, cái gì cần thay đi, những cái cần thiết trước mắt, những cái có thể phân tích tỉ mỉ, xác đáng, hợp thời, thì được coi là trúng cách, còn những chuyện cũ chỉ là thứ yếu” (Trương Bá Cần, 2002, tr.224). Chính trong mối liên hệ đó, thực học trở thành một mắt khâu của tư duy kiến tạo, tức tư duy hướng tới xây dựng nền tảng lâu dài cho sự giàu mạnh và tự cường của quốc gia. Nội dung cải cách của Nguyễn Trường Tộ được triển khai trong một hệ thống liên kết, trong đó giáo dục, kinh tế, khoa học – kỹ thuật, tổ chức xã hội và đối ngoại cùng quy về mục tiêu chấn hưng đất nước. “Bởi vì, vạn vật chia ra nhiều môn loại, môn loại nào cũng có cái kỳ diệu, đáng quý của nó… Nếu chia ra từng môn, từng loại mà học thì trong một nước có nhiều cái đáng quý…” (Trương Bá Cần, 2002, tr.227). Nhìn từ lịch sử tư tưởng, chính mối liên hệ ấy làm nên ý nghĩa của thực học trong tư duy Nguyễn Trường Tộ. Ông không đặt giáo dục như một lĩnh vực tự thân, mà quy nó vào quan hệ nhân quả với nội lực dân tộc. Tri thức được tái cấu trúc theo nguyên tắc hữu dụng thì giáo dục mới chuyển hóa thành nguồn nhân lực, khoa học – kỹ thuật mới trở thành đòn bẩy của sản xuất và quản trị, cải cách mới có nền tảng hiện thực. Vì vậy, thực học ở Nguyễn Trường Tộ không dừng ở quan niệm về học tập, mà kết tinh thành quan niệm về phát triển quốc gia trong điều kiện lịch sử mới. Chính trên bình diện đó, tư tưởng thực học mang ý nghĩa canh tân rõ rệt và góp phần mở ra một khuynh hướng tư duy mới trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX.
3.2. Ý nghĩa của tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ đối với đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
Một là, ý nghĩa về phương thức tư duy
Giá trị lớn nhất ở đây là cách Nguyễn Trường Tộ đặt giáo dục vào quan hệ với vận mệnh quốc gia. Trong tư duy của Nguyễn Trường Tộ, giáo dục không phải một lĩnh vực tự thân, càng không phải con đường sản xuất danh vị theo quỹ đạo khoa cử cũ. Giáo dục phải tham gia trực tiếp vào việc tạo lập thực lực dân tộc thông qua tri thức hữu dụng, nhân tài thực dụng, khoa học – kỹ thuật và năng lực tổ chức đời sống xã hội. Bởi vậy, thực học trước hết gợi ra một cách nhìn: đổi mới giáo dục phải được đặt trong chỉnh thể phát triển con người, phát triển quốc gia và củng cố, nâng cao nội lực dân tộc. Đây chính là điểm gặp gỡ có tính phương pháp giữa tư tưởng Nguyễn Trường Tộ với định hướng đương đại. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng “tiếp tục khẳng định chủ trương giáo dục và đào tạo cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là tương lai của dân tộc, là động lực then chốt để phát triển đất nước, là yếu tố mang tính quyết định để nâng cao năng lực nội sinh quốc gia, là “đột phá chiến lược” để phát triển nhanh và bền vững đất nước. “Xác định đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển và ưu tiên, đi trước so với các lĩnh vực khác. Phát triển giáo dục, đào tạo và khoa học, công nghệ luôn gắn với phát triển con người, vì sự phát triển toàn diện con người” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.60). Từ đó, có thể thấy, ý nghĩa trước hết của tư tưởng thực học không phải ở chỗ cung cấp một mô hình giáo dục hoàn chỉnh cho hiện nay, mà ở chỗ nó nhắc lại một nguyên tắc cốt lõi của giáo dục. Đó là giáo dục chỉ có ý nghĩa khi được tổ chức như một nguồn lực phát triển, gắn tri thức với thực tiễn, gắn con người với quốc gia, gắn đào tạo với yêu cầu tự cường dân tộc.
Hai là, ý nghĩa về nội dung đổi mới
Điểm cốt lõi mà tư tưởng này gợi ra là: nội dung giáo dục không thể tiếp tục tổ chức theo quán tính truyền thụ tri thức kinh viện, mà phải được tái cấu trúc theo yêu cầu phát triển thực tiễn của đất nước. Trong quan niệm của Nguyễn Trường Tộ, việc học phải hướng vào “những gì chưa biết để đem ra thực hành”, phải chú trọng những lĩnh vực thiết yếu như sản xuất, kỹ thuật, thương mại, quân sự và quản trị xã hội; nghĩa là tri thức chỉ thực sự có giá trị khi đi vào đời sống, tạo ra năng lực làm việc, năng lực tổ chức và năng lực phụng sự quốc gia. Từ logic ấy, đổi mới nội dung giáo dục hiện nay không thể dừng ở việc bổ sung thêm môn học hay chỉnh sửa kỹ thuật chương trình, mà phải chuyển mạnh theo hướng tăng hàm lượng khoa học, công nghệ, kỹ năng thực hành, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và năng lực giải quyết vấn đề thực tiễn. Đây cũng là hướng mà Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh. Cụ thể là, “vấn đề đổi mới toàn diện, căn bản giáo dục, đào tạo được xác định rõ ràng hơn, toàn diện hơn, đó là đổi mới đồng bộ cả mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp theo hướng hiện đại, hội nhập quốc tế, phát triển con người toàn diện, đáp ứng những yêu cầu mới của phát triển kinh tế – xã hội, khoa học và công nghệ, thích ứng với cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.61). Bên cạnh đó, tinh thần thực học của Nguyễn Trường Tộ còn gợi mở yêu cầu gắn nội dung giáo dục với các trụ cột mới của phát triển quốc gia. Nếu ở thế kỷ XIX, ông đặt trọng tâm vào tri thức hữu dụng, khoa học thực nghiệm, kỹ nghệ và đào tạo nhân tài thực dụng, thì hiện nay, ý nghĩa tương ứng nằm ở việc hiện đại hóa nội dung giáo dục theo hướng tích hợp khoa học, công nghệ, kỹ thuật, nghệ thuật, toán học, tăng cường nghiên cứu khoa học, phát triển năng lực số, năng lực ngoại ngữ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo và đào tạo nhân lực chất lượng cao cho các ngành mũi nhọn, các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã cụ thể hóa khá rõ hướng đi này khi đặt ra yêu cầu xây dựng nền giáo dục quốc dân hiện đại, ngang tầm khu vực và thế giới; đẩy mạnh giáo dục STEAM, nghiên cứu khoa học, phát triển năng lực số trong trường phổ thông; tăng cường dạy và học ngoại ngữ, từng bước đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học; đồng thời phát triển chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế, nhất là trong các ngành khoa học, công nghệ, quản trị thông minh và các lĩnh vực mới nổi (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.100, 224, 101, 103). Đặt trong đối sánh đó, ý nghĩa nổi bật của tư tưởng thực học không nằm ở chỗ cung cấp sẵn một mô hình nội dung giáo dục cho hiện nay mà nằm ở cách đặt vấn đề. Nội dung giáo dục phải được tổ chức theo yêu cầu phát triển thực lực quốc gia. Nó không thể tách khỏi khoa học, công nghệ, nhu cầu nhân lực và chiều hướng vận động của thời đại.
Ba là, ý nghĩa tổ chức và chính sách giáo dục
Điểm gợi mở ở đây không nằm ở một vài biện pháp quản trị riêng lẻ, mà ở nguyên tắc tổ chức giáo dục theo yêu cầu phát triển thực lực quốc gia. Trong tư duy của Nguyễn Trường Tộ, khi tri thức đã được đặt lại trên nền tảng thực tế, thì giáo dục không thể tiếp tục vận hành bằng cơ chế cũ, mục tiêu cũ và cách thức cũ. Nó đòi hỏi sự chuyển đổi đồng bộ từ định hướng đào tạo, nội dung học tập, phương thức thi cử đến cách sử dụng nhân tài. Nghị quyết số 71-NQ/TW của Bộ Chính trị xác định: “Giáo dục, đào tạo phải bảo đảm “học đi đôi với hành”, “lý thuyết gắn liền với thực tiễn”, “nhà trường gắn liền với xã hội”. Giáo dục mầm non, phổ thông là nền tảng hình thành nhân cách, phát triển phẩm chất và năng lực người học. Giáo dục nghề nghiệp giữ vai trò then chốt trong phát triển lực lượng lao động kỹ năng cao. Giáo dục đại học là nòng cốt phát triển nhân lực trình độ cao, nhân tài, thúc đẩy phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” (Bộ Chính trị, 2025). Chính vì vậy, thực học không chỉ là một quan niệm về học tập, mà còn hàm ý một quan niệm về tổ chức giáo dục mới. Ở đó, giáo dục phải được thiết kế như một thiết chế tạo nguồn nhân lực hữu dụng cho sản xuất, quản trị, khoa học – kỹ thuật và chấn hưng quốc gia. Từ đây, có thể rút ra một ý nghĩa có tính phương pháp đối với hiện nay: đổi mới giáo dục chỉ đạt chiều sâu khi được triển khai đồng bộ ở thể chế, cơ chế, chính sách, đội ngũ, hạ tầng và phương thức vận hành, chứ không thể dừng ở cải tiến cục bộ trong nhà trường. Đây cũng là hướng được Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định khá rõ khi nhấn mạnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo phải được thực hiện đồng bộ ở mục tiêu, nội dung, chương trình, phương thức, phương pháp. Đồng thời, “thực hiện đổi mới mạnh mẽ thể chế, tạo cơ chế, chính sách đặc thù, vượt trội cho phát triển giáo dục, đào tạo, tập trung đột phá về phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.273). Từ chiều cạnh khác, điểm gặp gỡ giữa tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ với định hướng đương đại nằm ở định hướng tổ chức lại hệ thống giáo dục, nâng cao chất lượng đội ngũ và gắn đào tạo với nhu cầu phát triển đất nước. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết số 71-NQ/TW xác định đẩy mạnh dạy và học ngoại ngữ, triển khai giáo dục STEAM và nghiên cứu khoa học, phát triển năng lực số trong trường phổ thông, ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong giáo dục, phát triển hệ thống giáo dục nghề nghiệp chất lượng cao và xây dựng chương trình đào tạo nhân lực chất lượng cao theo chuẩn quốc tế ở các ngành khoa học, công nghệ, quản trị thông minh và các lĩnh vực ưu tiên, mới nổi. Những định hướng đó cho thấy, đổi mới giáo dục hiện nay có một số điểm tương đồng với quan niệm mà Nguyễn Trường Tộ từng gợi mở từ thế kỷ XIX. Giáo dục phải gắn với khoa học – kỹ thuật, với tổ chức xã hội và với yêu cầu tạo dựng thực lực quốc gia. Tuy nhiên, về mặt khoa học, chỉ nên xác định đây là giá trị gợi mở và tham chiếu: chính sách giáo dục phải hướng vào đào tạo con người có năng lực thực hành, năng lực sáng tạo và năng lực đáp ứng những yêu cầu phát triển mới của đất nước.
Việc xác định ý nghĩa tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ đối với đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay chỉ có thể xác đáng khi đặt trong giới hạn lịch sử của chính tư tưởng ấy. Thực học của Nguyễn Trường Tộ được hình thành trong khuôn khổ xã hội Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX, trong điều kiện một quốc gia phong kiến suy yếu, một nền học cũ mất dần khả năng đáp ứng yêu cầu lịch sử và một công cuộc canh tân còn bị ràng buộc bởi giới hạn của chính trật tự đương thời. Vì vậy, không thể chuyển trực tiếp những đề nghị giáo dục của ông thành mô hình đổi mới giáo dục cho hiện nay. Điều có thể tiếp nhận là logic tư duy phê phán lối học xa rời thực tế, đặt tri thức trong quan hệ với đời sống và việc nước, gắn giáo dục với khoa học – kỹ thuật, với đào tạo nhân tài và với thực lực quốc gia. Chính sự phân biệt giữa giá trị tư tưởng và giới hạn lịch sử ấy bảo đảm tính khoa học của việc tiếp nhận Nguyễn Trường Tộ. Nói cách khác, tư tưởng thực học của ông không cung cấp một lời giải sẵn có cho đổi mới giáo dục hiện nay, nhưng vẫn gợi mở một nguyên tắc có giá trị bền vững: giáo dục chỉ thực sự trở thành động lực phát triển khi được tổ chức trên nền thực tiễn, hướng vào năng lực con người và quy về yêu cầu chấn hưng đất nước.
4. Kết luận
Tư tưởng thực học là một nội dung quan trọng trong chỉnh thể tư duy canh tân của Nguyễn Trường Tộ, đồng thời là một điểm mới đáng chú ý trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thế kỷ XIX. Giá trị của tư tưởng ấy không dừng ở sự phê phán lối học từ chương, tầm chương trích cú, trọng hư văn và khoa cử hình thức, mà nằm ở chỗ đã xác lập một quan niệm mới về tri thức và giáo dục. Ở đó, tri thức phải gắn với thực tế, với sản xuất, với khoa học – kỹ thuật, với quản trị xã hội và với yêu cầu chấn hưng đất nước; giáo dục phải hướng tới đào tạo nhân tài hữu dụng, góp phần tạo lập thực lực quốc gia. Trên cơ sở đó, bài viết cho rằng, tư tưởng thực học của Nguyễn Trường Tộ vẫn có ý nghĩa đối với đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay: ở định hướng đặt giáo dục trong quan hệ với phát triển con người, phát triển quốc gia và nâng cao năng lực nội sinh dân tộc; ở yêu cầu tái cấu trúc nội dung giáo dục theo hướng khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng thực hành và năng lực số; đồng thời ở đòi hỏi đổi mới đồng bộ tổ chức và chính sách giáo dục. Tuy nhiên, ý nghĩa này chỉ được tiếp nhận một cách khoa học khi đặt trong đúng giới hạn lịch sử của tư tưởng Nguyễn Trường Tộ. Điều có thể kế thừa không phải là mô hình giáo dục thế kỷ XIX, mà là logic giáo dục gắn với thực tiễn, với nhân tài, với khoa học – kỹ thuật và với thực lực dân tộc./.

—————————–

Ngày nhận bài: 24/4/2026; ngày thẩm định: 27/4/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Doãn Chính và Cao Xuân Long (2025). Từ điển Triết học Việt Nam. Nxb Khoa học Xã hội.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 71-NQ/TW ngày 22/8/2025 “về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo”.
Trương Bá Cần (2002). Nguyễn Trường Tộ – Con người và di thảo. Nxb Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh.

(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *