ThS. NGUYỄN THỊ NGỌC CẢNH
Học viện Chính trị khu vực III
Tóm tắt: Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Nam, là nguồn sức mạnh nội sinh và nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với những tác động của toàn cầu hóa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc đặt ra những yêu cầu mới cả về lý luận và thực tiễn. Bài viết nhằm làm rõ sự phát triển quan điểm của Đảng, nhất là những điểm mới của Đại hội lần thứ XIV của Đảng về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc. Từ thực tiễn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc thời gian qua, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục củng cố và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới.
Từ khóa: đại đoàn kết toàn dân tộc; Đại hội lần thứ XIV của Đảng; đồng thuận xã hội; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; vai trò chủ thể của Nhân dân
PROMOTING THE STRENGTH OF GREAT NATIONAL UNITY IN THE SPIRIT OF THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE COMMUNIST PARTY
Abstract: Great national unity is a strategic policy of the Communist Party of Viet Nam, a source of endogenous strength, and a decisive factor in national construction and defence. As Viet Nam enters a new era of development in the context of globalization, digital transformation, and international integration, harnessing the strength of great national unity entails new theoretical and practical requirements. This article examines the evolution of the Party’s perspectives, with particular emphasis on the new orientations set forth at its 14th National Congress concerning the promotion of great national unity. Based on an assessment of recent practice, the article proposes several measures to further consolidate and harness the strength of great national unity in the new period.
Keywords: great national unity; 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam; social consensus; Viet Nam Fatherland Front; the people’s role as active agents
1. Đặt vấn đề
“Đại đoàn kết toàn dân tộc là truyền thống quý báu, đường lối chiến lược quan trọng, xuyên suốt của Đảng; nguồn sức mạnh to lớn, nhân tố quyết định thắng lợi của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2023). Trong bối cảnh đất nước bước vào kỷ nguyên phát triển mới với mục tiêu “đến năm 2030 trở thành nước đang phát triển có công nghiệp hiện đại, thu nhập trung bình cao; hiện thực hóa tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước phát triển, thu nhập cao vì một nước Việt Nam hòa bình, độc lập, dân chủ, giàu mạnh, phồn vinh, văn minh, hạnh phúc, vững bước đi lên chủ nghĩa xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.84), việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc có ý nghĩa quan trọng đối với việc củng cố đồng thuận xã hội, khơi thông các nguồn lực và tăng cường sức mạnh nội sinh của đất nước. Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.120), coi đây là động lực quan trọng để thực hiện các mục tiêu phát triển trong giai đoạn mới. Bài viết tập trung làm rõ những điểm mới của Đại hội lần thứ XIV của Đảng; đánh giá kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay; đồng thời đề xuất một số giải pháp nhằm chuyển hóa sức mạnh đại đoàn kết thành động lực phát triển đất nước.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp lịch sử, logic, phân tích, so sánh văn kiện, tổng hợp tài liệu và tổng kết thực tiễn. Trên cơ sở đó, bài viết làm rõ sự phát triển quan điểm của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ XIV; phân tích những điểm mới của Đại hội lần thứ XIV so với Đại hội lần thứ XIII và Nghị quyết số 43-NQ/TW ngày 24/11/2023 của Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIII “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”; đồng thời, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc trong giai đoạn mới.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Sự phát triển quan điểm của Đảng và những điểm mới của Đại hội lần thứ XIV về đại đoàn kết toàn dân tộc
Đại đoàn kết toàn dân tộc là tư tưởng xuyên suốt trong đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ khi ra đời đến nay, Đảng luôn xác định đoàn kết là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, quyết định thành công của sự nghiệp cách mạng. Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, tư tưởng đại đoàn kết được hiện thực hóa thông qua các tổ chức mặt trận dân tộc thống nhất, như Hội Phản đế Đồng minh năm 1930, Mặt trận Dân chủ Đông Dương năm 1938, Mặt trận Việt Nam độc lập đồng minh (Việt Minh) năm 1941, Hội Liên hiệp quốc dân Việt Nam (Hội Liên Việt) năm 1946, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam năm 1955, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam năm 1960 và Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thống nhất ngày 04/02/1977. Đây là cơ sở chính trị – xã hội quan trọng để tập hợp mọi lực lượng yêu nước vì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội.
Bước vào thời kỳ đổi mới, nhận thức của Đảng về đại đoàn kết toàn dân tộc không ngừng được bổ sung và phát triển. Đại hội lần thứ VI của Đảng xác định: “Trong toàn bộ hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng “lấy dân làm gốc”, xây dựng và phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006a, tr.549). Nghị quyết số 07-NQ/TW ngày 17/11/1993 của Bộ Chính trị “về đại đoàn kết dân tộc và tăng cường Mặt trận Dân tộc thống nhất” nêu rõ: “Đại đoàn kết dân tộc là đoàn kết mọi người trong đại gia đình dân tộc Việt Nam, bao gồm các giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, người trong nước và người định cư ở nước ngoài…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, tr.74-75). Kế thừa và phát triển quan điểm của Đại hội lần thứ VI, Đại hội lần thứ VIII của Đảng khẳng định: “Chính những ý kiến, nguyện vọng và sáng kiến của nhân dân là nguồn gốc hình thành đường lối đổi mới của Đảng. Cũng do nhân dân hưởng ứng đường lối đổi mới, dũng cảm phấn đấu, vượt qua biết bao khó khăn, thử thách mà công cuộc đổi mới đạt được những thành tựu hôm nay” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2015, tr.360). Đại hội lần thứ IX của Đảng nhấn mạnh: “Động lực chủ yếu để phát triển đất nước là đại đoàn kết toàn dân trên cơ sở liên minh giữa công nhân với nông dân và trí thức do Đảng lãnh đạo, kết hợp hài hòa các lợi ích cá nhân, tập thể và xã hội, phát huy mọi tiềm năng và nguồn lực của các thành phần kinh tế, của toàn xã hội” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2001, tr.23). Để tiếp tục phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc, Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 12/3/2003 “về phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” (Ban Chấp hành Trung ương Đảng, 2003).
Cụm từ “đại đoàn kết toàn dân” được bổ sung, phát triển thành “đại đoàn kết toàn dân tộc”. Nội hàm đại đoàn kết toàn dân tộc được mở rộng bao gồm đoàn kết Nhân dân trong nước và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài.
Tiếp tục kế thừa và phát triển quan điểm của các kỳ đại hội trước, Đại hội lần thứ X của Đảng xác định phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc “là nguồn sức mạnh, động lực chủ yếu và là nhân tố có ý nghĩa quyết định bảo đảm thắng lợi bền vững của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2006b, tr.116). Đại hội lần thứ XI của Đảng nhấn mạnh một trong những cơ sở quan trọng để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc: “Đại đoàn kết toàn dân tộc phải dựa trên cơ sở giải quyết hài hòa quan hệ lợi ích giữa các thành viên trong xã hội. Đoàn kết trong Đảng là hạt nhân, là cơ sở vững chắc để xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.240). Đại hội lần thứ XII của Đảng tiếp tục khẳng định nền tảng của khối đại đoàn kết toàn dân tộc là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức: “Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam, là động lực và nguồn lực to lớn trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức do Đảng lãnh đạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.158). Đại hội lần thứ XIII của Đảng tiếp tục phát triển nhận thức đó khi gắn phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc với khơi dậy khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc, phát huy ý chí tự cường dân tộc và sức sáng tạo của Nhân dân: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2021, tr.110).
Từ thực tiễn và yêu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới, Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định “phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân. Tăng cường củng cố và phát huy hiệu quả sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.237). So với Đại hội lần thứ XIII và Nghị quyết số 43-NQ/TW, điểm mới nổi bật của Đại hội lần thứ XIV không chỉ là tiếp tục khẳng định vị trí chiến lược của đại đoàn kết toàn dân tộc, mà còn gắn chặt đại đoàn kết với phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, xây dựng đồng thuận xã hội, khơi thông nguồn lực phát triển và tăng cường sức mạnh nội sinh quốc gia. Điều này được thể hiện trên những phương diện sau:
Thứ nhất, nhấn mạnh hơn vai trò chủ thể của Nhân dân trong phát triển đất nước. Nếu Đại hội lần thứ XIII xác định Nhân dân là trung tâm, chủ thể của công cuộc đổi mới thì Đại hội lần thứ XIV tiếp tục phát triển nhận thức đó theo hướng đề cao vai trò chủ động tham gia, kiến tạo, giám sát và thụ hưởng thành quả phát triển của Nhân dân. Đây là bước phát triển quan trọng trong nhận thức của Đảng về mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý và Nhân dân làm chủ.
Thứ hai, khẳng định đại đoàn kết toàn dân tộc là nguồn lực nội sinh của phát triển. Bên cạnh việc khẳng định đại đoàn kết là nguồn sức mạnh và động lực của cách mạng, Đại hội lần thứ XIV đặt vấn đề phát huy sức mạnh đại đoàn kết trong mối quan hệ với yêu cầu khơi thông mọi nguồn lực, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, phát huy trí tuệ, tinh thần cống hiến và trách nhiệm xã hội của các giai cấp, tầng lớp nhân dân nhằm thực hiện các mục tiêu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.
Thứ ba, đề cao yêu cầu xây dựng đồng thuận xã hội trên cơ sở hài hòa lợi ích. Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi số và hội nhập quốc tế sâu rộng, Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu bảo đảm hài hòa lợi ích giữa các chủ thể, tăng cường đối thoại xã hội và củng cố niềm tin của Nhân dân đối với Đảng, Nhà nước; qua đó tạo nền tảng chính trị – xã hội vững chắc cho phát triển bền vững.
Thứ tư, mở rộng nội hàm phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc gắn với yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đại hội lần thứ XIV của Đảng yêu cầu phát huy mạnh mẽ tiềm năng, trí tuệ và sức sáng tạo của Nhân dân, đội ngũ trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, chức sắc tôn giáo và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài; coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực quan trọng nhất của sự phát triển.
3.2. Kết quả, hạn chế và nguyên nhân trong phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc
Thời gian qua, với sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt sau khi Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành Nghị quyết số 43-NQ/TW “về tiếp tục phát huy truyền thống, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, xây dựng đất nước ta ngày càng phồn vinh, hạnh phúc”, việc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc đã đạt được nhiều kết quả quan trọng.
Thứ nhất, nhận thức và thể chế về đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được hoàn thiện
Quan điểm đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, nguồn sức mạnh và động lực quan trọng của sự phát triển đất nước được quán triệt ngày càng sâu rộng trong toàn hệ thống chính trị. “Dân chủ cơ sở, dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện được đẩy mạnh, chất lượng giám sát, phản biện xã hội được nâng cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.60).
Cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, Nhân dân làm chủ” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.142) từng bước được thể chế hóa thông qua các quy định, quy chế và Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022, qua đó, tạo điều kiện để người dân tham gia sâu hơn vào đời sống chính trị – xã hội (Quốc hội, 2022).
Thứ hai, nền tảng kinh tế – xã hội của khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục được củng cố
Các chương trình giảm nghèo bền vững, xây dựng nông thôn mới và phát triển vùng đồng bào dân tộc thiểu số đạt được nhiều kết quả tích cực. Trong giai đoạn 2021 – 2025, tỉ lệ hộ nghèo đa chiều giảm từ 4,4% năm 2021 xuống còn 1,3% năm 2025 (PV, 2025). Hệ thống an sinh xã hội tiếp tục được mở rộng; đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân từng bước được cải thiện với tinh thần “không để ai bị bỏ lại phía sau” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.109). Những kết quả đó góp phần củng cố niềm tin xã hội và tạo cơ sở quan trọng cho việc tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Thứ ba, dân chủ xã hội chủ nghĩa được mở rộng; vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội tiếp tục được phát huy
Công tác giám sát, phản biện xã hội và đối thoại với Nhân dân từng bước đi vào thực chất; nhiều phong trào thi đua yêu nước và cuộc vận động lớn thu hút sự tham gia rộng rãi của các tầng lớp nhân dân. Chỉ số hài lòng của người dân đối với sự phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước năm 2025 đạt 83,09% (Đức Nam, 2026). Kết quả này phản ánh mức độ hài lòng khá cao của người dân đối với hoạt động phục vụ của các cơ quan hành chính nhà nước, đồng thời cho thấy những kết quả tích cực trong cải cách hành chính và nâng cao chất lượng phục vụ Nhân dân. Qua đó, khối đại đoàn kết toàn dân tộc tiếp tục phát huy vai trò nền tảng trong giữ vững ổn định chính trị – xã hội và phát triển đất nước.
Bên cạnh những kết quả đạt được, việc xây dựng và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn một số hạn chế. Việc giải quyết hài hòa các quan hệ lợi ích trong xã hội có mặt chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn; vẫn còn khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền và sự chênh lệch trong khả năng tiếp cận các nguồn lực phát triển. Quyền làm chủ của Nhân dân ở một số nơi chưa được phát huy đầy đủ; việc thực hiện dân chủ ở cơ sở có lúc còn hình thức; cơ chế tiếp nhận, phản hồi và giải quyết kiến nghị của người dân chưa thật sự hiệu quả. Nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội ở một số nơi chậm được đổi mới; việc tập hợp, vận động các nhóm xã hội mới trong môi trường số còn gặp nhiều khó khăn; chất lượng giám sát, phản biện xã hội chưa đồng đều. Một số cán bộ, đảng viên chưa thật sự gần dân, trọng dân, hiểu dân; tình trạng quan liêu, thiếu trách nhiệm ở một số nơi làm ảnh hưởng đến niềm tin của Nhân dân đối với hệ thống chính trị. Công tác nghiên cứu, dự báo những biến đổi của cơ cấu xã hội, tâm lý xã hội và các vấn đề nảy sinh trong quá trình chuyển đổi số, hội nhập quốc tế chưa theo kịp yêu cầu thực tiễn.
Những hạn chế trong xây dựng và phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc xuất phát từ nhiều nguyên nhân. Quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chuyển đổi số và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư làm cho cơ cấu xã hội, lợi ích và nhu cầu của các nhóm xã hội ngày càng đa dạng, phức tạp. Các thế lực thù địch tiếp tục lợi dụng những vấn đề dân chủ, nhân quyền, dân tộc, tôn giáo và những hạn chế trong quản lý xã hội để chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa nhận thức đầy đủ về yêu cầu đổi mới công tác xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong điều kiện mới; việc cụ thể hóa và tổ chức thực hiện một số chủ trương còn chậm. Công tác nghiên cứu, dự báo những biến đổi của cơ cấu xã hội chưa theo kịp thực tiễn.
Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội ở một số nơi chậm được đổi mới; cơ chế đối thoại, tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của Nhân dân có lúc, có nơi chưa hiệu quả. Đặc biệt, một số cán bộ, đảng viên chưa thật sự gần dân, trọng dân, hiểu dân, làm ảnh hưởng đến niềm tin xã hội và hiệu quả xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Những hạn chế và nguyên nhân trên cho thấy yêu cầu cấp thiết phải tiếp tục phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân, hoàn thiện thể chế, củng cố đồng thuận xã hội và khơi thông mọi nguồn lực phát triển theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
3.3. Giải pháp phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Thứ nhất, phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, xây dựng đồng thuận xã hội trên cơ sở thống nhất trong đa dạng
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định “phát huy mạnh mẽ vai trò chủ thể của Nhân dân, dân chủ xã hội chủ nghĩa, sức mạnh của Nhân dân và khối đại đoàn kết toàn dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.382). Đây là một trong những định hướng chiến lược của sự phát triển đất nước trong giai đoạn mới, thể hiện sự kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm nhất quán của Đảng về vị trí trung tâm của Nhân dân, phản ánh yêu cầu khách quan của quá trình phát triển trong điều kiện xã hội ngày càng đa dạng về cơ cấu, lợi ích và nhu cầu. Vì vậy, cần tiếp tục hoàn thiện các thiết chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân. Trọng tâm là mở rộng các hình thức tham gia của người dân vào quá trình xây dựng và thực thi chính sách; nâng cao chất lượng đối thoại xã hội; phát huy quyền làm chủ của Nhân dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội. Xây dựng cơ chế tiếp nhận, phản hồi và giải trình đối với ý kiến, kiến nghị của Nhân dân; coi mức độ hài lòng, mức độ tham gia và mức độ đồng thuận xã hội là những tiêu chí quan trọng để đánh giá hiệu quả quản trị của các cấp chính quyền.
Đại đoàn kết toàn dân tộc phải được xây dựng trên nguyên tắc tôn trọng những khác biệt chính đáng, hài hòa lợi ích và thống nhất ở mục tiêu chung vì sự phát triển của đất nước. Đây là nền tảng để chuyển hóa ý chí, trí tuệ và sức sáng tạo của Nhân dân thành nguồn lực phát triển.
Thứ hai, hoàn thiện thể chế phát triển, bảo đảm hài hòa lợi ích và công bằng xã hội – nền tảng vật chất của khối đại đoàn kết toàn dân tộc
Thực tiễn cho thấy, nơi nào lợi ích chính đáng của Nhân dân được bảo đảm, nơi đó niềm tin xã hội được củng cố và khối đại đoàn kết được tăng cường. Ngược lại, những bất cập trong phân phối lợi ích, khoảng cách phát triển và bất bình đẳng xã hội có thể làm ảnh hưởng đến xây dựng đồng thuận xã hội. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng, bảo đảm tăng trưởng kinh tế đi đôi với tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển con người. Xây dựng cơ chế phân bổ nguồn lực hợp lý giữa các vùng, miền; ưu tiên đầu tư cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, biên giới, hải đảo; nâng cao chất lượng các dịch vụ công thiết yếu; mở rộng khả năng tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và an sinh xã hội của các nhóm người dễ bị tổn thương.
Thứ ba, đẩy mạnh thực hành dân chủ gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương và trách nhiệm giải trình
Cần thể chế hóa đầy đủ và thực hiện hiệu quả phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Xây dựng hệ thống tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị của người dân trên nền tảng số. Tăng cường đối thoại định kỳ giữa người đứng đầu cấp ủy, chính quyền với Nhân dân; công khai tiến độ và kết quả giải quyết những vấn đề được Nhân dân quan tâm.
Tăng cường kỷ luật, kỷ cương, bảo đảm mọi hoạt động của Nhà nước được thực hiện trong khuôn khổ Hiến pháp và pháp luật. Thực hành dân chủ xã hội chủ nghĩa chỉ thật sự có ý nghĩa khi gắn với trách nhiệm giải trình, kiểm soát quyền lực và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đây là điều kiện quan trọng để củng cố niềm tin của Nhân dân, tăng cường đồng thuận xã hội và giữ vững ổn định chính trị – xã hội.
Thứ tư, đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội trên môi trường số
Trên cơ sở quán triệt tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng và Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc Mặt trận Tổ quốc Việt Nam lần thứ XI, nhiệm kỳ 2026 – 2031, cần chuyển mạnh từ phương thức hành chính sang phương thức kết nối, đồng hành, phục vụ và kiến tạo sự tham gia xã hội (Ủy ban Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 2026). Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội phải thật sự trở thành cầu nối tin cậy giữa Đảng, Nhà nước với Nhân dân; chủ động nắm bắt dư luận xã hội, phản ánh đầy đủ, trung thực tâm tư, nguyện vọng của Nhân dân; nâng cao chất lượng giám sát và phản biện xã hội. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong công tác dân vận, xây dựng các nền tảng tương tác trực tuyến nhằm mở rộng không gian đại đoàn kết toàn dân tộc trong thời đại số.
Thứ năm, khơi dậy mạnh mẽ khát vọng cống hiến, phát huy nguồn lực của đội ngũ trí thức, doanh nhân và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài
Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, nguồn lực quyết định sức mạnh quốc gia không chỉ là tài nguyên thiên nhiên hay vốn đầu tư mà còn là nguồn lực con người, tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Vì vậy, phát huy vai trò của đội ngũ trí thức, doanh nhân, văn nghệ sĩ, nhà khoa học và cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài phải được xem là nội dung quan trọng của chiến lược đại đoàn kết toàn dân tộc. Cần xây dựng cơ chế để các lực lượng này tham gia sâu hơn vào quá trình hoạch định chính sách, phản biện xã hội, nghiên cứu khoa học, đổi mới sáng tạo và phát triển kinh tế. Đồng thời, cần hoàn thiện môi trường đầu tư, kinh doanh minh bạch, thuận lợi; tạo điều kiện để doanh nhân phát huy vai trò tiên phong trong phát triển lực lượng sản xuất hiện đại; khuyến khích đội ngũ trí thức đóng góp trí tuệ cho sự nghiệp phát triển đất nước. Đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài, cần tiếp tục triển khai hiệu quả các chính sách thu hút nguồn lực tri thức, tài chính và công nghệ; xây dựng cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài ngày càng gắn bó với quê hương, đất nước. Đây là sự mở rộng không gian đại đoàn kết toàn dân tộc từ phạm vi lãnh thổ quốc gia ra phạm vi toàn cầu, phù hợp với yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế của đất nước trong giai đoạn mới
4. Kết luận
Đại đoàn kết toàn dân tộc là đường lối chiến lược, nguồn sức mạnh nội sinh và nhân tố có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp xây dựng, bảo vệ Tổ quốc. Đại hội lần thứ XIV của Đảng đã phát triển nhận thức về đại đoàn kết toàn dân tộc theo hướng đề cao vai trò chủ thể của Nhân dân, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, tăng cường đồng thuận xã hội và chuyển hóa sức mạnh đoàn kết thành nguồn lực, động lực quan trọng của sự phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vẫn còn những hạn chế liên quan đến bảo đảm hài hòa lợi ích, thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân, đổi mới phương thức vận động quần chúng và thích ứng với những biến đổi của cơ cấu xã hội trong bối cảnh mới. Trong bối cảnh mới, phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc vừa bảo đảm sự ổn định chính trị – xã hội, vừa tạo động lực nội sinh quan trọng để hiện thực hóa mục tiêu phát triển nhanh, bền vững và khát vọng xây dựng đất nước phồn vinh, hạnh phúc trong kỷ nguyên phát triển mới./.
Ngày nhận bài:04/5/2026; Ngày thẩm định: 06/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email liên hệ: [email protected]
——————————————
(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)
