TS. BÙI KIM THANH
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
ThS. NGUYỄN THỊ LINH HƯƠNG
Viện Nghiên cứu Chính sách và Chiến lược
Tóm tắt: Phát triển kinh tế tư nhân là một trong những chủ trương quan trọng, có tính đột phá của Đảng Cộng sản Việt Nam. Qua 40 năm đổi mới, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân từng bước được bổ sung và phát triển. Điều này xuất phát từ yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước, phản ánh sự đổi mới về tư duy lý luận và chính sách kinh tế. Bài viết khái quát quá trình phát triển nhận thức về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân qua 40 năm đổi mới; phân tích những đóng góp của khu vực này đối với tăng trưởng, đầu tư, việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đồng thời chỉ ra một số hạn chế về năng suất lao động, hiệu quả đầu tư, năng lực quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị. Từ đó, đề xuất một số định hướng nhằm hoàn thiện thể chế, nâng cao năng lực cạnh tranh và phát huy vai trò của kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên phát triển mới.
Từ khóa: đổi mới; kinh tế tư nhân; kỷ nguyên mới; năng lực cạnh tranh; thể chế kinh tế
PRIVATE SECTOR DEVELOPMENT IN THE NEW ERA: PERSPECTIVES AND ORIENTATIONS
Abstract: The development of the private sector is one of the important and breakthrough policies of the Communist Party of Viet Nam. Over 40 years of Doi Moi, the Party’s viewpoints on private sector development have been gradually supplemented and developed. This stems from the practical requirements of national development and reflects the innovation in theoretical thinking and economic policies. The article outlines the evolution of awareness regarding the position and role of the private sector over 40 years of Doi Moi; analyzes this sector’s contributions to economic growth, investment, employment, and economic restructuring; and points out a number of limitations concerning labor productivity, investment efficiency, governance capacity, and the ability to participate in value chains. Accordingly, it proposes several orientations to improve the institutional framework, enhance competitiveness, and promote the role of the private sector in the new era of development.
Keywords: Doi Moi reforms; private sector; new era; competitiveness; economic institutions
1. Đặt vấn đề
Sau 40 năm đổi mới (1986 – 2026), khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam đã chuyển từ vị thế chưa được thừa nhận đầy đủ trở thành một trong những động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân được thể hiện rõ qua các kỳ đại hội. Năm 2026 đánh dấu 40 năm thực hiện công cuộc đổi mới. Việc đánh giá đầy đủ vai trò, những đóng góp và các hạn chế của khu vực kinh tế tư nhân có ý nghĩa quan trọng cả về lý luận và thực tiễn, góp phần xác định những định hướng phát triển phù hợp trong kỷ nguyên mới.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng phương pháp tổng hợp, thống kê, phân tích và so sánh nhằm làm rõ quá trình hoàn thiện tư duy và thể chế đối với khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam, đồng thời đối chiếu các chủ trương với thực tiễn phát triển; đánh giá đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân đối với tổng sản phẩm trong nước, đầu tư xã hội, việc làm và chuyển dịch cơ cấu kinh tế; chỉ ra một số hạn chế về năng suất lao động, hiệu quả đầu tư và năng lực cạnh tranh. Trên cơ sở đó, bài viết đề xuất một số định hướng, giải pháp phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Quá trình hoàn thiện chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân qua 40 năm đổi mới
Trước thời kỳ đổi mới, đường lối kinh tế của Đảng tập trung xây dựng nền kinh tế quá độ lên chủ nghĩa xã hội với cơ cấu chủ yếu gồm hai bộ phận là kinh tế quốc doanh và kinh tế tập thể, được quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung. Các thành phần kinh tế khác được coi là phi xã hội chủ nghĩa, thuộc diện cải tạo, thu hẹp hoặc xóa bỏ. Vì vậy, phạm trù kinh tế tư nhân chưa được thừa nhận đầy đủ về lý luận và thực tiễn.
Bước ngoặt cơ bản trong tư duy kinh tế của Đảng được thể hiện tại Đại hội lần thứ VI của Đảng (năm 1986). Đại hội lần đầu tiên đã thừa nhận sự tồn tại của nhiều thành phần kinh tế. Trong đó, các thành phần kinh tế xã hội chủ nghĩa gồm kinh tế quốc doanh, kinh tế tập thể và bộ phận kinh tế gia đình gắn với kinh tế tập thể; các thành phần kinh tế khác gồm tiểu sản xuất hàng hóa, kinh tế tư bản tư nhân, kinh tế tư bản nhà nước và kinh tế tự nhiên, tự cấp, tự túc. Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 15/7/1988 của Bộ Chính trị “về đổi mới chính sách và cơ chế quản lý đối với các cơ sở sản xuất thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh” và Nghị quyết số 06-NQ/HNTW ngày 29/3/1989 của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VI “về kiểm điểm hai năm thực hiện Nghị quyết Đại hội VI và phương hướng, nhiệm vụ ba năm tới” tiếp tục khẳng định đường lối đổi mới, nhất quán thực hiện chính sách kinh tế nhiều thành phần, cho phép kinh tế tư nhân phát triển trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 05/4/1988 của Bộ Chính trị “về đổi mới quản lý nông nghiệp” xác định hộ nông dân là đơn vị kinh tế tự chủ, đổi mới cơ bản cơ chế quản lý hợp tác xã nông nghiệp, qua đó tạo động lực cho kinh tế hộ gia đình và kinh tế tư nhân trong nông nghiệp phục hồi, phát triển. Đây là bước khởi đầu mang tính đột phá, mở đường cho sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân trong những giai đoạn tiếp theo.
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội năm 1991 khẳng định: “Phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2007, tr.137). Tại Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (năm 1992), Đảng xác định: “Bổ sung, sửa đổi thể chế nhằm bảo đảm cho kinh tế tư nhân được phát huy không hạn chế về quy mô và địa bàn hoạt động trong những lĩnh vực mà pháp luật không cấm; được tự do lựa chọn hình thức kinh doanh, kể cả liên doanh với nước ngoài theo những điều kiện do luật định” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 1993, tr.75). Đây được coi là dấu mốc quan trọng trong quá trình phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, thể hiện sự chuyển biến từ thừa nhận sự tồn tại sang coi trọng và khuyến khích phát triển.
Tại Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX (tháng 3/2002), lần đầu tiên Đảng ban hành nghị quyết chuyên đề về phát triển kinh tế tư nhân, Nghị quyết số 14-NQ/TW ngày 18/3/2002 “về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách, khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân”. Nghị quyết khẳng định: “Kinh tế tư nhân là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế quốc dân. Phát triển kinh tế tư nhân là vấn đề chiến lược lâu dài trong phát triển kinh tế nhiều thành phần định hướng xã hội chủ nghĩa” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2002, tr.57-58). Đây là bước tiến quan trọng về tư duy lý luận và quan điểm, đường lối kinh tế của Đảng, thể hiện tính nhất quán của đường lối đổi mới theo hướng phát triển kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế, tạo động lực để kinh tế tư nhân phát triển.
Tại Đại hội lần thứ XI, Đảng xác định phải “hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.101). Với nhận định này, vị trí, vai trò của kinh tế tư nhân được nhìn nhận khách quan và đầy đủ hơn, tạo cơ sở để tiếp tục xây dựng, hoàn thiện thể chế, cơ chế và chính sách phát triển khu vực kinh tế tư nhân. Ngày 09/12/2011, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 09-NQ/TW “về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế”. Nghị quyết nhấn mạnh vị trí, vai trò của đội ngũ doanh nhân trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, đặc biệt trong bối cảnh đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Đại hội lần thứ XII của Đảng đánh dấu bước phát triển quan trọng trong quan điểm của Đảng về kinh tế tư nhân, khẳng định: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2016, tr.25). Để cụ thể hóa chủ trương này, Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 03/6/2017 “về phát triển kinh tế tư nhân trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”. Nghị quyết khẳng định kinh tế tư nhân được phát triển trong tất cả các ngành, lĩnh vực mà pháp luật không cấm và được đối xử bình đẳng trong tiếp cận nguồn lực, cơ hội thị trường. Trọng tâm chính sách được chuyển từ thừa nhận sang kiến tạo phát triển.
Về quản trị phát triển, Nghị quyết số 10-NQ/TW xác định nhiệm vụ của Nhà nước theo hướng kiến tạo: bảo vệ quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh; cải cách hành chính; phát triển đồng bộ các loại thị trường; khuyến khích khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa; tạo điều kiện để hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp khi đáp ứng đủ điều kiện.
Đại hội lần thứ XIII của Đảng chủ trương phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân về số lượng, chất lượng, hiệu quả và tính bền vững, thực sự trở thành một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế. Đại hội yêu cầu xóa bỏ rào cản, định kiến; tạo điều kiện thuận lợi cho kinh tế tư nhân; hỗ trợ đổi mới sáng tạo, hiện đại hóa công nghệ, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng suất lao động; khuyến khích hình thành những tập đoàn kinh tế tư nhân lớn, có tiềm lực và khả năng cạnh tranh ở khu vực, quốc tế. Bộ Chính trị khóa XIII ban hành Nghị quyết số 41-NQ/TW ngày 10/10/2023 “về xây dựng và phát huy vai trò của đội ngũ doanh nhân Việt Nam trong thời kỳ mới”. Đặc biệt, ngày 04/5/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 68-NQ/TW “về phát triển kinh tế tư nhân”. Nghị quyết xác định “kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia” (Bộ Chính trị, 2025). Trước đây, kinh tế tư nhân được Đảng coi là “một trong những động lực” hoặc “một động lực quan trọng”. Quan điểm này thể hiện sự đổi mới tư duy sâu sắc về vị trí, vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, đồng thời khẳng định cam kết lâu dài của Đảng và Nhà nước trong việc tạo điều kiện thuận lợi, công bằng, minh bạch để khu vực này phát triển.
Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục đánh dấu sự chuyển biến căn bản trong nhận thức và chính sách phát triển kinh tế tư nhân. Lần đầu tiên Đảng xác định “Phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.385). Đây là bước phát triển mang tính đột phá trong tư duy lý luận và cải cách thể chế, thể hiện sự chuyển biến trong tư duy quản trị, từ quản lý hành chính sang kiến tạo và phục vụ, hướng tới thiết lập môi trường kinh doanh thông thoáng, minh bạch và bình đẳng.
3.2. Thực trạng và thách thức trong phát triển kinh tế tư nhân
Với những bước đổi mới về lý luận và sự hoàn thiện về đường lối, cơ chế, chính sách, khu vực kinh tế tư nhân đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp quan trọng vào sự phát triển chung của nền kinh tế.
Tính đến cuối năm 2025, khu vực kinh tế tư nhân có hơn 940 nghìn doanh nghiệp và hơn 5 triệu hộ kinh doanh đang hoạt động, đóng góp khoảng 50% GDP, hơn 30% tổng thu ngân sách nhà nước và sử dụng khoảng 82% lực lượng lao động (Bộ Chính trị, 2025). Sự hiện diện của khu vực ngoài nhà nước trong nền kinh tế được thể hiện rõ qua tỉ trọng đóng góp vào GDP, tổng vốn đầu tư toàn xã hội và lao động có việc làm trong giai đoạn 2013 – 2024 (xem Bảng 1). Xét về tỉ trọng đóng góp vào GDP, mức đóng góp của khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cao hơn tỉ trọng đóng góp của khu vực doanh nghiệp nhỏ và vừa tại Malaysia, khoảng 38% – 39% (SME Corporation Malaysia, 2023) và Philippines, khoảng 36% (Philippine Statistics Authority, 2022). Nhiều doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đã phát triển mạnh, hình thành các tập đoàn kinh tế, xây dựng thương hiệu có uy tín trong nước và quốc tế, như Vingroup, Hòa Phát, THACO, Masan, FPT, Thế giới Di động, Techcombank, VPBank và Tập đoàn Thành Công.
So sánh quốc tế cho thấy, khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam có quy mô đóng góp tương đối lớn trong nền kinh tế. Năm 2024, khu vực doanh nghiệp ngoài nhà nước đã vượt khu vực doanh nghiệp nhà nước và khu vực có vốn đầu tư nước ngoài về thu nhập bình quân của người lao động. Thu nhập bình quân của lao động làm công hưởng lương trong doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt khoảng 10,5 triệu đồng/người/tháng, trong khi mức thu nhập tại doanh nghiệp nhà nước là 9,3 triệu đồng/người/tháng và tại khu vực có vốn đầu tư nước ngoài là 10 triệu đồng/người/tháng (Chử Thị Lân, 2025).
Bảng 1. Tỉ trọng của khu vực kinh tế ngoài nhà nước trong GDP, đầu tư xã hội và lao động có việc làm, giai đoạn 2013 – 2024 (%)
| Chỉ tiêu | 2013 | 2014 | 2015 | 2016 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 |
| GDP theo giá so sánh | 51 | 51 | 51 | 51 | 51 | 51 | 52 | 52 | 52 | 52 | 52 | 52 |
| Đầu tư toàn xã hội | 47,2 | 49,1 | 50,2 | 51,3 | 53,7 | 56,1 | 58,3 | 57,3 | 59,4 | 58,0 | 56,1 | 55,9 |
| Lao động có việc làm | 85,7 | 85,4 | 85,0 | 84,5 | 83,6 | 83,3 | 83,6 | 83,6 | 82,6 | 82,1 | 81,8 | 81,6 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê, tác giả tổng hợp
Xét về năng suất lao động, trong giai đoạn 2010 – 2024, khu vực kinh tế tư nhân có xu hướng cải thiện, từ mức 64,6 triệu đồng/người năm 2010 tăng lên khoảng 126 triệu đồng/người năm 2024, gần gấp 02 lần (xem Bảng 2). Tuy nhiên, khi xét các chỉ tiêu phản ánh chất lượng tăng trưởng, khoảng cách giữa Việt Nam và các quốc gia phát triển hơn trong ASEAN vẫn còn khá lớn. Năng suất lao động của Việt Nam chỉ bằng khoảng 60% mức của Thái Lan, 40% của Malaysia và chưa bằng 1/10 mức của Singapore (NVT, 2026). Điều này phản ánh những hạn chế mang tính cơ cấu của nền kinh tế nói chung và khu vực kinh tế tư nhân nói riêng về trình độ công nghệ, năng lực quản trị doanh nghiệp và chất lượng nguồn nhân lực.
Hiệu quả đầu tư được xem xét thông qua hệ số gia tăng vốn – sản lượng (ICOR). Hệ số ICOR thể hiện số đơn vị vốn đầu tư cần thiết để tạo ra một đơn vị tăng thêm của GDP; hệ số càng cao thì hiệu quả đầu tư càng thấp. Kết quả tính toán cho thấy hệ số ICOR của khu vực ngoài nhà nước trong giai đoạn 2010 – 2015 tương đương khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nhưng đến giai đoạn 2016 – 2021 tăng lên 9,4, phản ánh sự suy giảm về hiệu quả đầu tư của khu vực này (Bùi Trinh, 2022) (xem Biểu đồ).
Đáng chú ý, khu vực kinh tế tư nhân trong nước chủ yếu tham gia vào các công đoạn gia công, lắp ráp; mức độ nội địa hóa và liên kết với chuỗi giá trị trong nước, khu vực và toàn cầu còn hạn chế. Vì vậy, thách thức cốt lõi của kinh tế tư nhân Việt Nam hiện nay không chỉ nằm ở quy mô, mà còn ở yêu cầu nâng cao năng suất, chất lượng tăng trưởng và giá trị gia tăng nội địa.
Nghị quyết số 68-NQ/TW của Bộ Chính trị chỉ rõ, mặc dù có nhiều đóng góp quan trọng, khu vực kinh tế tư nhân vẫn tồn tại những hạn chế, chưa phát huy đầy đủ tiềm năng, nội lực và chưa đóng góp tương xứng cho nền kinh tế quốc gia. Phần lớn doanh nghiệp tư nhân có quy mô nhỏ, siêu nhỏ; sức cạnh tranh, hiệu quả hoạt động, năng suất lao động và năng lực quản trị hạn chế; tỉ lệ doanh nghiệp tư nhân tham gia chuỗi cung ứng của doanh nghiệp FDI còn thấp. Khả năng tiếp cận các nguồn lực, nhất là tài chính, tín dụng, đất đai và nhân lực chất lượng cao, còn nhiều khó khăn. Một bộ phận doanh nghiệp chưa nghiêm túc tuân thủ pháp luật, thiếu minh bạch thông tin và tầm nhìn chiến lược; đạo đức, văn hóa kinh doanh còn hạn chế, biểu hiện ở tình trạng cạnh tranh không lành mạnh, sản xuất hàng giả, hàng nhái, hàng kém chất lượng và vi phạm hợp đồng. Một số doanh nghiệp còn có hành vi buôn lậu, trốn thuế, thao túng thị trường, găm hàng hoặc đẩy giá (Bộ Chính trị, 2025).
Bảng 2: Năng suất lao động của khu vực kinh tế ngoài nhà nước
| Chỉ tiêu | 2010 | 2015 | 2017 | 2018 | 2019 | 2020 | 2021 | 2022 | 2023 | 2024 |
| Năng suất lao động của khu vực ngoài nhà nước (triệu đồng/người) | 64,6 | 81,9 | 93,9 | 100,2 | 106,5 | 111,7 | 126,6 | 134,1 | 139,4 | 126,0 |
| Tốc độ tăng năng suất lao động chung (%) | 31 | 7 | 6 | 6 | 7 | 5 | 12 | 5 | 4 | 5,88 |
| Tốc độ tăng năng suất lao động khu vực ngoài nhà nước (%) | 31 | 7 | 7 | 7 | 6 | 5 | 13 | 6 | 4 | 4 |
Nguồn: Tổng cục Thống kê, tác giả tổng hợp
3.3. Đưa kinh tế tư nhân vươn tầm trong kỷ nguyên mới
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định: “Đẩy mạnh phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa…; phát triển kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế; xác lập mô hình tăng trưởng mới, cơ cấu lại nền kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính gắn với bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.385). Để khu vực kinh tế tư nhân thực hiện được sứ mệnh và hiện thực hóa tầm nhìn phát triển trong kỷ nguyên mới, cần tập trung vào một số giải pháp trọng yếu sau:
Thứ nhất, tiếp tục hoàn thiện thể chế phát triển kinh tế tư nhân
Cần cụ thể hóa và thể chế hóa đầy đủ các chủ trương của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng, Nghị quyết số 68-NQ/TW và các nghị quyết chiến lược khác của Trung ương Đảng, Bộ Chính trị. Hệ thống pháp luật về phát triển kinh tế tư nhân cần được hoàn thiện theo hướng minh bạch, ổn định, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh và bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Yêu cầu cấp bách là rút ngắn thời gian từ xây dựng chính sách, pháp luật đến tổ chức thực hiện; bảo đảm các quy định sớm đi vào cuộc sống và gắn với kỷ luật thực thi nghiêm minh.
Phát biểu kết luận Phiên họp quý I/2026 của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật, Tổng Bí thư Tô Lâm nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục đổi mới tư duy xây dựng và thực thi pháp luật. Thể chế không chỉ là công cụ quản lý mà phải trở thành nền tảng kiến tạo phát triển; nuôi dưỡng, khuyến khích tinh thần kinh doanh, đổi mới sáng tạo của người dân và doanh nghiệp; bảo đảm quyền sở hữu tài sản, quyền tự do kinh doanh trong các ngành, nghề mà pháp luật không cấm; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp, doanh nhân; bảo đảm khu vực kinh tế tư nhân cạnh tranh bình đẳng trong tiếp cận cơ hội kinh doanh và các nguồn lực của nền kinh tế, nhất là vốn, đất đai, công nghệ, nhân lực và dữ liệu (Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật, 2026).
Ở tầm vĩ mô, Nhà nước cần triển khai đồng bộ 8 nhóm nhiệm vụ được xác định trong Nghị quyết số 68-NQ/TW, trong đó chú trọng hoàn thiện thể chế, tạo điều kiện thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận đất đai, vốn và nhân lực chất lượng cao; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh; hình thành, phát triển nhanh các doanh nghiệp vừa, doanh nghiệp lớn và các tập đoàn kinh tế tư nhân có tầm vóc quốc gia, quốc tế.
Cần có chính sách khuyến khích doanh nghiệp tư nhân Việt Nam đầu tư vào các ngành, lĩnh vực chiến lược, có vai trò động lực đối với sự phát triển đất nước và khả năng lan tỏa sang những lĩnh vực khác; ưu tiên các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, mở rộng chính sách hỗ trợ đối với doanh nghiệp tạo nhiều việc làm; xây dựng cơ chế khuyến khích các cơ sở nghiên cứu khoa học, cơ sở đào tạo liên kết với doanh nghiệp trong đào tạo nguồn nhân lực và chuyển giao công nghệ mới. Với hơn 98% doanh nghiệp thuộc nhóm nhỏ và siêu nhỏ, phần lớn nguồn lực của doanh nghiệp phải dành cho hoạt động thường xuyên và duy trì dòng tiền, làm hạn chế khả năng đầu tư cho công nghệ hoặc nghiên cứu và phát triển (R&D). Điều này ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và năng lực cạnh tranh. Vì vậy, chính sách giảm chi phí tiếp cận công nghệ, mở rộng khả năng tiếp cận vốn và tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư đổi mới công nghệ cần được quan tâm.
Tăng cường hiệu quả giám sát, kiểm tra và trách nhiệm giải trình của chính quyền địa phương các cấp trong việc chấp hành chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước về phát triển kinh tế tư nhân. Hoạt động kiểm tra, giám sát phải bảo đảm các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế được tự do kinh doanh hợp pháp, kịp thời phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm. Cơ chế đối thoại giữa cơ quan quản lý nhà nước với doanh nghiệp cần được tổ chức thường xuyên, thực chất và hiệu quả nhằm nắm bắt, xử lý kịp thời những khó khăn, vướng mắc. Qua đó, cơ chế, chính sách có thể đi vào thực tiễn nhanh hơn, minh bạch hơn; củng cố lòng tin và thúc đẩy đầu tư của khu vực kinh tế tư nhân.
Thứ hai, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp tư nhân
Để phát triển bền vững, doanh nghiệp cần xây dựng tư duy chiến lược dài hạn, nâng cao năng lực quản trị và hình thành văn hóa tuân thủ pháp luật. Cùng với cải cách thể chế, doanh nghiệp cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, năng lực quản trị, trình độ công nghệ, khả năng đổi mới sáng tạo và đạo đức kinh doanh. Doanh nghiệp cần chú trọng chuẩn hóa hệ thống kế toán, báo cáo tài chính và quản trị dữ liệu; chủ động ứng dụng công nghệ số; đầu tư cho nghiên cứu, phát triển sản phẩm; xây dựng thương hiệu; nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn về chất lượng, môi trường, lao động và trách nhiệm xã hội. Đây là những điều kiện quan trọng để doanh nghiệp tư nhân tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng trong nước, khu vực và toàn cầu.
4. Kết luận
Qua 40 năm đổi mới, quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân ngày càng được bổ sung và hoàn thiện: từ chỗ coi kinh tế tư nhân là đối tượng cần cải tạo đến việc thừa nhận đây là một bộ phận cấu thành quan trọng, một động lực quan trọng và hiện nay là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế quốc gia. Đây là minh chứng cho bản lĩnh, sự nhạy bén và năng lực lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam trong thời kỳ đổi mới. Để khu vực kinh tế tư nhân thực sự vươn tầm trong kỷ nguyên mới, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế, bảo đảm quyền tài sản và quyền tự do kinh doanh; tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng; nâng cao khả năng tiếp cận nguồn lực; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; đồng thời, nâng cao năng lực quản trị, văn hóa kinh doanh và trách nhiệm xã hội của cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ doanh nhân./.
————————————————
Ngày nhận bài: 05/5/2026; Ngày thẩm định: 07/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật (2026). Thông báo số 15-TB/BCĐTW ngày 17/3/2026 về kết luận của Tổng Bí thư Tô Lâm tại Phiên họp quý I/2026 của Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật.
Bộ Chính trị (2025). Nghị quyết số 68-NQ/TW ngày 04/5/2025 “về phát triển kinh tế tư nhân”.
Bùi Trinh (04/11/2022). Hiệu quả đầu tư của các khu vực kinh tế nhà nước thấp nhất. Kinh tế Sài Gòn Online. https://thesaigontimes.vn.
Chử Thị Lân (16/10/2025). Lao động, việc làm trong khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam. Viện khoa học Tổ chức nhà nước và Lao động. https://isos.gov.vn.
Đảng Cộng sản Việt Nam (1993). Văn kiện Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương khóa VII, Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2002). Văn kiện Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khóa IX. Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2007). Văn kiện Đảng toàn tập (Tập 51). Nxb Chính trị quốc gia.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2016). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2021). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
NVT (08/4/2026). Vai trò của tăng năng suất lao động đối với tăng trưởng kinh tế cao và bền vững ở nước ta trong giai đoạn 2026 – 2030. Viện Chiến lược và Chính sách kinh tế – tài chính. https://nief.mof.gov.vn
Philippine Statistics Authority (2022). Contribution of MSMEs to Gross Value Added.
SME Corporation Malaysia (2023). SME Annual Report 2022/2023.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)
