PHÁT HUY SỨC MẠNH VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

PHÁT HUY SỨC MẠNH VĂN HÓA, CON NGƯỜI VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN MỚI

ThS. TRẦN TRUNG TUYẾN
Trường Đào tạo cán bộ Lê Hồng Phong, thành phố Hà Nội

Tóm tắt: Văn hóa và con người ngày càng giữ vai trò quan trọng đối với sức mạnh tổng hợp của quốc gia, nâng cao năng lực cạnh tranh và bảo đảm sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước. Bài viết làm rõ nội hàm sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam; phân tích những kết quả, hạn chế và đề xuất giải pháp phát huy nguồn lực này trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và chuyển đổi số.
Từ khóa: con người Việt Nam; sức mạnh nội sinh; văn hóa Việt Nam
PROMOTING THE STRENGTH OF VIETNAMESE CULTURE AND PEOPLE IN THE NEW PERIOD
Abstract: Culture and people are playing an increasingly important role in strengthening the country’s endogenous capacity, enhancing its competitiveness, and ensuring rapid and sustainable development. This article clarifies the conceptual content of the cultural and human strength of Viet Nam; analyzes the achievements and limitations in mobilizing this resource; and proposes solutions to further promote it in the context of globalization, international integration, and digital transformation.
Keywords: Vietnamese people; endogenous strength; Vietnamese culture

1. Đặt vấn đề
Trong lịch sử dựng nước và giữ nước, văn hóa và con người Việt Nam luôn là cội nguồn sức mạnh, góp phần hình thành bản lĩnh, khí phách, ý chí độc lập, tự cường và khả năng vượt qua khó khăn, thử thách của dân tộc. Văn hóa không chỉ lưu giữ những giá trị được hình thành trong lịch sử, mà còn định hướng nhận thức, điều chỉnh hành vi, gắn kết cộng đồng và thúc đẩy sáng tạo. Con người vừa là chủ thể sáng tạo, thực hành, trao truyền văn hóa, vừa là trung tâm, mục tiêu và động lực của sự phát triển.
Trong giai đoạn mới, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, mục tiêu, động lực và nguồn lực nội sinh của sự phát triển; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện được coi là nhiệm vụ trung tâm của chiến lược phát triển đất nước. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị “về phát triển văn hóa Việt Nam” tiếp tục xác định văn hóa, con người là nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực và hệ điều tiết đối với sự phát triển nhanh, bền vững đất nước (Bộ Chính trị, 2026). Quan điểm của Đảng đã được thể chế hóa qua Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội “về phát triển văn hóa Việt Nam” quy định một số cơ chế, chính sách mới về nguồn lực, thiết chế, đầu tư, tài chính, công nghiệp văn hóa, sáng tạo nghệ thuật và chuyển đổi số. Nghị quyết quy định Nhà nước bảo đảm chi cho văn hóa hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước và tăng dần theo yêu cầu phát triển; đồng thời, tạo cơ sở thành lập quỹ văn hóa, nghệ thuật, hỗ trợ khởi nghiệp sáng tạo và phát triển các không gian, tổ hợp sáng tạo văn hóa (Quốc hội, 2026).
Từ góc độ nghiên cứu, sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam được hiểu là tổng hợp các giá trị, phẩm chất và năng lực được hình thành trong lịch sử, kế thừa và tiếp tục sáng tạo trong đời sống đương đại. Sức mạnh đó bao gồm hệ giá trị và bản sắc văn hóa; tri thức, đạo đức, nhân cách và trách nhiệm xã hội; năng lực sáng tạo, hợp tác và thích ứng; khả năng gắn kết cộng đồng; năng lực chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành nguồn lực kinh tế – xã hội; sức hấp dẫn và uy tín của quốc gia trong quan hệ quốc tế.
Sức mạnh văn hóa và con người có mối quan hệ gắn bó mật thiết. Văn hóa cung cấp hệ giá trị, biểu tượng, chuẩn mực, tri thức và môi trường hình thành con người. Con người là chủ thể tiếp nhận, thực hành, sáng tạo, trao truyền và làm giàu các giá trị văn hóa. Sức mạnh văn hóa chỉ được hiện thực hóa khi chuyển hóa thành phẩm chất, năng lực và hành động của con người; ngược lại, con người chỉ có thể phát triển toàn diện trong một môi trường văn hóa lành mạnh và một hệ giá trị phù hợp.
Phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam là quá trình nhận diện, bảo tồn, kế thừa, sáng tạo, thực hành, truyền bá và chuyển hóa các giá trị văn hóa, phẩm chất và năng lực của con người thành nguồn lực phục vụ phát triển đất nước. Quá trình này bao gồm: (1) Bảo tồn, kế thừa và phát huy hệ giá trị, bản sắc, di sản, ngôn ngữ, ký ức lịch sử và truyền thống tốt đẹp của dân tộc; đồng thời, chủ động tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa nhân loại; (2) Xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, năng lực thẩm mỹ, kỹ năng, trách nhiệm công dân, ý thức pháp luật, khả năng sáng tạo và thích ứng với những biến đổi của thời đại; (3) Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong gia đình, nhà trường, cơ quan, doanh nghiệp, cộng đồng và không gian số; làm cho các giá trị tích cực trở thành chuẩn mực định hướng nhận thức và điều chỉnh hành vi; (4) Chuyển hóa tài nguyên, giá trị và sản phẩm văn hóa thành nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội; thúc đẩy công nghiệp văn hóa, đổi mới sáng tạo, phát triển nguồn nhân lực và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia; (5) Quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam, nâng cao sức hấp dẫn, uy tín, vị thế và sức mạnh mềm của quốc gia trong quá trình hội nhập quốc tế.
Phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam là trách nhiệm của Đảng, Nhà nước, hệ thống chính trị và Nhân dân. Đảng giữ vai trò lãnh đạo, định hướng quan điểm và mục tiêu phát triển. Nhà nước thể chế hóa chủ trương, tổ chức quản lý, đầu tư và điều phối nguồn lực. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội thực hiện tuyên truyền, vận động, giám sát và tập hợp các tầng lớp Nhân dân. Gia đình, nhà trường và cộng đồng là môi trường trực tiếp hình thành nhân cách, lối sống và trao truyền giá trị. Các cơ quan quản lý văn hóa, báo chí, xuất bản, văn học, nghệ thuật, bảo tàng, thư viện và thiết chế văn hóa thực hiện chức năng sáng tạo, bảo tồn và phổ biến văn hóa. Doanh nghiệp là chủ thể quan trọng trong phát triển công nghiệp văn hóa, thị trường văn hóa và chuyển hóa tài nguyên văn hóa thành sản phẩm, dịch vụ. Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nghệ nhân, nhà giáo, nhà báo và người sáng tạo nội dung trực tiếp sản xuất, truyền bá và làm mới các giá trị. Nhân dân vừa là chủ thể sáng tạo, thực hành, vừa là người thụ hưởng văn hóa. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời trong bảo tồn bản sắc và quảng bá văn hóa Việt Nam ra thế giới.
Thời gian qua, Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm đến phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam, tạo sức mạnh tổng hợp trong phát triển đất nước. Tuy nhiên, việc phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Khoảng cách giữa hệ giá trị được xác định trong các văn kiện với hành vi thực tế còn khá lớn; tài nguyên văn hóa chưa được chuyển hóa đầy đủ thành sức mạnh kinh tế; môi trường văn hóa và không gian số còn xuất hiện những biểu hiện lệch chuẩn; năng lực phối hợp giữa các chủ thể chưa đồng đều. Bài viết sử dụng phương pháp phân tích, tổng hợp tài liệu, so sánh để làm rõ những vấn đề lý luận và thực tiễn về phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam và đề xuất những giải pháp để phát huy sức mạnh tổng hợp trong chiến lược phát triển đất nước.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Thực trạng phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam
2.1.1. Kết quả đạt được
Thứ nhất, các giá trị văn hóa truyền thống, bản sắc và di sản dân tộc tiếp tục được bảo tồn, kế thừa và phát huy
Hoạt động bảo tồn từng bước được kết hợp với giáo dục, du lịch, sinh kế cộng đồng và chuyển đổi số. Năm 2025, bốn di sản thuộc các loại hình khác nhau của Việt Nam được UNESCO vinh danh, gồm Quần thể di tích, danh thắng Yên Tử – Vĩnh Nghiêm – Côn Sơn, Kiếp Bạc; Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng mở rộng sang Vườn quốc gia Hin Nam Nô của Lào; Bộ sưu tập của nhạc sĩ Hoàng Vân; Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ. Trong đó, Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ được ghi danh vào Danh sách di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp, nâng số di sản văn hóa phi vật thể của Việt Nam được UNESCO ghi danh lên 17 di sản (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025a, 2025b; UNESCO, 2025).
Các kết quả trên phản ánh năng lực nhận diện, lập hồ sơ và quảng bá giá trị di sản Việt Nam trên bình diện quốc tế. Trường hợp Nghề làm tranh dân gian Đông Hồ cho thấy hoạt động phát huy giá trị phải gắn với bảo vệ chủ thể di sản, truyền dạy kỹ năng và tạo sinh kế bền vững cho cộng đồng.
Thứ hai, xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện được quan tâm trên nhiều phương diện
Quan điểm xác định con người vừa là trung tâm, vừa là chủ thể, mục tiêu và động lực của phát triển ngày càng được thể hiện rõ trong các chiến lược, chính sách và chương trình hành động. Việc xây dựng con người không chỉ được đặt ra trên phương diện đạo đức, lối sống, mà từng bước gắn với phát triển trí tuệ, thể chất, năng lực thẩm mỹ, trách nhiệm công dân, ý thức pháp luật, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực sáng tạo và khả năng thích ứng với chuyển đổi số.
Các giá trị yêu nước, đoàn kết, nhân ái, nghĩa tình, cần cù, trung thực, trách nhiệm và ý chí tự cường tiếp tục được duy trì, biểu hiện rõ trong đời sống xã hội. Nhiều phong trào thiện nguyện, hỗ trợ người yếu thế, bảo vệ môi trường, khuyến học, khuyến tài và phát triển cộng đồng đều thu hút sự tham gia của đông đảo người dân, doanh nghiệp, trí thức, văn nghệ sĩ và người Việt Nam ở nước ngoài.
Giáo dục lịch sử, truyền thống, đạo đức, lối sống và trách nhiệm công dân được thực hiện thông qua hoạt động của gia đình, nhà trường, cơ quan, đoàn thể, báo chí, văn học, nghệ thuật và các thiết chế văn hóa. Nhiều chương trình giáo dục di sản, tham quan bảo tàng, trải nghiệm lịch sử, nghệ thuật học đường và hoạt động vì cộng đồng đã góp phần quan trọng vào việc gắn tiếp nhận tri thức với hình thành tình cảm, thái độ và hành vi xã hội.
Vai trò của thanh niên, trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà khoa học, doanh nhân, nghệ nhân và người sáng tạo nội dung ngày càng được thể hiện rõ hơn. Trong lĩnh vực khoa học, công nghệ, nghệ thuật, thiết kế, điện ảnh, âm nhạc, trò chơi điện tử và truyền thông số, một bộ phận người Việt Nam đã thể hiện khả năng sáng tạo, thích ứng nhanh với công nghệ và tiếp cận thị trường quốc tế.
Các sự kiện chính trị, lịch sử và văn hóa lớn được tổ chức trong năm 2025 đã góp phần giáo dục truyền thống, củng cố lòng yêu nước, niềm tự hào dân tộc và ý thức trách nhiệm của người dân. Nhiều chương trình nghệ thuật, triển lãm và hoạt động cộng đồng thu hút số lượng lớn công chúng, cho thấy nhu cầu tham gia, thụ hưởng và đồng sáng tạo văn hóa ngày càng gia tăng (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025a).
Thứ ba, môi trường văn hóa trong gia đình, nhà trường, cơ quan, cộng đồng và không gian số từng bước được quan tâm xây dựng
Các phong trào xây dựng gia đình văn hóa, khu dân cư văn hóa, cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp văn hóa được duy trì ở nhiều địa phương. Thông qua các phong trào này, một số giá trị về đoàn kết, trách nhiệm, tương trợ, chấp hành pháp luật, bảo vệ môi trường và giữ gìn nếp sống cộng đồng được củng cố. Gia đình tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong giáo dục nhân cách, ngôn ngữ, tình cảm và lối sống. Nhà trường từng bước chú trọng đến giáo dục đạo đức, kỹ năng sống, nghệ thuật, thể chất và trải nghiệm cộng đồng. Nhiều cơ quan, đơn vị và doanh nghiệp quan tâm xây dựng văn hóa công sở, văn hóa công vụ, văn hóa kinh doanh, đạo đức nghề nghiệp và trách nhiệm xã hội.
Không gian số ngày càng trở thành một bộ phận quan trọng của môi trường văn hóa. Sự phát triển của báo chí số, mạng xã hội và các nền tảng nội dung tạo điều kiện để người dân tiếp cận nhanh hơn với tri thức, di sản, nghệ thuật và các giá trị văn hóa. Nhiều cá nhân, nhóm cộng đồng, cơ quan báo chí, bảo tàng, thư viện và doanh nghiệp đã sáng tạo sản phẩm về lịch sử, văn hóa, ẩm thực, du lịch và hình ảnh con người Việt Nam thông qua các hình thức, như video, đồ họa, podcast, trò chơi và triển lãm số. Việc ban hành Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” tạo cơ sở để phát triển dữ liệu, nền tảng và hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ văn hóa số; đồng thời, mở rộng khả năng tiếp cận, sáng tạo và thụ hưởng văn hóa của người dân (Thủ tướng Chính phủ, 2026).
Nhận thức về an toàn thông tin, bảo vệ trẻ em, quyền tác giả, dữ liệu cá nhân và văn hóa ứng xử trên môi trường mạng cũng từng bước được nâng lên. Các cơ quan quản lý, cơ sở giáo dục, báo chí và tổ chức xã hội đã triển khai nhiều chương trình trang bị kỹ năng số, nhận diện thông tin sai lệch và phòng ngừa những nguy cơ trên mạng.
Thứ tư, tài nguyên và giá trị văn hóa từng bước được chuyển hóa thành sản phẩm, dịch vụ, việc làm và nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội
Trong giai đoạn 2018 – 2022, đóng góp trung bình của các ngành công nghiệp văn hóa vào giá trị gia tăng đạt gần 3,5%/năm. Giá trị sản xuất bình quân 5 năm đạt khoảng 1,059 triệu tỉ đồng, tương đương khoảng 44 tỉ USD. Riêng năm 2022, giá trị sản xuất của 12 ngành công nghiệp văn hóa đạt gần 1,987 triệu tỉ đồng (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2026). Giá trị xuất khẩu hàng hóa văn hóa tăng từ 729 triệu USD (năm 2018) lên hơn 2,65 tỉ USD (năm 2023); tỉ trọng trong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng từ 0,3% lên 0,75%. Các ngành văn hóa và sáng tạo thu hút khoảng 1,7 – 2,3 triệu lao động trong giai đoạn 2018 – 2022, cho thấy khả năng tạo việc làm và mở rộng không gian phát triển nghề nghiệp của lĩnh vực văn hóa (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2026).
Điện ảnh, nghệ thuật biểu diễn và các chương trình âm nhạc quy mô lớn cũng cho thấy khả năng kết hợp giữa giá trị tư tưởng, nghệ thuật với nhu cầu thị trường. Năm 2025, một số đại nhạc hội thu hút từ 30.000 đến 80.000 khán giả mỗi đêm; nhiều bộ phim Việt Nam đạt doanh thu trên 100 tỉ đồng. Những con số này cho thấy sản phẩm văn hóa được đầu tư phù hợp, khai thác hiệu quả đề tài lịch sử và bản sắc dân tộc có khả năng tạo tác động xã hội đồng thời với giá trị kinh tế (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2025b).Tại một số địa phương, di sản, lễ hội, nghề thủ công, ẩm thực và tri thức bản địa đã được kết nối với du lịch, thiết kế và phát triển sản phẩm đặc trưng. Hoạt động này góp phần tạo sinh kế, quảng bá hình ảnh địa phương và nâng cao nhận thức của cộng đồng về giá trị kinh tế – xã hội của văn hóa.
Thứ năm, hoạt động quảng bá hình ảnh đất nước, con người Việt Nam và phát triển sức mạnh mềm đạt những kết quả tích cực
Hoạt động đối ngoại văn hóa được mở rộng thông qua giao lưu nghệ thuật, triển lãm, điện ảnh, tuần văn hóa, hợp tác bảo tồn di sản, liên hoan quốc tế và quảng bá du lịch. Việc tham gia các công ước, chương trình và mạng lưới của UNESCO đã tạo điều kiện cho Việt Nam nâng cao năng lực chuyên môn, giới thiệu giá trị di sản và tăng cường sự hiện diện văn hóa trên trường quốc tế.
Các sản phẩm về ẩm thực, du lịch, nghệ thuật, thủ công mỹ nghệ, điện ảnh, âm nhạc và nội dung số góp phần làm phong phú hình ảnh Việt Nam trong nhận thức của công chúng quốc tế. Một số sản phẩm do người Việt Nam sáng tạo đã tiếp cận được thị trường, nền tảng và nhóm công chúng ngoài nước.
Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài tiếp tục giữ vai trò quan trọng trong việc duy trì tiếng Việt, bảo tồn bản sắc, kết nối tri thức và quảng bá hình ảnh đất nước. Nhiều hội đoàn, trí thức, văn nghệ sĩ, doanh nhân và người trẻ Việt Nam ở nước ngoài đã tổ chức hoạt động văn hóa, giáo dục, nghệ thuật và kết nối, hợp tác với các tổ chức, cá nhân trong nước.
2.1.2. Hạn chế và nguyên nhân
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng đánh giá: “Văn hóa chưa thực sự trở thành nguồn lực, sức mạnh nội sinh và động lực mạnh mẽ của sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.369). Việc xây dựng hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đã được định hướng trong nhiều văn kiện, nhưng chưa có bộ chỉ số thống nhất để đo lường mức độ nhận biết, thực hành và tác động của các giá trị trong đời sống. Hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hoá, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam chậm được làm rõ. Chưa tạo lập đồng bộ cơ chế, chính sách, môi trường xã hội cần thiết cho sự phát triển toàn diện con người (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.65). “Các giá trị, chuẩn mực về con người và văn hóa Việt Nam chưa được hình thành rõ nét. Chưa ban hành được hệ giá trị con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.221).
Những hạn chế này xuất phát từ nhiều nguyên nhân, trong đó có nguyên nhân từ toàn cầu hóa, chuyển đổi số và sự cạnh tranh của các nền tảng xuyên biên giới đã làm thay đổi nhanh chóng phương thức sáng tạo, sản xuất và tiếp nhận văn hóa. Trong đó, nhận thức về vai trò của văn hóa ở một số cấp, ngành chưa đầy đủ; thể chế và cơ chế phối hợp giữa văn hóa với giáo dục, khoa học, công nghệ, kinh tế, du lịch và đối ngoại chưa đồng bộ. Nguồn nhân lực, dữ liệu, cơ chế tài chính và bảo vệ sở hữu trí tuệ chưa đáp ứng đặc thù của lao động sáng tạo. Vai trò chủ thể của người dân, cộng đồng và doanh nghiệp trong một số hoạt động chưa được phát huy tương xứng.
2.2. Giải pháp phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam trong giai đoạn mới
Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định: “Khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.373). Để phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam, cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:
Thứ nhất, tiếp tục đổi mới nhận thức và hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa, con người
Cần quán triệt sâu sắc quan điểm văn hóa và con người là nền tảng, nguồn lực nội sinh, động lực và hệ điều tiết của phát triển. Văn hóa phải được tích hợp vào chiến lược, quy hoạch, chương trình phát triển kinh tế – xã hội, khoa học, công nghệ, giáo dục, đô thị và đối ngoại của từng ngành, địa phương.
Cụ thể hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 28/2026/QH16, Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hóa và Đề án chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa thành chương trình, nhiệm vụ, sản phẩm, nguồn lực và chỉ số đánh giá cụ thể. Kế hoạch triển khai phải xác định rõ cơ quan chủ trì, cơ quan phối hợp, tiến độ, trách nhiệm giải trình và phải phân định rõ trách nhiệm của từng chủ thể. Đảng định hướng và kiểm tra việc thực hiện; Nhà nước kiến tạo thể chế, đầu tư và bảo đảm quyền sáng tạo, thụ hưởng văn hóa; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội vận động, giám sát; gia đình, nhà trường và cộng đồng trực tiếp giáo dục, trao truyền giá trị; doanh nghiệp phát triển sản phẩm và thị trường; trí thức, văn nghệ sĩ và nhân dân là chủ thể sáng tạo.
Thứ hai, cụ thể hóa hệ giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam thành tiêu chí thực hành xã hội
Cần tiếp tục nghiên cứu, cụ thể hóa hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam thành những nội dung dễ nhận biết, thực hành và đánh giá trong từng môi trường. Chú trọng giáo dục các giá trị yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, trung thực, đoàn kết, trách nhiệm, kỷ cương và sáng tạo, chuẩn mực đạo đức nghề nghiệp, văn hóa công vụ, văn hóa kinh doanh, quy tắc ứng xử cộng đồng và hoạt động truyền thông. Xây dựng con người phải được thực hiện đồng bộ trên các phương diện đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ, kỹ năng, trách nhiệm công dân và năng lực số. Giáo dục văn hóa, lịch sử cần chuyển từ truyền đạt kiến thức một chiều sang trải nghiệm di sản, học tập qua dự án, bảo tàng, nghệ thuật, hoạt động cộng đồng và sản phẩm đa phương tiện. Đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhà giáo, văn nghệ sĩ, nhà báo, doanh nhân và người có ảnh hưởng xã hội. Việc tôn vinh phải dựa trên đóng góp thực chất; xử lý nghiêm hành vi vi phạm pháp luật, đạo đức nghề nghiệp và chuẩn mực văn hóa.
Xác định và thực hiện đầy đủ trách nhiệm của các chủ thể cụ thể hóa giá trị và chuẩn mực con người Việt Nam thành tiêu chí thực hành xã hội. Các chủ thể chủ trì là các cơ quan tham mưu về văn hóa, giáo dục, khoa học xã hội, truyền thông và các địa phương. Công cụ thực hiện gồm chương trình hành động triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW, Nghị quyết số 28/2026/QH16, bộ tiêu chí văn hóa công sở, văn hóa học đường, văn hóa gia đình, văn hóa số và chuẩn mực ứng xử cộng đồng. Lộ trình cần ưu tiên xây dựng bộ tiêu chí dễ hiểu, dễ đo, dễ triển khai; đưa các giá trị yêu nước, nhân ái, đoàn kết, trung thực, trách nhiệm, kỷ cương, sáng tạo vào giáo dục, truyền thông, đánh giá môi trường văn hóa. Chỉ số đánh giá có thể gồm mức độ nhận biết hệ giá trị, mức độ tham gia hoạt động văn hóa, tỉ lệ thiết chế triển khai bộ quy tắc ứng xử, mức độ hài lòng và niềm tin của người dân.
Thứ ba, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường, cơ quan đến không gian số
Các chương trình xây dựng gia đình văn hóa cần chuyển từ bình xét danh hiệu sang hỗ trợ kỹ năng làm cha mẹ, giao tiếp, phòng ngừa bạo lực, xây dựng thói quen đọc sách và bảo vệ trẻ em trên môi trường số. Trong nhà trường, cần bảo đảm môi trường an toàn, tôn trọng và khuyến khích sáng tạo; hoàn thiện cơ chế tiếp nhận, xử lý hành vi bạo lực, xúc phạm danh dự và vi phạm chuẩn mực học đường. Hoạt động nghệ thuật, thể thao, giáo dục di sản và phục vụ cộng đồng cần trở thành bộ phận thường xuyên của quá trình giáo dục. Trong cơ quan và doanh nghiệp, người đứng đầu phải chịu trách nhiệm về chất lượng môi trường văn hóa. Mức độ minh bạch, tinh thần hợp tác, sự tôn trọng con người, chất lượng phục vụ và sự hài lòng của người dân, người lao động phải được xem là căn cứ đánh giá tổ chức.
Các cơ quan quản lý cần phối hợp với doanh nghiệp nền tảng, báo chí, trường học và tổ chức xã hội để xử lý nội dung vi phạm, bảo vệ trẻ em, dữ liệu cá nhân và quyền tác giả. Đồng thời, cần trang bị cho người dân kỹ năng kiểm chứng thông tin, nhận diện tin giả, hiểu biết về thuật toán và ứng xử có trách nhiệm. Quản trị không gian số phải kết hợp giữa xử lý nội dung vi phạm với phát triển nội dung có giá trị.
Thứ tư, khơi dậy lòng yêu nước, ý chí tự chủ, tinh thần tự lực, tự cường và khát vọng phát triển trong mỗi người Việt Nam
Sức mạnh con người Việt Nam trước hết được thể hiện ở lòng yêu nước, bản lĩnh, ý chí vượt khó, khả năng thích ứng và khát vọng cống hiến. Trong điều kiện mới, phát huy những phẩm chất này không thể chỉ dựa vào tuyên truyền, vận động, mà phải gắn với cơ hội để mỗi người được học tập, lao động, sáng tạo, tham gia quản lý xã hội và đóng góp cho cộng đồng. Các cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị và tổ chức xã hội cần tạo môi trường để cán bộ, đảng viên và nhân dân phát huy sáng kiến, đề xuất giải pháp, tham gia giải quyết những vấn đề thực tiễn của địa phương, cơ quan và cộng đồng. Những sáng kiến có giá trị cần được ghi nhận, hỗ trợ triển khai và nhân rộng; khắc phục tâm lý sợ trách nhiệm, ngại đổi mới và cơ chế đánh giá nặng về hình thức.
Đối với thanh niên, cần chuyển từ cách tiếp cận coi thanh niên là đối tượng giáo dục sang cách tiếp cận coi thanh niên là chủ thể sáng tạo, lực lượng trực tiếp tham gia phát triển văn hóa, khoa học, công nghệ, kinh tế số và hội nhập quốc tế. Nhà trường, tổ chức đoàn, hội, doanh nghiệp và địa phương cần tạo điều kiện để thanh niên tham gia các dự án về di sản, nội dung số, khởi nghiệp sáng tạo, tình nguyện cộng đồng và quảng bá hình ảnh Việt Nam.
Đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, nhà giáo, nhà báo, nhà khoa học, doanh nhân và nghệ nhân cần được tạo điều kiện để phát huy năng lực chuyên môn, bản lĩnh sáng tạo và trách nhiệm xã hội. Việc đánh giá, sử dụng và tôn vinh phải dựa trên chất lượng sản phẩm, đóng góp thực chất, khả năng truyền cảm hứng và tác động tích cực đối với cộng đồng, thay vì căn cứ vào bằng cấp, chức danh hoặc số lượng hoạt động.
Khơi dậy khát vọng phát triển còn yêu cầu phải củng cố niềm tin của nhân dân vào cơ hội phát triển, sự công bằng và khả năng cống hiến. Chỉ khi quyền lợi chính đáng được bảo đảm, sáng kiến được tôn trọng và đóng góp được ghi nhận, các phẩm chất tốt đẹp của con người Việt Nam mới có thể chuyển hóa thành nguồn lực phát triển bền vững.
3. Kết luận
Phát huy sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam là vấn đề có ý nghĩa nền tảng đối với việc hình thành nguồn lực nội sinh và động lực phát triển đất nước trong giai đoạn mới. Nội dung cốt lõi của quá trình này không chỉ là bảo tồn di sản hoặc mở rộng các hoạt động văn hóa, mà là chuyển hóa hệ giá trị, bản sắc, tri thức, đạo đức, năng lực sáng tạo và tinh thần đoàn kết thành phẩm chất, hành vi, sản phẩm và năng lực phát triển của xã hội. Thực tiễn cho thấy, nhận thức, thể chế và nguồn lực dành cho văn hóa từng bước được hoàn thiện, nhưng sự chuyển hóa các giá trị văn hóa thành chuẩn mực con người, sức cạnh tranh kinh tế và sức mạnh mềm vẫn chưa tương xứng với tiềm năng. Vì vậy, phát huy sức mạnh văn hóa, con người phải được thực hiện trong sự thống nhất giữa xây dựng con người, kiến tạo môi trường văn hóa, bảo tồn di sản, phát triển công nghiệp văn hóa và hội nhập quốc tế. Đây là điều kiện để văn hóa thực sự trở thành nền tảng tinh thần, nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển nhanh, bền vững của Việt Namq
Ngày nhận bài: 05/5/2026; Ngày thẩm định: 07/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email liên hệ: [email protected]

————————————-
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 “về phát triển văn hóa Việt Nam”.
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025a). 17 di sản được UNESCO ghi danh: Nền văn hóa phong phú, đồ sộ của dân tộc. https://bvhttdl.gov.vn
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2025b). Công bố 10 sự kiện văn hóa, thể thao và du lịch tiêu biểu năm 2025. https://bvhttdl.gov.vn
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026). Công nghiệp văn hóa – nguồn lực nội sinh của tăng trưởng. https://bvhttdl.gov.vn
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026a). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026b). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2026). Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 “về phát triển văn hóa Việt Nam”.
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 611/QĐ-TTg ngày 04/4/2026 phê duyệt Đề án “Chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045”. https://vanban.chinhphu.vn
UNESCO (2025). Craft of making Đông Hồ folk woodblock printings. UNESCO Intangible Cultural Heritage. https://ich.unesco.org

(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *