TS. NGUYỄN THỊ THÙY LINH
Học viện Chính trị khu vực I
ThS. NGÔ HẢO NHI
Học viện Chính trị khu vực I
Tóm tắt: Phòng, chống lãng phí là nhiệm vụ chiến lược, cấp bách nhằm quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực quốc gia trong giai đoạn phát triển mới. Bài viết làm rõ khái niệm, nội dung hoạt động và chủ thể thực hiện phòng, chống lãng phí; trên cơ sở đó, đánh giá thực trạng theo các nhóm hoạt động chủ yếu, gồm: xây dựng, hoàn thiện thể chế, chiến lược và chương trình; tuyên truyền, giáo dục, xây dựng văn hóa tiết kiệm; tổ chức quản lý, sử dụng các nguồn lực; công khai, báo cáo, xây dựng dữ liệu và tiếp nhận thông tin; kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, phát hiện, xử lý và khắc phục hậu quả lãng phí. Kết quả nghiên cứu cho thấy, nhận thức và thể chế về phòng, chống lãng phí tiếp tục được hoàn thiện; việc rà soát, xử lý các dự án tồn đọng, cơ sở nhà, đất dôi dư và thu hồi nguồn lực đạt một số kết quả tích cực. Tuy nhiên, khoảng cách giữa nhận thức và hành vi công vụ còn lớn; thể chế vẫn có những điểm chồng chéo; tiến độ xử lý nguồn lực tồn đọng chưa đáp ứng yêu cầu; việc công khai, liên thông dữ liệu và giám sát xã hội còn hạn chế. Từ đó, bài viết đề xuất các giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống lãng phí trong giai đoạn mới.
Từ khóa: chuyển đổi số; chống lãng phí; nguồn lực công; trách nhiệm công vụ
PREVENTING AND COMBATING WASTE IN VIET NAM TODAY
Abstract: Preventing and combating waste is an urgent strategic task aimed at ensuring the effective management, exploitation, and use of national resources in the new development stage. This article clarifies the concept, major activities, and key actors involved in waste prevention and control. On that basis, it assesses the current situation through major groups of activities, including institutional and policy development; education and promotion of a culture of thrift; management and use of resources; information disclosure, reporting, data development, and information reception; and inspection, auditing, supervision, detection, handling, and remediation of waste. The findings indicate that awareness and the institutional framework for waste prevention have continued to improve, while progress has been made in reviewing and handling delayed projects, redundant public premises, and recovering misused resources. However, a considerable gap remains between political awareness and official conduct; institutional overlaps persist; the handling of idle resources remains slow; and information disclosure, data connectivity, and social oversight remain limited. The article therefore proposes coordinated solutions to improve the effectiveness of waste prevention and control in the new development stage.
Keywords: digital transformation; waste prevention; official accountability; public resources.
1. Đặt vấn đề
Phòng, chống lãng phí là chủ trương lớn, nhất quán và xuyên suốt của Đảng và Nhà nước Việt Nam, nhằm bảo đảm các nguồn lực của đất nước được quản lý, khai thác và sử dụng đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả. Trong điều kiện nguồn lực quốc gia có giới hạn, yêu cầu phát triển nhanh và bền vững ngày càng cao, lãng phí không chỉ làm thất thoát tiền, tài sản, đất đai và tài nguyên, mà còn làm giảm hiệu quả sử dụng thời gian, nhân lực, tri thức, dữ liệu và các cơ hội phát triển.
Theo khoản 2 Điều 3 Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025, “lãng phí là việc quản lý, khai thác, sử dụng tài chính công, tài sản công, tổ chức bộ máy và lao động trong khu vực nhà nước, tài nguyên, năng lượng vượt định mức, tiêu chuẩn, chế độ; quản lý, sử dụng không hiệu quả, không đạt mục tiêu đã định; hoặc thực hiện hành vi gây lãng phí, tạo rào cản phát triển kinh tế – xã hội, làm bỏ lỡ thời cơ phát triển của đất nước” (Quốc hội, 2025).
Phòng, chống lãng phí là tổng thể các hoạt động nhằm phòng ngừa, nhận diện, phát hiện, ngăn chặn, xử lý và khắc phục những hành vi, quyết định, quy trình hoặc cơ chế làm cho nguồn lực bị thất thoát, bỏ không, sử dụng sai mục đích hoặc không tạo ra kết quả tương xứng. Trong đó, phòng ngừa lãng phí tập trung vào xây dựng thể chế, chiến lược, chương trình, định mức, tiêu chuẩn, công khai, giáo dục, kiểm soát trách nhiệm và cảnh báo nguy cơ; chống lãng phí tập trung vào phát hiện, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, xử lý hành vi vi phạm, thu hồi và đưa các nguồn lực bị ách tắc, sử dụng kém hiệu quả trở lại phục vụ phát triển.
Phòng, chống lãng phí có quan hệ chặt chẽ nhưng không hoàn toàn đồng nhất với phòng, chống tham nhũng và tiêu cực. Tham nhũng thường gắn với hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn vì vụ lợi; trong khi lãng phí có thể phát sinh ngay cả khi chưa xác định được động cơ vụ lợi. Chẳng hạn, lãng phí có thể phát sinh do quyết định đầu tư thiếu căn cứ, tổ chức thực hiện chậm, phối hợp không hiệu quả, buông lỏng quản lý, né tránh trách nhiệm hoặc hệ thống dữ liệu không liên thông. Vì vậy, phòng, chống lãng phí vừa phải gắn với kiểm soát quyền lực và xử lý sai phạm, vừa phải chú trọng hoàn thiện thể chế và nâng cao chất lượng quản trị.
Nội dung phòng, chống lãng phí gồm: Một là, xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chủ trương, pháp luật, chiến lược, chương trình, định mức, tiêu chuẩn và chế độ về tiết kiệm, chống lãng phí. Hoạt động này tạo cơ sở chính trị, pháp lý và tiêu chí để xác định thế nào là sử dụng nguồn lực đúng mục tiêu, đúng định mức và có hiệu quả. Hai là, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và xây dựng văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí. Nội dung này bao gồm việc đưa yêu cầu tiết kiệm vào nội quy, quy chế làm việc; tổ chức giáo dục, tuyên truyền; nêu gương người tốt, việc tốt; phê phán, đấu tranh với hành vi gây lãng phí. Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 quy định trách nhiệm xây dựng và lan tỏa văn hóa tiết kiệm đối với cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp trong khu vực nhà nước, cơ quan báo chí và các chủ thể xã hội. Ba là, tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng hiệu quả tài chính công, tài sản công, vốn đầu tư công, đất đai, tài nguyên, năng lượng, tổ chức bộ máy và lao động; kịp thời xử lý tài sản không sử dụng, dự án chậm tiến độ, nguồn lực nhàn rỗi hoặc sử dụng không hiệu quả. Đây là nhóm hoạt động trực tiếp quyết định việc nguồn lực có được chuyển hóa thành kết quả phát triển hay không. Bốn là, thực hiện công khai, báo cáo, xây dựng cơ sở dữ liệu, tiếp nhận và xử lý thông tin phát hiện lãng phí. Công khai và dữ liệu là điều kiện để cơ quan quản lý, cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, báo chí và Nhân dân theo dõi, giám sát việc sử dụng các nguồn lực. Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 quy định công khai chiến lược, chương trình, báo cáo kết quả và kết quả xử lý hành vi gây lãng phí; đồng thời đặt ra yêu cầu xây dựng cơ sở dữ liệu quốc gia về tiết kiệm, chống lãng phí. Năm là, kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, phát hiện, xử lý hành vi gây lãng phí, thu hồi nguồn lực và khắc phục hậu quả. Hoạt động kiểm tra bao gồm tự kiểm tra trong cơ quan, đơn vị; kiểm tra của cấp trên và kiểm tra của cơ quan nhà nước theo lĩnh vực. Thông tin phát hiện lãng phí phải được tiếp nhận, xác minh, ngăn chặn, xử lý và công khai kết quả theo quy định; người phản ánh, tố cáo, tố giác hành vi gây lãng phí phải được bảo vệ.
Chủ thể phòng, chống lãng phí bao gồm các tổ chức đảng, cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, đơn vị lực lượng vũ trang, đơn vị sự nghiệp công lập, doanh nghiệp nhà nước; cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong khu vực nhà nước; các doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình, cá nhân có liên quan. Trong đó, Đảng giữ vai trò lãnh đạo; Nhà nước xây dựng và tổ chức thực hiện pháp luật, chiến lược, chương trình; người đứng đầu chịu trách nhiệm trực tiếp trong phạm vi quản lý; cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, điều tra thực hiện chức năng phát hiện và xử lý; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, báo chí và Nhân dân thực hiện giám sát, phản ánh và đấu tranh chống lãng phí.
Bài viết sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học xã hội để phân tích thực tiễn phòng, chống lãng phí ở Việt Nam thời gian qua, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả phòng, chống lãng phí, khơi thông và sử dụng hiệu quả các nguồn lực trong giai đoạn phát triển mới.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Thực tiễn công tác phòng, chống lãng phí ở Việt Nam
Thứ nhất, hoạt động xây dựng, hoàn thiện thể chế, chiến lược và chương trình phòng, chống lãng phí
Những năm qua, công tác xây dựng, hoàn thiện chủ trương, chính sách và pháp luật về phòng, chống lãng phí được Đảng và Nhà nước quan tâm thực hiện. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 của Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí” xác định tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí là nhiệm vụ quan trọng nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng và hiệu quả quản lý nhà nước.
Các văn kiện, kết luận, chỉ thị, quy định của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn và đẩy lùi tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực. Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 của Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV “về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới” tiếp tục đặt công tác phòng, chống lãng phí trong mối quan hệ với hoàn thiện thể chế, kiểm soát quyền lực, tháo gỡ điểm nghẽn và khơi thông nguồn lực phát triển.
Hệ thống pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí từng bước được xây dựng, hoàn thiện qua Pháp lệnh Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 1998; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2005; Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí năm 2013 và Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025 được Quốc hội thông qua ngày 10/12/2025, có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với tài chính công, tài sản công, tổ chức bộ máy, lao động trong khu vực nhà nước, tài nguyên, năng lượng và hoạt động sản xuất, kinh doanh, tiêu dùng của doanh nghiệp, tổ chức, hộ gia đình và cá nhân.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành hơn 30 nghị quyết, chỉ thị, quy định, kết luận về xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, phát triển kinh tế – xã hội và phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Quốc hội, Chính phủ đã chỉ đạo rà soát, sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành gần 300 văn bản nhằm kịp thời thể chế hóa các chủ trương mới của Đảng, khắc phục những sơ hở, bất cập, tháo gỡ điểm nghẽn và tăng cường phân cấp, phân quyền gắn với kiểm soát quyền lực (Ban Nội chính Trung ương, 2026).
Những kết quả trên cho thấy, thể chế về phòng, chống lãng phí tiếp tục được hoàn thiện. Phạm vi điều chỉnh và trách nhiệm của các chủ thể được quy định cụ thể hơn; phòng, chống lãng phí ngày càng được gắn với yêu cầu nâng cao chất lượng thể chế, khơi thông nguồn lực và thúc đẩy phát triển.
Tuy nhiên, thể chế quản lý và sử dụng các nguồn lực công vẫn còn một số nội dung thiếu đồng bộ, chồng chéo. Sự thiếu thống nhất giữa các quy định về đầu tư công, đất đai, đấu thầu, xây dựng và quản lý tài sản công có thể làm kéo dài quá trình triển khai dự án và xử lý tài sản. Việc ban hành nhiều văn bản trong thời gian ngắn cũng đặt ra yêu cầu bảo đảm tính thống nhất, ổn định và khả thi. Nếu văn bản chậm được hướng dẫn, có nhiều cách hiểu hoặc thẩm quyền xử lý không rõ, thể chế có thể trở thành nguyên nhân làm nguồn lực bị ách tắc.
Thứ hai, hoạt động tuyên truyền, giáo dục và xây dựng văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí
Công tác tuyên truyền, giáo dục về tiết kiệm, chống lãng phí được triển khai gắn với giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức công vụ và trách nhiệm nêu gương. Quy định số 144-QĐ/TW ngày 09/5/2024 của Bộ chính trị “về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” và Chỉ thị số 42-CT/TW ngày 16/01/2025 của Bộ chính trị “ về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác về giáo dục cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư” tạo cơ sở quan trọng để đưa yêu cầu tiết kiệm, chống lãng phí vào sinh hoạt đảng, đào tạo, bồi dưỡng và đánh giá cán bộ. Các cơ quan báo chí và truyền thông đã tăng cường phản ánh những hành vi gây lãng phí, các dự án chậm tiến độ, tài sản công sử dụng không hiệu quả và tuyên truyền những mô hình tiết kiệm, sử dụng hiệu quả nguồn lực. Hoạt động tuyên truyền góp phần nâng cao nhận thức của cán bộ, đảng viên và Nhân dân về sự cần thiết của công tác phòng, chống lãng phí.
Tuy nhiên, việc chuyển biến nhận thức thành hành động tự giác, thường xuyên chưa đồng đều. Ở một số cơ quan, đơn vị, chống lãng phí chưa thực sự trở thành chuẩn mực trong hoạt động công vụ và quản lý nguồn lực. Tình trạng né tránh, đùn đẩy, chậm giải quyết công việc hoặc tổ chức nhiều hoạt động nhưng hiệu quả thấp vẫn là những biểu hiện lãng phí cần được quan tâm. Vai trò nêu gương và trách nhiệm của người đứng đầu ở một số nơi chưa được phát huy đầy đủ. Công tác đánh giá cán bộ chưa gắn chặt với những chỉ tiêu cụ thể về hiệu quả sử dụng ngân sách, tài sản, thời gian và kết quả thực hiện nhiệm vụ.
Thứ ba, hoạt động tổ chức quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực
Công tác quản lý ngân sách nhà nước, tài sản công, đầu tư công, đất đai và vốn nhà nước tại doanh nghiệp có những chuyển biến. Việc lập, chấp hành dự toán và quyết toán ngân sách; mua sắm, quản lý tài sản công, phương tiện và trang thiết bị làm việc từng bước được thực hiện theo định mức, tiêu chuẩn và chế độ.
Việc rà soát, xử lý các dự án, công trình tồn đọng, kéo dài và các cơ sở nhà, đất dôi dư được tập trung thực hiện. Trong 6 tháng đầu năm 2026, Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã rà soát, cập nhật thêm 1.501 công trình, dự án, nâng tổng số dự án, công trình tồn đọng, kéo dài, có khó khăn, vướng mắc lên 4.492; trong đó, đã hoàn thành xử lý 1.531 dự án (Ban Nội chính Trung ương, 2026). Đối với các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy, qua rà soát đã xác định cả nước có 30.595 cơ sở dôi dư; trong đó, đã hoàn thành xử lý, đưa vào khai thác, sử dụng 14.992 cơ sở (Ban Nội chính Trung ương, 2026). Theo báo cáo của Chính phủ, Chính phủ đã hoàn thành rà soát và đang đề xuất cấp có thẩm quyền tháo gỡ vướng mắc cho hơn 2.200 dự án, với tổng vốn gần 5,9 triệu tỉ đồng, tương đương khoảng 235 tỉ USD, và tổng quy mô sử dụng đất khoảng 347 nghìn ha (Chính phủ, 2025).
Những kết quả này cho thấy, hoạt động nhận diện, rà soát và xử lý nguồn lực bị ách tắc đã được đẩy mạnh. Việc đưa các dự án và tài sản trở lại khai thác góp phần giảm chi phí duy trì, hạn chế tài sản xuống cấp và tạo thêm nguồn lực phục vụ phát triển kinh tế – xã hội.
Tuy nhiên, số dự án và cơ sở nhà, đất chưa được xử lý vẫn còn lớn. Việc chậm xử lý có thể làm gia tăng chi phí bảo quản, làm giảm giá trị tài sản, phát sinh nguy cơ lấn chiếm và làm mất cơ hội sử dụng nguồn lực cho các mục tiêu phát triển. Một số dự án bị kéo dài do vướng mắc pháp lý, thay đổi quy hoạch, thiếu vốn, năng lực chủ đầu tư hạn chế hoặc chưa xác định rõ cơ quan chịu trách nhiệm giải quyết. Việc thực hiện các kết luận thanh tra, kiểm toán ở một số nơi còn chậm, làm giảm hiệu quả khắc phục vi phạm và tiềm ẩn nguy cơ tái lãng phí.
Thứ tư, hoạt động công khai, báo cáo, xây dựng dữ liệu và tiếp nhận thông tin phát hiện lãng phí
Công khai, minh bạch về quản lý ngân sách, đầu tư công, tài sản công và tiến độ dự án ngày càng được quan tâm. Việc ứng dụng công nghệ số, xây dựng cơ sở dữ liệu và cung cấp dịch vụ công trực tuyến góp phần giảm thời gian, chi phí giải quyết thủ tục đối với người dân và doanh nghiệp. Chính phủ, các bộ, ngành và địa phương đã đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, tăng cường phân cấp và tái sử dụng thông tin, dữ liệu đã được số hóa. Đây là cơ sở để hạn chế việc yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp nhiều lần cùng một loại thông tin và giảm chi phí tuân thủ.
Tuy nhiên, hoạt động công khai ở một số nơi còn mang tính hình thức; thông tin được đăng tải nhưng khó tìm kiếm, khó tổng hợp hoặc không đủ để đánh giá hiệu quả sử dụng nguồn lực. Sự phát triển nhanh của khoa học, công nghệ cũng làm xuất hiện các hình thức lãng phí mới. Trong khu vực công có tình trạng đầu tư phân tán vào nhiều phần mềm, hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu nhưng thiếu kết nối, liên thông; nhập liệu trùng lặp; duy trì đồng thời hồ sơ giấy và hồ sơ điện tử; hoặc đầu tư hạ tầng vượt nhu cầu. Việc chậm chuẩn hóa, chia sẻ dữ liệu và xác định dữ liệu gốc làm phát sinh chi phí, kéo dài thời gian giải quyết công việc và làm giảm hiệu quả chuyển đổi số. Dữ liệu được thu thập nhưng không được cập nhật, kết nối và sử dụng trong quản lý cũng trở thành một dạng nguồn lực bị lãng phí.
Thứ năm, hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát, phát hiện và xử lý lãng phí
Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra và kiểm toán được tăng cường. Trong 6 tháng đầu năm 2026, cấp ủy và ủy ban kiểm tra các cấp đã thi hành kỷ luật 65 tổ chức đảng và 3.375 đảng viên, trong đó có 02 cán bộ thuộc diện Trung ương quản lý (Ban Nội chính Trung ương, 2026). Qua thanh tra, kiểm toán, các cơ quan chức năng đã kiến nghị thu hồi 799,4 tỉ đồng và 31 ha đất; kiến nghị xử lý hành chính 356 tập thể và 1.192 cá nhân; chuyển 13 vụ việc có dấu hiệu tội phạm sang cơ quan điều tra để điều tra, xử lý theo quy định (Ban Nội chính Trung ương, 2026). Các cơ quan tiến hành tố tụng đã tập trung xử lý nhiều vụ án tham nhũng, kinh tế và chức vụ. Kết quả công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, kiểm toán và xử lý vi phạm trong phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực được tăng cường.
Tuy nhiên, phương thức kiểm tra, thanh tra và kiểm toán vẫn có mặt tập trung nhiều vào phát hiện sai phạm sau khi đã xảy ra. Cơ chế cảnh báo sớm đối với dự án chậm tiến độ, tài sản sử dụng dưới công suất, mua sắm bất thường hoặc dữ liệu trùng lặp chưa được triển khai đồng bộ. Sự phối hợp giữa cơ quan kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, cơ quan quản lý chuyên ngành và chính quyền địa phương có lúc chưa chặt chẽ. Việc theo dõi thực hiện kiến nghị, kết luận và thu hồi nguồn lực chưa được công khai đầy đủ. Vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, báo chí và Nhân dân đã được phát huy nhưng chưa đồng đều giữa các lĩnh vực và địa phương. Cơ chế bảo vệ người phản ánh, tố cáo hành vi gây lãng phí cần tiếp tục được tổ chức thực hiện nghiêm túc để khuyến khích sự tham gia của xã hội.
2.2. Một số giải pháp phòng, chống lãng phí trong giai đoạn mới
Thứ nhất, nâng cao nhận thức, xây dựng và lan tỏa văn hóa tiết kiệm, chống lãng phí
Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh xác định giải pháp trước hết là phải “đánh thông tư tưởng” (Hồ Chí Minh, 2011, tr.358), làm cho mọi người hiểu rõ lãng phí và tác hại của lãng phí; đồng thời giáo dục cán bộ và nhân dân có thái độ kiên quyết đối với tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu (Hồ Chí Minh, 2011, tr.346). Các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan nhà nước cần đẩy mạnh giáo dục chính trị, tư tưởng và pháp luật về tiết kiệm, chống lãng phí; đưa nội dung này vào sinh hoạt chi bộ, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ và quy chế hoạt động của cơ quan, đơn vị. Cần mở rộng nội hàm về tiết kiệm, không chỉ là giảm chi tiêu, mà bao gồm sử dụng hiệu quả thời gian, nhân lực, tài sản, dữ liệu và quyền ra quyết định. Người đứng đầu phải nêu gương trong sử dụng ngân sách, tài sản công và tổ chức công việc; kết quả tiết kiệm, chống lãng phí phải được đưa vào tiêu chí đánh giá cán bộ và tổ chức.
Thứ hai, tiếp tục hoàn thiện đồng bộ thể chế, chiến lược, chương trình, định mức và tiêu chuẩn về tiết kiệm, chống lãng phí
Quốc hội, Chính phủ và các bộ, ngành cần khẩn trương tổ chức thực hiện Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025; xây dựng đầy đủ các văn bản hướng dẫn, bảo đảm thống nhất trong nhận diện hành vi gây lãng phí, xác định trách nhiệm và xử lý vi phạm. Tiếp tục rà soát các quy định về đầu tư công, đất đai, đấu thầu, xây dựng, tài chính và tài sản công; kịp thời sửa đổi những quy định chồng chéo, thiếu thống nhất, không còn phù hợp hoặc làm kéo dài thời gian xử lý công việc. Chiến lược, chương trình tiết kiệm, chống lãng phí phải xác định rõ nhiệm vụ trọng tâm, chỉ tiêu, thời hạn, trách nhiệm của cơ quan chủ trì và cơ chế đánh giá kết quả. Việc hoàn thiện thể chế phải gắn với bảo vệ cán bộ năng động, sáng tạo vì lợi ích chung, đồng thời bảo đảm kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình.
Thứ ba, nâng cao trách nhiệm người đứng đầu và hiệu quả quản lý, sử dụng các nguồn lực
Cần xác định rõ trách nhiệm cá nhân và trách nhiệm tập thể trong từng khâu đề xuất, thẩm định, phê duyệt, tổ chức thực hiện và giám sát dự án; không để xảy ra tình trạng quyết định thuộc về tập thể nhưng không xác định được người chịu trách nhiệm khi nguồn lực bị sử dụng kém hiệu quả. Người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải tổ chức rà soát định kỳ các dự án, tài sản và nguồn lực thuộc phạm vi quản lý; kịp thời đề xuất điều chuyển, chuyển đổi công năng hoặc xử lý những tài sản không sử dụng, sử dụng dưới công suất. Đối với các dự án tồn đọng, cần phân loại theo nguyên nhân để áp dụng phương án xử lý phù hợp. Những dự án còn khả năng phát huy hiệu quả phải được tháo gỡ vướng mắc, tiếp tục triển khai; dự án không còn khả thi phải được chấm dứt và giải phóng nguồn lực. Đối với cơ sở nhà, đất dôi dư, cần công khai hiện trạng, giá trị, phương án xử lý; ưu tiên chuyển đổi những cơ sở phù hợp thành trường học, cơ sở y tế, thiết chế văn hóa hoặc công trình phục vụ cộng đồng.
Thứ tư, đổi mới phương thức kiểm tra, thanh tra, kiểm toán, giám sát và xử lý hành vi gây lãng phí
Cơ quan kiểm tra, thanh tra và kiểm toán cần tăng cường kiểm tra trách nhiệm người đứng đầu; xử lý nghiêm trường hợp buông lỏng quản lý, né tránh trách nhiệm hoặc để tài sản, dự án bị bỏ không, xuống cấp. Cần theo dõi, đôn đốc và công khai việc thực hiện kết luận thanh tra, kiểm toán; coi việc thu hồi nguồn lực và khắc phục hậu quả là một tiêu chí quan trọng đánh giá hiệu quả xử lý lãng phí. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, trí tuệ nhân tạo và phân tích dữ liệu để phát hiện các dấu hiệu bất thường trong mua sắm, đầu tư, giải ngân và sử dụng tài sản công; cảnh báo sớm nguy cơ thất thoát và lãng phí.
Thứ năm, nâng cao hiệu quả công khai, xây dựng dữ liệu liên thông và phát huy giám sát xã hội
Cần xây dựng cơ sở dữ liệu liên thông về ngân sách, đầu tư công, đất đai, tài sản công và tiến độ dự án. Mỗi dự án, tài sản phải có thông tin thống nhất về cơ quan quản lý, tình trạng pháp lý, mức đầu tư, hiện trạng sử dụng và phương án xử lý. Việc đầu tư phần mềm và hạ tầng số phải tuân thủ kiến trúc, tiêu chuẩn và khả năng kết nối dùng chung; hạn chế đầu tư trùng lặp, phân tán và duy trì nhiều hệ thống có chức năng tương tự. Thông tin về chương trình tiết kiệm, chống lãng phí; báo cáo kết quả; dự án tồn đọng; tài sản dôi dư; kết quả thanh tra, kiểm toán và xử lý hành vi gây lãng phí phải được công khai đầy đủ, dễ tiếp cận và có khả năng so sánh. Mở rộng các kênh tiếp nhận phản ánh, kiến nghị của người dân; công khai tiến độ và kết quả xử lý; thực hiện nghiêm các quy định bảo vệ người tố cáo, người phản ánh và người đấu tranh chống lãng phí. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, các tổ chức chính trị – xã hội, cơ quan báo chí và Nhân dân cần tăng cường giám sát việc quản lý ngân sách, tài sản công, đất đai, đầu tư công, chuyển đổi số và xử lý các cơ sở nhà, đất dôi dư sau sắp xếp tổ chức bộ máy.
3. Kết luận
Thời gian qua, công tác phòng, chống lãng phí ở Việt Nam đã đạt được những kết quả quan trọng. Hệ thống chủ trương, pháp luật tiếp tục được hoàn thiện; việc rà soát, xử lý dự án tồn đọng, cơ sở nhà, đất dôi dư và thu hồi nguồn lực được đẩy mạnh; hoạt động kiểm tra, thanh tra, kiểm toán và giám sát ngày càng được tăng cường. Tuy nhiên, nhận thức chưa được chuyển hóa đầy đủ thành hành vi công vụ; thể chế còn một số điểm chồng chéo; số lượng dự án và tài sản chưa được xử lý còn lớn; công khai, liên thông dữ liệu và cảnh báo sớm chưa đáp ứng yêu cầu; vai trò giám sát xã hội chưa được phát huy đồng đều. Vì vậy, nâng cao hiệu quả phòng, chống lãng phí đòi hỏi thực hiện đồng bộ các giải pháp tương ứng với từng nhóm hoạt động: xây dựng văn hóa tiết kiệm; hoàn thiện thể chế; nâng cao trách nhiệm quản lý và hiệu quả sử dụng nguồn lực; đổi mới kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm; phát triển quản trị dựa trên dữ liệu và phát huy sự tham gia của Nhân dân. Từ đó góp phần khơi thông, giải phóng và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nâng cao chất lượng quản trị quốc gia và tạo động lực cho đất nước phát triển nhanh, bền vững trong giai đoạn mới./.
Ngày nhận bài: 24/5/2026; Ngày thẩm định: 26/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email liên hệ: [email protected]
————————————————-
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2006). Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 21/8/2006 Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X “về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí”.
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2026). Nghị quyết số 04-NQ/TW ngày 01/4/2026 Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV “về tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực trong giai đoạn mới”.
Ban Nội chính Trung ương (2026). Phiên họp thứ 30 của Ban Chỉ đạo Trung ương về phòng, chống tham nhũng, lãng phí, tiêu cực, ngày 18/6/2026. Cổng Thông tin điện tử Ban Nội chính Trung ương. https://noichinh.vn.
Chính phủ (2025). Báo cáo của Chính phủ về tình hình thực hiện kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội và ngân sách nhà nước những tháng đầu năm 2025, trình tại Kỳ họp thứ 9, Quốc hội khóa XV. Báo Điện tử Chính phủ. http://chinhphu.vn.
Hồ Chí Minh (2011). Toàn tập (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia.
Quốc hội (2013). Luật Thực hành tiết kiệm, chống lãng phí số 44/2013/QH13 ngày 26/11/2013.
Quốc hội (2025). Luật Tiết kiệm, chống lãng phí năm 2025.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)
