TS. NGUYỄN XUÂN TIỆP
Học viện Chính trị khu vực II
ThS. PHẠM TRẦN QUỲNH MAI
Học viện Chính trị khu vực II
Tóm tắt: Phát triển khoa học, công nghệ là yêu cầu chiến lược nhằm tạo động lực tăng trưởng mới, nâng cao năng suất lao động, phát triển lực lượng sản xuất hiện đại và năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam trong bối cảnh mới. Trên cơ sở vận dụng phương pháp lịch sử, logic, phân tích và tổng hợp tài liệu, bài viết làm rõ cơ sở chính trị, pháp lý, yêu cầu thực tiễn; đánh giá những kết quả chủ yếu và các vấn đề đặt ra trong phát triển khoa học, công nghệ ở Việt Nam hiện nay. Từ đó, bài viết đề xuất một số giải pháp nhằm đưa khoa học, công nghệ thực sự trở thành động lực trực tiếp của phát triển nhanh và bền vững.
Từ khóa: khoa học, công nghệ; Nghị quyết số 57-NQ/TW; Việt Nam
DEVELOPING SCIENCE AND TECHNOLOGY IN THE SPIRIT OF RESOLUTION NO. 57-NQ/TW OF THE POLITBURO
Abstract: Developing science and technology is a strategic requirement for creating new growth drivers, improving labour productivity, advancing modern productive forces, and strengthening Viet Nam’s technological self-reliance in the new context. Using a historical and logical approach and methods of document analysis, synthesis, the article clarifies the political and legal foundations and practical requirements; assesses the current situation, major achievements, and key issues in the development of science and technology in Viet Nam; and proposes solutions to make science and technology a direct driver of rapid and sustainable development.
Keywords: science and technology; Resolution No. 57-NQ/TW; Viet Nam
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh kinh tế tri thức, kinh tế số và cạnh tranh công nghệ toàn cầu phát triển mạnh mẽ, năng lực tạo lập tri thức, tiếp nhận, hấp thụ, cải tiến, làm chủ và ứng dụng công nghệ trở thành điều kiện trực tiếp để nâng cao năng lực phát triển quốc gia. Khi các động lực tăng trưởng dựa chủ yếu vào vốn, lao động giá rẻ và khai thác tài nguyên dần bộc lộ giới hạn, khoa học, công nghệ ngày càng giữ vai trò nền tảng trong chuyển đổi mô hình tăng trưởng của Việt Nam. Năng lực tạo lập và ứng dụng tri thức khoa học có vai trò quan trọng đối với năng suất, chất lượng tăng trưởng và sức cạnh tranh quốc gia; đồng thời gắn với quá trình hiện đại hóa lực lượng sản xuất, nâng cao năng lực quản trị và vị thế của đất nước trong cạnh tranh quốc tế.
Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia” khẳng định: “Phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính để phát triển nhanh lực lượng sản xuất hiện đại, hoàn thiện quan hệ sản xuất, đổi mới phương thức quản trị quốc gia, phát triển kinh tế – xã hội, ngăn chặn nguy cơ tụt hậu, đưa đất nước phát triển bứt phá, giàu mạnh trong kỷ nguyên mới” (Bộ Chính trị, 2024). Theo đó, khoa học, công nghệ là nền tảng tạo lập tri thức và năng lực sản xuất; đổi mới sáng tạo là phương thức chuyển hóa tri thức, công nghệ thành giá trị; chuyển đổi số tạo lập môi trường tổ chức mới để tri thức, dữ liệu và công nghệ được khai thác trên quy mô rộng hơn, với tốc độ nhanh hơn và mức độ kết nối cao hơn.
Bài viết sử dụng phương pháp lịch sử, logic, phân tích và tổng hợp tài liệu để làm rõ thực trạng và những vấn đề đặt ra, đồng thời đề xuất các giải pháp nhằm chuyển hóa khoa học, công nghệ thành động lực trực tiếp của phát triển nhanh, bền vững và tự chủ.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Thực trạng phát triển khoa học, công nghệ ở Việt Nam
Những năm gần đây, khoa học, công nghệ ở Việt Nam có những chuyển biến tích cực về quy mô hệ thống tổ chức, nguồn lực đầu tư, nhân lực nghiên cứu và năng lực công bố khoa học quốc tế. Hệ thống tổ chức khoa học, công nghệ từng bước được củng cố; nguồn lực đầu tư ngoài nhà nước có xu hướng gia tăng; năng lực nghiên cứu, công bố quốc tế được nâng lên. Chủ trương, chính sách về khoa học, công nghệ tiếp tục được hoàn thiện theo hướng đề cao vai trò của doanh nghiệp, phát triển thị trường công nghệ và thúc đẩy khai thác tài sản trí tuệ. Những chuyển biến đó cho thấy khoa học, công nghệ ngày càng được quan tâm đầu tư và từng bước khẳng định vai trò đối với quá trình phát triển đất nước.
Một là, năng lực đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và mức độ sẵn sàng đối với công nghệ mới tiếp tục được cải thiện
Việt Nam xếp thứ 44 trong số 139 nền kinh tế về Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn cầu năm 2025 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025d). Chỉ số chuyển đổi số quốc gia năm 2024 đạt 0,7955 điểm, tăng 8,6% so với năm 2023 (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025e). Theo Chỉ số sẵn sàng về trí tuệ nhân tạo của Chính phủ năm 2024, Việt Nam xếp thứ 51 trong số 188 quốc gia và vùng lãnh thổ (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025c). Các chỉ số trên cho thấy sự cải thiện ở một số phương diện về năng lực đổi mới sáng tạo, mức độ chuyển đổi số quốc gia và khả năng chuẩn bị chính sách đối với trí tuệ nhân tạo. Tuy nhiên, các chỉ số có phạm vi và phương pháp đo lường khác nhau, nên không được cộng gộp để thay thế cho đánh giá toàn diện về chính phủ số, kinh tế số và xã hội số.
Hai là, hệ thống tổ chức nghiên cứu và nguồn lực dành cho nghiên cứu, phát triển từng bước được mở rộng
Tính đến ngày 25/12/2025, cả nước có 461 tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; tổng chi cho nghiên cứu và phát triển đạt 42.784 tỉ đồng, trong đó, kinh phí ngoài ngân sách nhà nước chiếm 67,22% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2026). Cùng thời điểm, Việt Nam có 22.316 bài báo được công bố trên các tạp chí khoa học và công nghệ quốc tế; 53 tổ chức khoa học và công nghệ được SCImago xếp hạng (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2026). Các số liệu trên phản ánh sự mở rộng về quy mô tổ chức, nguồn lực đầu tư và năng lực tạo lập tri thức khoa học của Việt Nam.
Ba là, hệ sinh thái doanh nghiệp khoa học và công nghệ từng bước hình thành, nhưng tốc độ phát triển và khả năng thụ hưởng chính sách còn hạn chế
Số lượng doanh nghiệp khoa học và công nghệ mới đạt khoảng 30% mục tiêu đề ra trong các chiến lược phát triển khoa học, công nghệ; tỉ lệ doanh nghiệp hình thành từ viện nghiên cứu, trường đại học và tổ chức khoa học, công nghệ công lập còn khiêm tốn; việc tiếp cận, thụ hưởng chính sách ưu đãi chưa đạt kỳ vọng (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025f). Thực trạng này cho thấy hoạt động kết nối cung – cầu công nghệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển giao kết quả nghiên cứu và ứng dụng kết quả nghiên cứu vào sản xuất còn nhiều hạn chế.
Bốn là, quy mô nhân lực nghiên cứu và phát triển tiếp tục gia tăng, nhưng cơ cấu phân bố chưa đáp ứng đầy đủ yêu cầu đổi mới công nghệ
Theo số liệu công bố năm 2025 từ kết quả điều tra nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ năm 2021, nhân lực nghiên cứu và phát triển gồm 31.794 người trong các tổ chức nghiên cứu và phát triển; 95.501 người trong các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng; 4.700 người trong các tổ chức dịch vụ khoa học và công nghệ; 22.092 người trong cơ quan hành chính và các đơn vị sự nghiệp khác; 33.211 người trong doanh nghiệp (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025b). Năm 2023, đội ngũ nhà nghiên cứu gồm 27.302 người có trình độ tiến sĩ, 67.777 người có trình độ thạc sĩ, 62.025 người có trình độ đại học và 15.937 người có trình độ cao đẳng (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025a). Nhân lực nghiên cứu tập trung nhiều nhất tại các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng, trong khi khu vực doanh nghiệp còn chiếm tỉ trọng tương đối thấp, chưa tạo được sức kéo đủ mạnh đối với đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu.
Năm là, năng lực công bố và chất lượng học thuật quốc tế được nâng lên
Theo dữ liệu Scopus được công bố năm 2025, chỉ số tác động trích dẫn theo lĩnh vực của Việt Nam năm 2024 đạt 1,18, cao hơn 18% so với mức trung bình toàn cầu; chỉ số này được duy trì trên mức 1,0 từ năm 2015, dao động trong khoảng từ 1,09 đến 1,46 (Thống kê Khoa học, Công nghệ và Đổi mfới sáng tạo, 2025). Kết quả này cho thấy chất lượng trích dẫn của các công bố khoa học Việt Nam từng bước tiệm cận chuẩn mực quốc tế.
Dữ liệu Web of Science cho thấy, năm 2024, Việt Nam có 14.815 công bố quốc tế, trong đó 154 bài thuộc nhóm 1% công bố được trích dẫn nhiều nhất thế giới, chiếm 1,04%; 1.184 bài thuộc nhóm 10% công bố được trích dẫn cao nhất, chiếm 7,99% tổng số công bố (Thống kê Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo, 2025). Các chỉ số này phản ánh sự cải thiện về năng lực nghiên cứu, khả năng tham gia mạng lưới khoa học quốc tế và mức độ tiếp cận chuẩn mực học thuật. Sự gia tăng số lượng công bố quốc tế gắn với việc mở rộng mạng lưới tổ chức nghiên cứu, phát triển nhân lực, đào tạo sau đại học, tăng cường hợp tác quốc tế và từng bước đổi mới cơ chế đánh giá hoạt động nghiên cứu. Tuy nhiên, mức độ tác động của từng nhân tố đến số lượng và chất lượng công bố cần tiếp tục được kiểm chứng bằng các nghiên cứu chuyên sâu.
Sáu là, hoạt động xác lập và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ có bước phát triển, nhưng năng lực tạo lập tài sản trí tuệ của các chủ thể trong nước còn hạn chế
Theo số liệu của Cục Sở hữu trí tuệ được Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh công bố, năm 2024 Việt Nam có 9.904 đơn đăng ký sáng chế, tăng hơn 2,2 lần so với năm 2014 (Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh, 2025). Tuy nhiên, phần lớn đơn đăng ký sáng chế do các chủ thể nước ngoài nộp; số lượng đơn của các chủ thể Việt Nam có xu hướng tăng, nhưng tỉ trọng vẫn còn khiêm tốn. Điều đó cho thấy hoạt động đăng ký, bảo hộ sáng chế đã có bước phát triển, nhưng năng lực tạo lập tài sản trí tuệ của các chủ thể trong nước cần tiếp tục được nâng cao.
Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển khoa học, công nghệ ở Việt Nam vẫn đặt ra một số vấn đề cần tập trung giải quyết. Cụ thể:
Thứ nhất, năng lực thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn hạn chế
Sự gia tăng về số lượng tổ chức nghiên cứu, nhân lực, công bố khoa học, hoạt động xác lập, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cho thấy năng lực tạo lập tri thức của Việt Nam đã được nâng lên. Tuy nhiên, nhiều kết quả nghiên cứu vẫn dừng lại ở khâu nghiệm thu, công bố hoặc báo cáo chuyên môn; các công đoạn hoàn thiện công nghệ, thử nghiệm, kiểm định, định giá, chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ, huy động vốn và tổ chức sản xuất chưa hình thành một chuỗi liên thông.
Khoảng cách giữa nghiên cứu và ứng dụng bắt nguồn từ sự liên kết chưa chặt chẽ giữa quá trình xác lập nhiệm vụ khoa học, nhu cầu đổi mới công nghệ của doanh nghiệp và yêu cầu của thị trường. Cơ chế phân bổ nhiệm vụ, hỗ trợ thử nghiệm và tài chính cho giai đoạn sau nghiên cứu chưa tạo được động lực đủ mạnh để chia sẻ rủi ro thị trường. Sự phát triển chưa tương xứng của doanh nghiệp khoa học và công nghệ là biểu hiện rõ nét của khoảng cách giữa kết quả nghiên cứu với năng lực tổ chức sản xuất và hình thành sản phẩm có thị trường. Hệ quả là tri thức khoa học chưa được chuyển hóa đầy đủ thành sức sản xuất, hạn chế khả năng hình thành các công nghệ, sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao trong nước.
Thứ hai, hội nhập khoa học, công nghệ và chuyển đổi số ngày càng sâu rộng, trong khi năng lực tự chủ công nghệ còn hạn chế
Việt Nam đã mở rộng hợp tác nghiên cứu, tham gia sâu hơn vào mạng lưới tri thức quốc tế, tăng cường hạ tầng số và tiếp cận các công nghệ mới. Hội nhập tạo điều kiện tiếp nhận tri thức, thiết bị, quy trình quản trị, tiêu chuẩn kỹ thuật và kinh nghiệm tổ chức phát triển công nghệ. Tuy nhiên, quá trình tiếp nhận công nghệ chưa được chuyển hóa đầy đủ thành năng lực nghiên cứu, thiết kế, cải tiến và làm chủ công nghệ lõi.
Tự chủ công nghệ đòi hỏi năng lực lựa chọn hướng nghiên cứu, phát triển công nghệ nền tảng, xác lập và khai thác quyền sở hữu trí tuệ, tổ chức sản xuất và tham gia các khâu có giá trị gia tăng cao trong chuỗi công nghệ. Ở nhiều lĩnh vực công nghệ chiến lược, như bán dẫn, trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, vật liệu mới, công nghệ lượng tử và công nghệ xanh, Việt Nam còn phụ thuộc đáng kể vào thiết bị, phần mềm, nền tảng, tiêu chuẩn kỹ thuật và công nghệ từ bên ngoài. Sự phụ thuộc này hạn chế năng lực bảo đảm an ninh công nghệ, khả năng thích ứng trước biến động của chuỗi cung ứng và vị thế cạnh tranh công nghệ của doanh nghiệp Việt Nam.
Thứ ba, quy mô nhân lực khoa học, công nghệ được mở rộng, nhưng đội ngũ chuyên gia đầu ngành chưa đáp ứng yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược
Sự phát triển của giáo dục đại học, đào tạo sau đại học và hệ thống tổ chức nghiên cứu đã tạo ra lực lượng nhân lực khoa học, công nghệ ngày càng đông đảo. Tuy nhiên, gia tăng về quy mô chưa đồng nghĩa với gia tăng tương ứng về năng lực dẫn dắt nghiên cứu, phát triển công nghệ chiến lược và giải quyết các nhiệm vụ khoa học có độ phức tạp cao. Cơ cấu nhân lực nghiên cứu vẫn tập trung chủ yếu trong khu vực giáo dục đại học và các tổ chức nghiên cứu công lập, trong khi lực lượng nghiên cứu tại doanh nghiệp chiếm tỉ trọng hạn chế trong hoạt động đổi mới công nghệ và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Thực trạng này gắn với những hạn chế trong đào tạo nhân lực trình độ cao, thu hút và trọng dụng nhân tài, cũng như trong tổ chức các nhiệm vụ nghiên cứu quy mô lớn.
Thứ tư, đầu tư cho khoa học, công nghệ có xu hướng tăng, nhưng hiệu quả sử dụng nguồn lực chưa tương xứng
Nguồn lực đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ngày càng được mở rộng, trong đó, tỉ trọng kinh phí từ khu vực xã hội có xu hướng gia tăng. Tuy nhiên, cơ chế phân bổ, quản lý, thanh quyết toán, đánh giá nhiệm vụ và tổ chức thực hiện chưa theo kịp đặc thù của hoạt động nghiên cứu và phát triển. Vấn đề này thể hiện ở khoảng cách giữa quy mô nguồn lực được huy động với mức độ tập trung cho các nhiệm vụ ưu tiên, khả năng chấp nhận rủi ro có kiểm soát, thời gian cần thiết cho nghiên cứu và cơ chế đánh giá đầu ra thực chất.
2.2. Giải pháp phát triển khoa học, công nghệ ở Việt Nam hiện nay theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW
Một là, hoàn thiện cơ chế chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành công nghệ, sản phẩm và giá trị thị trường
Trọng tâm là tổ chức lại chuỗi liên kết từ xác định nhu cầu nghiên cứu, đặt hàng nhiệm vụ, đồng đầu tư, thử nghiệm, hoàn thiện công nghệ, định giá tài sản trí tuệ, chuyển giao, tổ chức sản xuất đến mở rộng thị trường. Doanh nghiệp cần tham gia ngay từ khâu xác lập nhiệm vụ, đồng đầu tư, thử nghiệm và khai thác kết quả; viện nghiên cứu, trường đại học cần gắn hoạt động nghiên cứu với nhu cầu đổi mới công nghệ và phát triển sản phẩm của doanh nghiệp.
Nghị quyết số 57-NQ/TW yêu cầu phát triển viện nghiên cứu và trường đại học trở thành những chủ thể nghiên cứu mạnh, kết hợp chặt chẽ giữa nghiên cứu, ứng dụng và đào tạo (Bộ Chính trị, 2024). Hoạt động thương mại hóa cần tập trung vào định giá, chuyển giao, khai thác quyền sở hữu trí tuệ và phát triển các dịch vụ trung gian. Cần có cơ chế khuyến khích mua sắm công đối với sản phẩm được hình thành từ kết quả nghiên cứu của doanh nghiệp trong nước, qua đó tạo lập thị trường ban đầu cho công nghệ nội sinh (Bộ Chính trị, 2024). Các quỹ phát triển khoa học, công nghệ, cơ chế đồng tài trợ và chính sách hỗ trợ thử nghiệm cần ưu tiên cho giai đoạn hoàn thiện công nghệ, mở rộng sản xuất và đưa sản phẩm ra thị trường.
Hai là, nâng cao năng lực tự chủ công nghệ trên cơ sở hội nhập quốc tế có chọn lọc
Nguồn lực cần được tập trung cho trí tuệ nhân tạo, công nghệ sinh học, công nghệ lượng tử, bán dẫn, năng lượng nguyên tử và các công nghệ chiến lược khác; đồng thời, đẩy mạnh hợp tác nghiên cứu, chuyển giao công nghệ tiên tiến và tham gia xây dựng quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế đối với công nghệ mới (Bộ Chính trị, 2024).
Hợp tác quốc tế cần hướng vào tiếp nhận tri thức, đào tạo nhân lực, nâng cao năng lực cải tiến và từng bước làm chủ công nghệ trong nước. Nâng cao năng lực tự chủ công nghệ đòi hỏi phải xác định rõ lĩnh vực ưu tiên, chủ thể dẫn dắt, sản phẩm công nghệ mục tiêu và cơ chế phối hợp giữa cơ quan quản lý, viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Hoạt động nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao công nghệ phải bảo đảm liêm chính khoa học, đạo đức nghiên cứu, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và thực hiện trách nhiệm xã hội.
Ba là, tái cơ cấu nguồn nhân lực khoa học, công nghệ theo yêu cầu phát triển công nghệ chiến lược
Chính sách đào tạo cần ưu tiên các lĩnh vực toán học, vật lý, sinh học, hóa học, kỹ thuật và công nghệ then chốt, nhất là ở trình độ sau đại học; đồng thời, xây dựng cơ chế thu hút, trọng dụng các nhà khoa học đầu ngành, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài và chuyên gia quốc tế (Bộ Chính trị, 2024).
Các trường đại học và viện nghiên cứu cần phát triển đội ngũ giảng viên, nhà nghiên cứu có năng lực giảng dạy, nghiên cứu về khoa học cơ bản, công nghệ bán dẫn, vi mạch và các lĩnh vực công nghệ ưu tiên; gắn đào tạo với nhiệm vụ nghiên cứu, yêu cầu phát triển doanh nghiệp và nhu cầu công nghệ của đất nước (Bộ Chính trị, 2024). Phát triển nhân lực khoa học, công nghệ cần gắn với môi trường nghiên cứu tự chủ, hạ tầng hiện đại, hệ thống phòng thí nghiệm phục vụ nghiên cứu liên ngành và cơ chế luân chuyển nhân lực giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp. Việc đánh giá, trọng dụng nhân lực cần dựa trên năng lực dẫn dắt nghiên cứu, tổ chức dự án công nghệ, tạo lập tài sản trí tuệ và chuyển hóa kết quả nghiên cứu thành giá trị thực tiễn.
Bốn là, đổi mới cơ chế đầu tư, quản lý và đánh giá hiệu quả hoạt động khoa học, công nghệ
Cần cụ thể hóa các mục tiêu của Nghị quyết số 57-NQ/TW thành chương trình, đề án và kế hoạch hành động, trong đó xác định rõ lộ trình, nguồn lực, trách nhiệm thực hiện và cơ chế giám sát. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu khẩn trương hoàn thiện thể chế, tháo gỡ các rào cản cản trở sự phát triển và đưa thể chế trở thành lợi thế cạnh tranh trong phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số (Bộ Chính trị, 2024).
Cơ chế quản lý khoa học, công nghệ cần chuyển từ trọng tâm kiểm soát thủ tục sang quản trị theo kết quả, giá trị khoa học, công nghệ, khả năng ứng dụng và tác động xã hội. Cần tiếp tục rà soát các quy định về tài chính, đầu tư, tài sản công, sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ và quản lý nhiệm vụ khoa học theo hướng chấp nhận rủi ro có kiểm soát, trao quyền tự chủ cao hơn cho tổ chức nghiên cứu và nhà khoa học (Bộ Chính trị, 2024).
Các bộ, ngành và địa phương cần xác định rõ trách nhiệm tổ chức thực hiện; xây dựng hệ thống chỉ tiêu đánh giá phù hợp với đặc điểm của từng loại nhiệm vụ; gắn kết quả khoa học, công nghệ với khả năng ứng dụng và tác động kinh tế – xã hội; tập trung nguồn lực cho các nhiệm vụ trọng tâm, bảo đảm tính liên tục của các chương trình nghiên cứu.
3. Kết luận
Phát triển khoa học, công nghệ là yêu cầu chiến lược đối với quá trình đổi mới mô hình tăng trưởng, hiện đại hóa lực lượng sản xuất, nâng cao năng suất lao động và củng cố năng lực tự chủ công nghệ của Việt Nam trong bối cảnh mới. Theo tinh thần Nghị quyết số 57-NQ/TW, khoa học, công nghệ cần được xác định là nguồn lực nền tảng của phát triển, gắn chặt với đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển thị trường công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.
Bài viết đã khái quát thực trạng phát triển khoa học, công nghệ ở Việt Nam trên các phương diện: hệ thống tổ chức nghiên cứu, nguồn lực xã hội hóa, nhân lực, công bố khoa học quốc tế, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và bảo hộ tài sản trí tuệ. Quá trình phát triển bộc lộ bốn vấn đề chủ yếu: giữa năng lực nghiên cứu với khả năng thương mại hóa kết quả; giữa hội nhập quốc tế với tự chủ công nghệ; giữa quy mô nhân lực với năng lực của đội ngũ chuyên gia đầu ngành; giữa quy mô đầu tư với hiệu quả sử dụng nguồn lực. Giải quyết những vấn đề trên đòi hỏi phải hoàn thiện cơ chế thương mại hóa liên thông, tập trung đầu tư cho các công nghệ chiến lược, phát triển nhân lực trình độ cao và đổi mới quản trị khoa học theo kết quảq
Ngày nhận bài: 06/5/2026; Ngày thẩm định: 08/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email: [email protected]
——————————————-
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2024). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị “về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025a). Số lượng nhà nghiên cứu theo trình độ qua các năm. https://mst.gov.vn. Ngày 06/7/2025.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025b). Nhân lực Nghiên cứu và Phát triển theo khu vực thực hiện. https://mst.gov.vn. Ngày 04/8/2025
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025c) AI – Hạ tầng trí tuệ của kỷ nguyên mới: Sức mạnh không giới hạn và thách thức khó dự báo. https://mst.gov.vn. Ngày 15/9/2025.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025d). GII 2025: Việt Nam duy trì vị trí 44 thế giới, đứng thứ 3 ASEAN. https://mst.gov.vn.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025e). Công bố kết quả xếp hạng mức độ chuyển đổi số năm 2024: Việt Nam tăng tốc, hướng tới chuyển đổi số toàn diện. https://mst.gov.vn. Ngày 21/10/2025
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025f). Tháo gỡ điểm nghẽn, thúc đẩy phát triển doanh nghiệp khoa học, công nghệ và thị trường công nghệ. https://mst.gov.vn. Ngày 01/12/2025
Bộ Khoa học và Công nghệ (ngày 06/01/2026). Số liệu nổi bật lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2025. https://mst.gov.vn.
Chính phủ (2025a). Nghị quyết số 03/NQ-CP ngày 09/01/2025 ban hành “Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị”.
Chính phủ (2025b). Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025“sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.
Chính phủ (2026). Nghị quyết số 11/NQ-CP ngày 14/01/2026 “sửa đổi, bổ sung, cập nhật Nghị quyết số 71/NQ-CP ngày 01/4/2025 của Chính phủ về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia”.
Quốc hội (2025). Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025.
Thống kê Khoa học, Công nghệ và Đổi mới sáng tạo (ngày 01/10/2025). Chất lượng công bố khoa học trên các tạp chí quốc tế. https://thongkekhoahoc.vn.
Trung tâm Thông tin và Thống kê Khoa học và Công nghệ Thành phố Hồ Chí Minh (ngày 03/10/2025). Xu hướng đăng ký sáng chế tại Việt Nam, giai đoạn 2014 – 2024. https://thongke.cesti.gov.vn
Thủ tướng Chính phủ (2026). Quyết định số 1091/QĐ-TTg ngày 17/6/2026 phê duyệt “Đề án hình thành các doanh nghiệp công nghệ chiến lược quy mô lớn trong nước để phát triển hạ tầng số, nhân lực số, dữ liệu số, công nghệ chiến lược, an ninh mạng giai đoạn 2026-2030”.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)
