TS. PHAN THỊ THANH HOA
Trường Đại học Kiên Giang
Tóm tắt: Bài viết làm rõ cơ sở lý luận, thực trạng và định hướng phát triển văn hóa gắn với xây dựng con người Việt Nam hiện đại trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế. Trên cơ sở phân tích văn kiện và dữ liệu thứ cấp, nghiên cứu xác định phát triển văn hóa là quá trình sáng tạo, phổ biến, thực hành và hiện thực hóa các giá trị thông qua thiết chế, môi trường, sản phẩm và hoạt động văn hóa; con người Việt Nam hiện đại là chủ thể có bản lĩnh, đạo đức, tri thức, năng lực sáng tạo, ý thức pháp quyền, năng lực số, sức khỏe và khả năng hội nhập trên nền tảng bản sắc dân tộc. Bài viết chỉ ra mối quan hệ giữa văn hóa và con người, đánh giá kết quả, hạn chế, nguyên nhân, đồng thời đề xuất các nhóm giải pháp phát triển văn hóa gắn với con người Việt Nam hiện đại.
Từ khóa: con người Việt Nam hiện đại; hệ giá trị; phát triển văn hóa; phát triển con người; sức mạnh nội sinh
CULTURAL DEVELOPMENT IN ASSOCIATION WITH BUILDING MODERN VIETNAMESE PEOPLE
Abstract: This article clarifies the theoretical foundations, current situation and orientations for linking cultural development with the building of modern Vietnamese people amid digital transformation, the knowledge economy and international integration. Based on policy document analysis and secondary data, it defines cultural development as the creation, dissemination, practice and institutionalization of values through cultural institutions, environments, products and activities. Modern Vietnamese people are understood as citizens with political steadfastness, ethical integrity, knowledge, creativity, legal and digital competence, physical and mental well-being and the capacity for international integration grounded in national identity. The article identifies the two-way mechanism between culture and people, assesses achievements, limitations and causes and proposes groups of solutions to develop culture in association with fostering modern Vietnamese people.
Keywords: modern Vietnamese people; value system; cultural development; human development; endogenous strength
1. Đặt vấn đề
Văn hóa là nền tảng tinh thần, định hướng mục tiêu, tạo năng lực sáng tạo, điều chỉnh nhận thức và hành vi xã hội. Con người không chỉ là nguồn nhân lực phục vụ tăng trưởng mà còn là chủ thể sáng tạo mục tiêu và tiêu chuẩn đánh giá chất lượng phát triển. Vì vậy, gắn phát triển văn hóa với xây dựng con người có ý nghĩa trực tiếp đối với Việt Nam trong bối cảnh chuyển đổi số, kinh tế tri thức, hội nhập quốc tế.
Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 của Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước” xác định phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người và xây dựng con người để phát triển văn hóa. Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị “về phát triển văn hóa Việt Nam” tiếp tục đặt văn hóa, con người vào vị trí trung tâm, nhấn mạnh công nghiệp văn hóa, dữ liệu, chủ quyền văn hóa số và quan hệ giữa truyền thống với hiện đại. Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 của Quốc hội “về phát triển văn hóa Việt Nam” thể chế hóa cơ chế, chính sách và nguồn lực phát triển văn hóa, trong đó quy định mức chi hằng năm tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước (Bộ Chính trị, 2026; Quốc hội, 2026). Từ những vấn đề lý luận và thực tiễn, bài viết đề xuất các giải pháp để phát huy giá trị văn hóa gắn với phát triển con người Việt Nam hiện đại trong quá trình phát triển đất nước.
Bài viết sử dụng cách tiếp cận liên ngành giữa triết học văn hóa, phát triển con người và phân tích chính sách. Phương pháp chủ yếu là phân tích nội dung các văn kiện của Đảng, Nhà nước giai đoạn 2014 – 2026.
Quy trình phân tích gồm bốn bước: phân định khái niệm; mã hóa nội dung về giá trị, thiết chế, môi trường, chủ thể và kết quả; đối chiếu mục tiêu chính sách với dữ liệu thực tiễn; tổng hợp thành khung quan hệ và nhóm giải pháp. Nghiên cứu tập trung xác lập cơ chế lý luận và hàm ý chính sách.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Khái quát về phát triển văn hóa và xây dựng con người Việt Nam hiện đại
Văn hóa được hiểu là tổng thể các giá trị, chuẩn mực, tri thức, biểu tượng, thực hành và thiết chế do con người sáng tạo, lưu truyền, sử dụng để định hướng đời sống. Theo đó, văn hóa hiện diện trong gia đình, nhà trường, công sở, doanh nghiệp, cộng đồng; trong pháp luật, sản phẩm sáng tạo, thị trường văn hóa và trên không gian số.
Phát triển văn hóa không chỉ là gia tăng số lượng công trình, lễ hội hay sản phẩm, mà là quá trình kế thừa, sáng tạo, phổ biến và hiện thực hóa các giá trị tiến bộ; hoàn thiện thiết chế, môi trường để con người sáng tạo, tham gia, thụ hưởng; phát triển năng lực sản xuất, phân phối, tiếp nhận sản phẩm và khả năng tự điều chỉnh trước phản giá trị. Quá trình này gồm năm chiều cạnh: hệ giá trị; môi trường và thiết chế; chủ thể sáng tạo; sản phẩm, dịch vụ và công nghiệp văn hóa; sự tham gia, tiếp cận và công bằng văn hóa.
Văn hóa trở thành nguồn lực nội sinh khi tạo ra năng lực hợp tác, niềm tin, sáng tạo, chất lượng thể chế, sản phẩm có giá trị gia tăng. Tuy nhiên, không thể chỉ đo văn hóa bằng đóng góp kinh tế, vì điều này dễ dẫn đến thương mại hóa và xem nhẹ giá trị cộng đồng, sự gắn kết, công bằng trong thụ hưởng và quyền tự do sáng tạo.
“Con người Việt Nam hiện đại” là chủ thể lịch sử – xã hội mang bản sắc Việt Nam, có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước, hội nhập quốc tế. Đó là con người yêu nước, nhân ái, nghĩa tình, đoàn kết, trách nhiệm cộng đồng; đồng thời, có năng lực tự chủ, tư duy khoa học, ý thức pháp quyền, khả năng học tập suốt đời, sáng tạo và hợp tác. Tính hiện đại không phủ định truyền thống, mà là khả năng kế thừa có chọn lọc, đổi mới và tạo giá trị trong điều kiện mới (xem Bảng).
Bảng: Khung phẩm chất và năng lực của con người Việt Nam hiện đại
| Nhóm phẩm chất, năng lực | Biểu hiện |
| Bản lĩnh chính trị và trách nhiệm công dân | Đặt lợi ích quốc gia – dân tộc lên trên; thực hiện quyền, nghĩa vụ; tham gia cộng đồng và tôn trọng khác biệt chính đáng. |
| Đạo đức, nhân cách và văn hóa ứng xử | Trung thực, nhân ái, trách nhiệm, hợp tác; ứng xử văn minh trong gia đình, công sở, cộng đồng và không gian số. |
| Tri thức, tư duy khoa học và năng lực sáng tạo | Học tập suốt đời, giải quyết vấn đề, đổi mới sáng tạo và chuyển hóa tri thức thành giá trị xã hội. |
| Sức khỏe thể chất và tinh thần | Biết chăm sóc sức khỏe, cân bằng đời sống, thích ứng với áp lực và kiến tạo hạnh phúc. |
| Ý thức pháp quyền, kỷ luật và năng lực số | Sống, làm việc theo pháp luật; sử dụng công nghệ an toàn, có trách nhiệm; biết kiểm chứng thông tin, bảo vệ dữ liệu. |
| Năng lực hội nhập và giữ gìn bản sắc | Hợp tác liên văn hóa, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa nhân loại và sáng tạo từ vốn văn hóa dân tộc. |
| Tinh thần tự lực, tự cường và cống hiến | Có khát vọng vươn lên, dám chịu trách nhiệm và tạo giá trị cho cộng đồng, đất nước. |
Nguồn: Tác giả phân tích và tổng hợp
Văn hóa do con người sáng tạo, đồng thời định hướng sự hình thành con người bằng hệ giá trị và chuẩn mực. Các giá trị được chuyển tải qua gia đình, nhà trường, cộng đồng, pháp luật, công sở, văn học, nghệ thuật, báo chí, thị trường và nền tảng số. Chất lượng của các thiết chế trung gian quyết định mức độ chuyển hóa giá trị được tuyên bố thành nhận thức, hành vi và lối sống.
Con người không thụ động tiếp nhận văn hóa, mà lựa chọn, diễn giải, thực hành, phản biện và sáng tạo giá trị mới. Mặt khác, con người cũng tạo ra và truyền bá sản phẩm phản giá trị nếu môi trường thể chế, giáo dục và truyền thông không đủ năng lực điều tiết. Vì vậy, mối quan hệ giữa văn hóa và con người không tự động, tuyến tính, mà chịu tác động của điều kiện kinh tế, chất lượng quản trị, mức độ công bằng, công nghệ và năng lực tham gia của chủ thể.
3.2. Thực trạng phát triển văn hóa gắn với xây dựng con người Việt Nam hiện đại
Thứ nhất, những kết quả chủ yếu
Một là, nhận thức và thể chế về vai trò của văn hóa, con người từng bước được hoàn thiện. Từ Nghị quyết số 33-NQ/TW, Kết luận số 76-KL/TW đến Nghị quyết số 80-NQ/TW, tư duy chính sách đã mở rộng từ lĩnh vực tinh thần sang phát triển con người, kinh tế sáng tạo, quản trị, công nghệ và sức mạnh mềm. Nghị quyết số 28/2026/QH16 tiếp tục tạo cơ sở pháp lý về nguồn lực và cơ chế thực hiện. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “nhận thức lý luận về văn hóa đã có nhiều điểm mới, nổi bật, coi văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là mục tiêu và động lực của sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.205).
Hai là, phát triển con người đạt kết quả tích cực. Các chỉ tiêu về xã hội liên tục được cải thiện, đời sống Nhân dân được nâng cao, tiến bộ, công bằng xã hội được chú trọng. “Tuổi thọ trung bình của người dân không ngừng tăng lên, đạt 74,5 tuổi năm 2024. Chỉ số hạnh phúc được nâng lên, xếp thứ 46/143 quốc gia; chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện, đạt 0,766 điểm, là mức cao so với các nước cùng trình độ phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.206). Việc cải thiện đời sống vật chất, tinh thần, nâng cao tuổi thọ và chất lượng giáo dục của người dân cho thấy sự gắn kết chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế với thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và phát triển văn hóa.
Ba là, bảo tồn di sản, phát triển đời sống văn hóa cơ sở, hội nhập và chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa được quan tâm hơn. Nhiều địa phương gắn bảo tồn với du lịch, sinh kế cộng đồng và quảng bá hình ảnh; sản phẩm số, không gian sáng tạo, nghệ thuật đa nền tảng mở rộng khả năng tham gia của công chúng. Công nghiệp văn hóa và kinh tế sáng tạo ngày càng được nhìn nhận như động lực tạo giá trị, việc làm và sức mạnh mềm.
Bốn là, xây dựng con người ngày càng được đặt trong quan hệ với môi trường văn hóa. Gia đình, nhà trường, công sở, cộng đồng và không gian số được nhận diện là những thiết chế trực tiếp hình thành nhân cách; sự phối hợp gia đình – nhà trường – xã hội, giáo dục đạo đức, lịch sử, nghệ thuật, thể chất và kỹ năng số được chú trọng hơn.
Thứ hai, một số hạn chế và khoảng cách phát triển
Một là, “nội dung xây dựng con người còn phiến diện, chỉ tập trung vào đào tạo, bồi dưỡng kiến thức, chưa chú ý giáo dục lý tưởng chính trị, đạo đức, lối sống. Vấn đề chấn hưng đạo đức xã hội có nơi, có lúc mới chỉ nhấn mạnh đến chống các tiêu cực và tệ nạn xã hội, chưa chú trọng kế thừa và phát huy các giá trị tích cực và tốt đẹp của văn hóa truyền thống và xây dựng các giá trị văn hóa, đạo đức mới. Việc học tập và tiếp thu các giá trị văn hóa, đạo đức tiến bộ của nhân loại còn hạn chế và thụ động” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.127). “Xây dựng môi trường văn hóa, đời sống văn hóa còn nhiều hạn chế. Môi trường văn hóa, xã hội tiếp tục bị ô nhiễm bởi các tệ nạn xã hội, tham nhũng, lãng phí, tiêu cực. Đời sống văn hóa ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa còn nhiều khó khăn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.125).
Hai là, quá trình phát triển còn tồn tại nhiều hạn chế và khoảng cách giữa các lĩnh vực. Trong lĩnh vực xã hội, một số mục tiêu phát triển chưa hoàn thành, chất lượng nguồn nhân lực và năng suất lao động còn thấp, hệ thống an sinh xã hội chưa bao phủ rộng, sự chênh lệch về mức sống và các chỉ tiêu phát triển giữa các nhóm dân cư, giữa các địa phương vẫn còn khá lớn. “Một số mục tiêu phát triển xã hội chưa thực hiện được. Năng suất lao động xã hội, chất lượng lao động thấp. Tỉ lệ bao phủ của bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội còn thấp. Mức sống và các chỉ tiêu phát triển giữa các nhóm dân cư trên các địa bàn còn có sự khác biệt lớn” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.220-221). Bên cạnh đó, lĩnh vực văn hóa cũng bộc lộ những khoảng trống nhất định khi quá trình đổi mới thể chế và xây dựng hệ giá trị chưa theo kịp yêu cầu phát triển. Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Thể chế văn hóa chậm đổi mới, chưa theo kịp và đáp ứng với yêu cầu phát triển. Việc xác định và triển khai hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người còn chậm trễ, lúng túng. Công nghiệp văn hóa phát triển chậm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.219). Điều này cho thấy khoảng cách phát triển không chỉ thể hiện ở các chỉ số kinh tế – xã hội, mà còn phản ánh sự phát triển chưa đồng đều giữa các lĩnh vực, đặc biệt là giữa phát triển kinh tế với phát triển văn hóa và con người.
Ba là, hệ giá trị được xác định chưa trở thành chuẩn mực trong nhận thức và hành động của con người. “Các giá trị, chuẩn mực về con người và văn hóa Việt Nam chưa được hình thành rõ nét. Chưa ban hành được hệ giá trị con người và văn hóa Việt Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.221). Các biểu hiện thực dụng, thiếu trung thực, bạo lực ngôn từ, ứng xử thiếu văn minh trên mạng, vi phạm bản quyền và thờ ơ với lợi ích cộng đồng cho thấy khoảng cách giữa giá trị được khẳng định với thực hành xã hội.
Bốn là, thị trường và công nghiệp văn hóa của Việt Nam phát triển chưa tương xứng. Hệ sinh thái sáng tạo thiếu sự liên kết chặt chẽ giữa các khâu, như đào tạo nguồn nhân lực, tài chính, công nghệ, sở hữu trí tuệ, phân phối và quảng bá sản phẩm. Nhiều giá trị văn hóa chưa được chuyển hóa hiệu quả thành các sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao, trong khi sự phát triển mạnh mẽ của các nền tảng nội dung số xuyên biên giới đang tạo ra áp lực cạnh tranh ngày càng lớn đối với các sản phẩm văn hóa trong nước. “Các ngành công nghiệp văn hóa và thị trường sản phẩm, dịch vụ văn hóa phát triển chưa tương xứng với tiềm năng. Còn thiếu những cơ chế, chính sách mang tính đột phá để khơi thông nguồn lực cũng như tạo cơ sở pháp lý để các ngành công nghiệp văn hóa tăng tốc, phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.126).
Năm là, hệ thống dữ liệu và các công cụ đánh giá phát triển con người hiện nay vẫn còn hạn chế. Các chỉ số kinh tế – xã hội, như HDI, mới chỉ phản ánh một số khía cạnh của phát triển con người, chưa đo lường đầy đủ các yếu tố quan trọng như đạo đức, niềm tin xã hội, năng lực sáng tạo, mức độ tham gia hoạt động văn hóa, sức khỏe tinh thần, năng lực số và sự gắn kết cộng đồng. Do đó, việc đánh giá hiệu quả thực hiện chính sách vẫn chủ yếu dựa trên các chỉ tiêu về số lượng hoạt động, công trình hoặc danh hiệu đạt được, thay vì phản ánh chính xác những tác động thực chất đối với sự phát triển con người và xã hội. Đại hội lần thứ XIV của Đảng đánh giá: “Việc thực hiện phát huy vai trò của văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là sức mạnh nội sinh của đất nước chưa tương xứng với tiềm năng, tình trạng xuống cấp về đạo đức, bạo lực trong xã hội, nhất là bạo lực học đường diễn biến phức tạp” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.124).
3.3. Nguyên nhân của những hạn chế
Một là, nhận thức và thể chế thực thi chưa đồng bộ. Ở một số nơi, văn hóa vẫn chưa được nhìn nhận đúng với vai trò là nền tảng tinh thần và động lực nội sinh của sự phát triển, mà chủ yếu được xem là lĩnh vực tiêu dùng ngân sách, dẫn đến việc đầu tư và tổ chức thực hiện chưa tương xứng. Đồng thời, sự phối hợp giữa các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học, công nghệ, thông tin – truyền thông, lao động – xã hội và chính quyền địa phương còn thiếu tính liên kết, chưa hình thành được chuỗi chính sách thống nhất từ xây dựng hệ giá trị, tổ chức thực hiện đến theo dõi, đánh giá hiệu quả. Bên cạnh đó, công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn và dự báo chiến lược còn hạn chế, làm ảnh hưởng đến chất lượng hoạch định và triển khai chính sách. Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu lý luận, dự báo về phát triển con người toàn diện, chấn hưng đạo đức xã hội, xây dựng hệ giá trị con người và văn hóa chưa được chú trọng đúng mức” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.193). Việc cụ thể hóa và triển khai các hệ giá trị nền tảng còn chậm, chưa tạo được sự thống nhất trong nhận thức và hành động giữa các chủ thể: “Việc xác định và triển khai hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người còn chậm trễ, lúng túng. Công nghiệp văn hóa phát triển chậm” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.219).
Hai là, nguồn lực dành cho phát triển văn hóa và con người chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn, trong khi các chính sách về nhân lực và tài chính chưa tạo được động lực phát triển bền vững. Đội ngũ quản lý văn hóa, giáo viên nghệ thuật, nghệ sĩ, chuyên gia công nghệ văn hóa và doanh nghiệp sáng tạo chưa được kết nối thành một hệ sinh thái thống nhất, làm hạn chế khả năng huy động và phát huy các nguồn lực xã hội. Việc chuyển hóa các hệ giá trị thành những chuẩn mực, tiêu chí và cơ chế thực thi cụ thể còn chậm, ảnh hưởng đến hiệu quả triển khai các chính sách phát triển văn hóa và con người. Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Công tác quản lý nhà nước về văn hóa chậm được đổi mới. Đầu tư cho lĩnh vực văn hóa chưa tương xứng và còn dàn trải. Chưa quan tâm đúng mức đến công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn lực con người hoạt động trong lĩnh vực văn hóa, nhất là các nhân tài, các nghệ nhân trong các lĩnh vực văn hóa truyền thống” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.192).
3.4. Những vấn đề mới trong chuyển đổi số và hội nhập
Một là, chuyển đổi số mở rộng tiếp cận, số hóa di sản, phổ biến sản phẩm và tạo không gian sáng tạo mới, nhưng cũng làm biến đổi quá trình hình thành giá trị. Thuật toán đề xuất, kinh tế chú ý, nội dung ngắn và trí tuệ nhân tạo có thể cá nhân hóa trải nghiệm, đồng thời làm tăng nguy cơ phân mảnh thông tin, khép kín quan điểm, xâm phạm dữ liệu và giảm khả năng kiểm chứng. Vì vậy, con người hiện đại cần năng lực số, hiểu nền tảng, bảo vệ dữ liệu và chịu trách nhiệm về hành vi trực tuyến.
Hai là, hội nhập quốc tế gia tăng giao lưu và tiếp biến văn hóa. Do đó, cần nâng cao năng lực tiếp nhận có chọn lọc, đối thoại và sáng tạo trên nền tảng bản sắc. Bản sắc cần được hiểu là khả năng duy trì tính liên tục của cộng đồng trong đổi mới, đòi hỏi nền văn hóa tự tin, cởi mở và có năng lực đóng góp vào các giá trị chung của nhân loại.
Ba là, phát triển con người có nguy cơ bị đồng nhất với hiệu suất kinh tế. Trong kinh tế số, con người dễ được đánh giá chủ yếu bằng kỹ năng và năng suất, trong khi đạo đức, thẩm mỹ, sức khỏe tinh thần, thời gian chăm sóc và tham gia cộng đồng bị xem nhẹ. Vì vậy, cần bảo đảm cân bằng giữa năng lực cạnh tranh với các giá trị nhân văn, giữa tự chủ cá nhân với trách nhiệm xã hội, tăng trưởng với chất lượng sống.
3.5. Định hướng và giải pháp phát triển văn hóa gắn với xây dựng con người Việt Nam hiện đại
Văn hóa và con người được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, sức mạnh nội sinh, nguồn lực và động lực phát triển của đất nước. Yêu cầu đặt ra là phải xây dựng và thực hiện đồng bộ hệ giá trị quốc gia, hệ giá trị văn hóa, hệ giá trị gia đình và chuẩn mực con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới; khơi dậy tinh thần yêu nước, ý chí tự cường, khát vọng vươn lên; nuôi dưỡng lòng nhân ái, nghĩa tình, đề cao sự trung thực, trách nhiệm và ý thức kỷ luật.
Một là, cụ thể hóa hệ giá trị và hoàn thiện thể chế phát triển văn hóa, con người
Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định nhiệm vụ “Phát triển toàn diện con người Việt Nam về đạo đức, trí tuệ, ý thức dân tộc, trách nhiệm công dân, thượng tôn pháp luật, năng lực sáng tạo, thẩm mỹ, thể lực, kỹ năng sống, kỹ năng nghề nghiệp, kỹ năng số” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.378). Vì vậy, cơ quan quản lý văn hóa cần phối hợp với các ngành giáo dục, nội vụ, tư pháp, khoa học, công nghệ và các tổ chức xã hội xây dựng khung gồm giá trị cốt lõi, chuẩn mực hành vi và chỉ báo đánh giá. Cần gắn trách nhiệm với thực hiện cam kết, giải trình và chịu hậu quả khi vi phạm; sáng tạo gắn với năng lực thử nghiệm, hợp tác và tôn trọng sở hữu trí tuệ. Việc thể chế hóa Nghị quyết số 80-NQ/TW của Bộ Chính tri và Nghị quyết số 28/2026/QH16 của Quốc hội phải đồng bộ giữa nguồn lực, phân cấp, giám sát và kết quả. Các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội cần đánh giá tác động văn hóa và con người; trách nhiệm người đứng đầu phải gắn với chất lượng môi trường, mức độ tham gia, khả năng tiếp cận của nhóm yếu thế và tác động đến hành vi.
Hai là, đổi mới giáo dục theo hướng phát triển con người toàn diện
Chương trình giáo dục cần tích hợp đạo đức, pháp luật, lịch sử, nghệ thuật, thể chất, kỹ năng số, tư duy phản biện và hợp tác; giáo dục giá trị phải thông qua tình huống, dự án cộng đồng, trải nghiệm di sản, hoạt động nghệ thuật và thực hành dân chủ. Đánh giá người học cần ghi nhận năng lực giải quyết vấn đề, trách nhiệm, sáng tạo và hành vi hợp tác, không chỉ kết quả thi cử. Gia đình, nhà trường và xã hội cần được kết nối bằng cơ chế cụ thể. Gia đình hình thành nền nếp, cảm xúc đạo đức; nhà trường cung cấp tri thức, phương pháp, năng lực phản biện; cộng đồng tạo không gian thực hành trách nhiệm; truyền thông và nền tảng số định hình thị hiếu. Chính sách cần hỗ trợ phụ huynh về giáo dục số, tăng giáo dục nghệ thuật, tư vấn tâm lý học đường và cơ hội tiếp cận văn hóa cho trẻ em ở khu vực khó khăn.
Ba là, xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh trong đời sống thực và không gian số
Môi trường văn hóa cần được xây dựng đồng bộ trong gia đình, trường học, cơ quan, doanh nghiệp, khu dân cư và không gian số. Trong cơ quan nhà nước, trọng tâm là liêm chính, tinh thần phục vụ, trách nhiệm nêu gương và giải trình; trong doanh nghiệp là đạo đức kinh doanh, bảo vệ người lao động, đổi mới sáng tạo và trách nhiệm xã hội; ở cộng đồng là quyền chủ động của người dân trong tổ chức, giám sát và thụ hưởng hoạt động văn hóa.
Đối với không gian số, quản trị phải kết hợp pháp luật, trách nhiệm nền tảng, minh bạch quảng cáo và thuật toán, bảo vệ trẻ em, giáo dục truyền thông và hỗ trợ nội dung Việt Nam có chất lượng. Cần xây dựng tiêu chuẩn dữ liệu văn hóa, cơ chế bảo vệ bản quyền và đánh giá rủi ro đối với nội dung do trí tuệ nhân tạo tạo ra, đồng thời bảo đảm quyền sáng tạo, tranh luận và tiếp cận thông tin hợp pháp.
Bốn là, phát triển công nghiệp văn hóa và hệ sinh thái sáng tạo
Cần chuyển từ hỗ trợ đơn lẻ sang kiến tạo hệ sinh thái sáng tạo gồm đào tạo tài năng, tài chính, công nghệ, sở hữu trí tuệ, không gian sáng tạo, phân phối và thị trường. Nhà nước kiến tạo thể chế, đầu tư hạ tầng, dữ liệu, bảo tồn những giá trị mà thị trường khó tự bảo đảm và đặt hàng tác phẩm có giá trị; doanh nghiệp chuyển hóa tài nguyên thành sản phẩm, dịch vụ; nghệ sĩ, nhà thiết kế, nhà nghiên cứu và cộng đồng là nguồn sáng tạo cốt lõi.
Cần ưu tiên các lĩnh vực có lợi thế, như điện ảnh, âm nhạc, thiết kế, thủ công, ẩm thực, du lịch văn hóa, trò chơi điện tử và nội dung số; đồng thời, bảo vệ quyền tác giả, quyền lợi người sáng tạo và chia sẻ lợi ích với cộng đồng nắm giữ di sản. Hiệu quả công nghiệp văn hóa phải được đánh giá đồng thời bằng giá trị kinh tế, chất lượng nghệ thuật, đa dạng biểu đạt, khả năng tiếp cận và tác động xã hội.
Năm là, bảo đảm nguồn lực, dữ liệu và hệ thống đánh giá
Mức chi tối thiểu 2% tổng chi ngân sách nhà nước cho văn hóa theo Nghị quyết số 28/2026/QH16 là điều kiện quan trọng, nhưng hiệu quả phụ thuộc cách phân bổ và giám sát. Nguồn lực cần ưu tiên văn hóa cơ sở, giáo dục nghệ thuật, số hóa di sản, nhân lực sáng tạo, vùng khó khăn và chương trình có tác động dài hạn; đồng thời phát triển cơ chế tài trợ cạnh tranh, quỹ văn hóa, ưu đãi đầu tư, hợp tác công – tư và công khai kết quả sử dụng. Cần xây dựng bộ chỉ số phát triển văn hóa – con người đa chiều, phản ánh mức độ tham gia, thời gian dành cho văn hóa, khả năng tiếp cận, năng lực sáng tạo, niềm tin, hành vi pháp quyền, sức khỏe tinh thần, năng lực số, khoảng cách vùng và mức độ hài lòng. Dữ liệu cần phân tách theo giới, tuổi, dân tộc, địa bàn, thu nhập; đánh giá độc lập, công khai dữ liệu và tham vấn người dân để chuyển từ báo cáo thành tích sang quản trị dựa trên bằng chứng.
4. Kết luận
Phát triển văn hóa gắn với xây dựng con người Việt Nam hiện đại là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển nhanh và bền vững đất nước. Văn hóa tạo lập nền tảng tinh thần, hệ giá trị và chuẩn mực xã hội, vừa góp phần hình thành nhân cách, năng lực sáng tạo, ý thức trách nhiệm và khát vọng cống hiến của con người. Ngược lại, con người là chủ thể sáng tạo, thực hành, lưu truyền các giá trị văn hóa. Trong bối cảnh mới, con người Việt Nam hiện đại cần kết hợp bản lĩnh, đạo đức, trách nhiệm công dân, bản sắc với tri thức, sáng tạo, ý thức pháp quyền, sức khỏe, năng lực số và khả năng hội nhập. Để hiện thực hóa mục tiêu đó, cần cụ thể hóa hệ giá trị; đổi mới giáo dục; xây dựng môi trường văn hóa trong đời sống thực và số; phát triển công nghiệp văn hóa, hệ sinh thái sáng tạo; bảo đảm nguồn lực, dữ liệu và đánh giá dựa trên bằng chứng. Khi được triển khai đồng bộ, văn hóa mới trở thành sức mạnh nội sinh và con người thực sự là trung tâm, chủ thể, mục tiêu của phát triển./.
Ngày nhận bài:24/4/2026; Ngày thẩm định: 27/4/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email: [email protected]
———————————————————
Tài liệu tham khảo
Ban Chấp hành Trung ương Đảng (2014). Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 09/6/2014 “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước”.
Bộ Chính trị (2020). Kết luận số 76-KL/TW ngày 04/6/2020 “về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 33-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI “về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước””.
Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 “về phát triển văn hóa Việt Nam”.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2026). Nghị quyết số 28/2026/QH16 ngày 24/4/2026 “về phát triển văn hóa Việt Nam”.
UNDP (2025). Human Development Report 2025: A matter of choice: People and possibilities in the age of AI. United Nations Development Programme.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)
