TS. LÊ THỊ THANH HUYỀN
Học viện Chính trị khu vực III
Tóm tắt: Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm đến khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong quá trình thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững. Ở miền Trung, mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học) đã và đang góp phần chuyển hóa khoa học, công nghệ vào thực tiễn, nhưng mức độ phát triển chưa đồng đều và chưa tạo được cơ chế liên kết bền vững ở cấp vùng. Để mô hình thực sự đi vào chiều sâu và phát huy hiệu quả, việc tháo gỡ những vướng mắc về thể chế liên kết bốn nhà trong chuyển hóa khoa học, công nghệ theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng là rất cần thiết.
Từ khóa: Đại hội lần thứ XIV của Đảng; chuyển hóa khoa học, công nghệ; miền Trung; liên kết bốn nhà
THE INSTITUTIONAL FRAMEWORK FOR four-actor linkage IN SCIENCE AND TECHNOLOGY TRANSFORMATION IN THE SPIRIT OF THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE COMMUNIST PARTY: EVIDENCE FROM CENTRAL VIET NAM
Abstract: The Communist Party of Viet Nam and the State have attached particular importance to science, technology, and innovation in advancing the country’s rapid and sustainable development. In Central Viet Nam, the four-actor linkage model bringing together the State, enterprises, research institutes, and universities has contributed to translating scientific and technological advances into practice. However, the model remains unevenly developed and has yet to establish a sustainable coordination mechanism at the regional level. For the model to become more substantive and effective, it is essential to address institutional constraints affecting four-actor collaboration in the translation of science and technology into practice, in line with the orientations of the 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam.
Keywords: 14th National Congress of the Communist Party of Viet Nam; science and technology transformation; Central Viet Nam; four-actor linkage
1. Đặt vấn đề
Thời gian qua đã có một số công trình nghiên cứu về mô hình liên kết bốn nhà (Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học) trong quá trình chuyển hóa khoa học, công nghệ theo lý thuyết Triple Helix của Henry Etzkowitz và Loet Leydesdorff. Đây là lý thuyết về sự tương tác giữa nhà nước, đại học và doanh nghiệp trong sáng tạo tri thức và thương mại hóa công nghệ. Bài viết tiếp cận liên kết bốn chủ thể gồm Nhà nước, doanh nghiệp, viện nghiên cứu và trường đại học trên cơ sở cách tiếp cận mở rộng Triple Helix phù hợp bối cảnh Việt Nam. Sự liên kết này là mô hình quan trọng trong hệ sinh thái đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy chuyển hóa khoa học, công nghệ thành sản phẩm, dịch vụ và giá trị kinh tế (Nguyễn Việt Hà, 2018). Trong bối cảnh cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư phát triển mạnh mẽ, thực tiễn Việt Nam đặt ra yêu cầu tăng cường liên kết bốn nhà về chuyển hóa khoa học, công nghệ. Một số nghiên cứu về vấn đề này cho rằng, sự liên kết bốn nhà là cơ sở để hình thành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, là cách rút ngắn khoảng cách từ nghiên cứu đến thị trường, góp phần kết nối cung – cầu về nhân lực công nghệ. Trong đó, Nhà nước giữ vai trò kiến tạo thể chế, ban hành chính sách, hỗ trợ tài chính, điều phối chiến lược và tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc; viện nghiên cứu, trường đại học là nơi sáng tạo tri thức, truyền thụ tri thức, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và chuyển giao công nghệ; doanh nghiệp là chủ thể tiếp nhận và thương mại hóa kết quả nghiên cứu, bảo đảm tính ứng dụng thực tiễn của kết quả nghiên cứu (Vương Quốc Thắng, 2025).
Trong bài viết “Nghiên cứu mô hình trường đại học khởi nghiệp và quản trị đại học tiên tiến: những gợi ý chính sách cho các trường đại học công lập ở Việt Nam” (Đinh Văn Toàn, 2021), tác giả cho rằng mối quan hệ giữa bốn nhà trong chuyển hóa khoa học, công nghệ được hiểu là quá trình ứng dụng tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo vào thực tiễn sản xuất, quản lý để nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng, gắn liền với chuyển đổi số và phát triển công nghệ lõi. Trong đó, liên kết giữa Nhà nước với doanh nghiệp và các tổ chức nghiên cứu khoa học là một mắt xích trong chuỗi vận hành hệ sinh thái đổi mới sáng tạo.
Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy, quá trình liên kết giữa các chủ thể trong chuyển hóa khoa học, công nghệ vẫn còn phân tán, cơ chế đặt hàng nghiên cứu từ các doanh nghiệp chưa nhiều, thiếu tổ chức trung gian kết nối công nghệ, hoạt động thương mại hóa kết quả nghiên cứu còn hạn chế. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế đổi mới sáng tạo quốc gia, xây dựng mô hình đại học khởi nghiệp, tiên tiến, hiện đại, phát triển trung tâm chuyển giao công nghệ, phòng thí nghiệm dùng chung cho doanh nghiệp và trường đại học, thúc đẩy chuyển giao các kết quả nghiên cứu khoa học vào thực tiễn của doanh nghiệp (Đỗ Thị Ngọc Tú, 2024).
Kế thừa các công trình nghiên cứu liên quan, bài viết phân tích thực trạng liên kết bốn nhà tại một số địa phương ở miền Trung, qua đó làm rõ những vấn đề về thể chế cần giải quyết để thực hiện định hướng phát triển theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng: “Phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo, trong đó doanh nghiệp là trung tâm, viện nghiên cứu và trường đại học là chủ thể nghiên cứu mạnh, Nhà nước đóng vai trò kiến tạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.107).
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết chủ yếu sử dụng phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp và so sánh các văn bản của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước cùng các số liệu, báo cáo và kết quả nghiên cứu đã được công bố về liên kết bốn nhà trong chuyển hóa khoa học, công nghệ. Trên cơ sở đó, bài viết đánh giá thực trạng tại các địa phương miền Trung, chỉ ra những vấn đề thể chế đặt ra và đề xuất một số định hướng hoàn thiện phù hợp với tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về liên kết giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học trong chuyển hóa khoa học, công nghệ
Đảng đặc biệt coi trọng vai trò của khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số như nền tảng của phát triển quốc gia nhanh và bền vững, “… triển khai các hoạt động đào tạo kiến thức, kỹ năng về khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo trong các cơ sở giáo dục;… khuyến khích doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhà nước, các tập đoàn công nghiệp hàng đầu thành lập trung tâm nghiên cứu và đổi mới sáng tạo nhằm thúc đẩy phát triển hệ thống đổi mới sáng tạo quốc gia, hệ sinh thái khởi nghiệp sáng tạo” (Bộ Chính trị, 2024a). Trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, Đảng yêu cầu “có cơ chế cho phép và khuyến khích các tổ chức nghiên cứu, nhà khoa học thành lập và tham gia điều hành doanh nghiệp dựa trên kết quả nghiên cứu” (Bộ Chính trị, 2024b) và “khẩn trương, quyết liệt đổi mới và hoàn thiện cơ chế, chính sách phát triển khoa học, công nghệ phù hợp với nguyên tắc thị trường và thông lệ quốc tế… khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ, nhất là công nghệ mới, công nghệ cao” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.104).
Trên cơ sở cụ thể hóa những quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành khung thể chế cho việc hiện thực hóa liên kết. Luật Khoa học và Công nghệ năm 2013 xác lập quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động khoa học và công nghệ, cho phép hợp tác, ký kết hợp đồng khoa học và công nghệ, góp vốn bằng tài sản trí tuệ; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đại học năm 2018 là cơ sở pháp lý cho tự chủ đại học, sử dụng hiệu quả nguồn lực và nâng cao chất lượng giáo dục đại học. Nghị định số 13/2019/NĐ-CP ngày 01/02/2019 của Chính phủ “về doanh nghiệp khoa học và công nghệ”, quy định khá rõ các ưu đãi đối với doanh nghiệp khoa học, công nghệ trong thuế, đất đai, tín dụng và quyền tiếp cận miễn phí hoặc ưu tiên với một số hạ tầng nghiên cứu công lập. Đến giai đoạn 2021 – 2023, Chính phủ ban hành Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 “quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa” và Thông tư số 06/2022/TT-BKHĐT ngày 10/5/2022 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư “Hướng dẫn một số điều của Nghị định số 80/2021/NĐ-CP ngày 26/8/2021 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa” đã mở thêm công cụ hỗ trợ công nghệ, nguồn lực, khởi nghiệp sáng tạo, cụm liên kết ngành và chuỗi giá trị cho doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đặc biệt, từ năm 2024 đến nay, Chính phủ cùng với Bộ Khoa học và Công nghệ đã thúc đẩy sửa đổi luật, nghị định, hướng dẫn, như Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo năm 2025; Nghị định số 265/2025/NĐ-CP ngày 14/10/2025 của Chính phủ “quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo về tài chính và đầu tư trong khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo” đã hướng dẫn về tài chính, đầu tư cho khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, nhằm tháo gỡ những điểm nghẽn, nút thắt quản lý, phân bổ và sử dụng ngân sách. Ngày 10/12/2025, Quốc hội đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ, trong đó khuyến khích doanh nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa lan tỏa công nghệ từ doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) sang doanh nghiệp trong nước.
Theo báo cáo Bộ Khoa học và Công nghệ tính đến 31/12/2025 cả nước có 461 tổ chức nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ (Bộ Khoa học Công nghệ, 2026), với khoảng 187.298 người tham gia hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), tập trung nhiều ở các tổ chức giáo dục đại học với 95.501 người, chiếm tỉ lệ gần 51% và các tổ chức R&D khoảng 31.794 người, chiếm tỉ lệ gần 17%, nhân lực R&D trong khu vực doanh nghiệp khoảng 33.211 người, chiếm tỉ lệ khoảng 17,73% (Bộ Khoa học và Công nghệ, 2025). Như vậy, có thể nói, đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ nước ta đã có những bước phát triển đáng kể, góp phần thiết thực vào sự phát triển kinh tế – xã hội. Bên cạnh đó, lực lượng nhà khoa học, chuyên gia người Việt Nam ở nước ngoài cũng là nguồn lực quan trọng, có nhiều tiềm năng, góp phần kết nối, thúc đẩy trao đổi tri thức, kỹ năng, ý tưởng và cùng sáng tạo vì mục tiêu phát triển chung của đất nước.
Miền Trung là địa bàn chiến lược trong phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng và an ninh. Mặc dù có nhiều tiềm năng, lợi thế, nhưng sự phát triển và đóng góp của miền Trung trong phát triển kinh tế – xã hội của cả nước còn khá khiêm tốn. Vì vậy, việc liên kết giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học là vấn đề có ý nghĩa chiến lược đối với sự phát triển, vì miền Trung đang phải đối mặt với ba yêu cầu: (1) Cơ cấu lại tăng trưởng theo hướng lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và nhân lực chất lượng cao làm động lực chính; (2) Tạo thêm các cực đổi mới sáng tạo ở Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh; (3) Gắn phát triển khoa học, công nghệ với lợi thế so sánh đặc thù, như biển, logistics, du lịch, công nghiệp công nghệ số, nông nghiệp công nghệ cao và y dược. Việc liên kết này đối với miền Trung không chỉ nhằm chuyển hóa khoa học, công nghệ theo nghĩa hẹp, mà còn là cơ chế tổ chức lại chuỗi sáng tạo tri thức, đào tạo, thử nghiệm, thương mại hóa và lan tỏa đổi mới ở cấp vùng và quốc gia.
3.2. Thực trạng liên kết giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học trong chuyển hóa khoa học, công nghệ ở miền Trung
Miền Trung là một trong ba trung tâm giáo dục đại học lớn của cả nước, tập trung nhiều nhất tại Huế và Đà Nẵng. Liên kết Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học trong chuyển hóa khoa học, công nghệ tại miền Trung được thực hiện theo một số mô hình chủ yếu sau:
Thứ nhất, mô hình Nhà nước dẫn dắt ngành chiến lược
Điển hình của mô hình này là Đà Nẵng. Tính đến năm 2023, Đà Nẵng có gần 2.450 doanh nghiệp công nghệ số, đạt tỉ lệ khoảng 2,3 doanh nghiệp/1.000 dân, với khoảng 46.000 nhân lực công nghệ số; riêng lĩnh vực vi mạch bán dẫn, có khoảng 10 doanh nghiệp thiết kế với gần 550 kỹ sư; nguồn nhân lực số khoảng 52.000 người. Thành phố đặt mục tiêu đến năm 2030 có ít nhất 5.000 lao động ngành bán dẫn, khoảng 20 doanh nghiệp thiết kế, đóng gói và thử nghiệm, thu hút đầu tư, hình thành một số cơ sở R&D và sản xuất (Nguyễn Quang Thanh, 2024). Kết quả này có được nhờ khung thể chế được xác lập tại Nghị quyết số 136/2024/QH15 ngày 26/6/2024 của Quốc hội “về tổ chức chính quyền đô thị và thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Nẵng”, kết hợp với việc thành lập Trung tâm nghiên cứu, đào tạo thiết kế vi mạch và trí tuệ nhân tạo Đà Nẵng đã tạo lập hạ tầng công lập dùng chung cho đào tạo, hỗ trợ đầu tư, hợp tác và ươm tạo các doanh nghiệp khởi nghiệp trong lĩnh vực thiết kế vi mạch, bán dẫn, trí tuệ nhân tạo (AI).
Điều đáng chú ý ở Đà Nẵng không chỉ là quy mô nhân lực, mà là cách thức thiết kế, kiến tạo liên kết. Mô hình liên kết được xây dựng theo ba trụ cột: (1) Nghiên cứu – đào tạo; (2) Đầu tư phát triển hệ sinh thái vi mạch, bán dẫn và AI; (3) Ươm tạo, hợp tác, chuyển giao công nghệ. Các dự án lớn khi đầu tư vào khu công nghệ cao hoặc khu công nghệ thông tin tập trung phải cam kết hợp tác với chính quyền trong đào tạo nhân lực, tiếp nhận thực tập, chuyển giao công nghệ và hỗ trợ khởi nghiệp. Như vậy, Đà Nẵng đã đi từ ưu đãi đầu tư đơn chiều sang ưu đãi có điều kiện liên kết, nghĩa là biến ưu đãi thành công cụ ràng buộc doanh nghiệp gắn với viện, trường và nhu cầu phát triển hệ sinh thái của thành phố.
Thực tế cho thấy, vai trò của Đại học Đà Nẵng trong mô hình này rất rõ. Hiện nay, Đại học Đà Nẵng đã ký kết với chính quyền thành phố về phát triển đào tạo và nghiên cứu vi mạch bán dẫn, AI, đồng thời chủ động liên kết với doanh nghiệp công nghệ để xây dựng chuỗi đào tạo – thực tập – nghiên cứu ứng dụng – khởi nghiệp. Cùng với hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo của thành phố là 19 chính sách hỗ trợ khởi nghiệp, 06 vườn ươm, 04 quỹ đầu tư, 02 không gian sáng tạo và 03 trung tâm hỗ trợ khởi nghiệp (Hoàng Thị Mỹ Hà, 2025). Có thể nói, Đà Nẵng đã hình thành liên kết bốn nhà và được thể chế hóa bằng hạ tầng, nhân lực, ưu đãi, trung gian và mục tiêu ngành cụ thể. Mặc dù vậy, Đà Nẵng vẫn ở giai đoạn “xây nền liên kết”, chưa phải giai đoạn “thương mại hóa lợi nhuận”. Theo đó, trong ngắn hạn, Đà Nẵng mạnh ở đào tạo và thu hút đầu tư, nhưng giai đoạn tiếp theo phải chuyển từ đào tạo, xúc tiến sang đồng sáng chế, đồng sở hữu quyền sở hữu tài sản trí tuệ và chuỗi cung ứng địa phương.
Thứ hai, mô hình liên kết bốn nhà theo hình thức “đô thị khoa học – hạ tầng trí thức – doanh nghiệp công nghệ – đào tạo theo ngành tương lai”
Đại diện cho kiểu mô hình liên kết này ở miền Trung là Gia Lai (Bình Định cũ). Chính quyền chủ động gắn chiến lược địa phương với Nghị quyết số 57-NQ/TW, xây dựng khu đô thị khoa học tại Quy Hòa – Thung lũng sáng tạo Quy Nhơn có quy mô 242 ha, với hạt nhân là Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành (ICISE), thu hút hơn 16.000 nhà khoa học từ 60 quốc gia, tổ chức trên 200 sự kiện khoa học, trong đó có hơn 120 hội thảo khoa học quốc tế với sự tham gia của 18 giáo sư đoạt Giải Nobel (Hà Nam, 2025). Đây là tài sản mềm, không chỉ là hạ tầng công nghệ, mà còn là hạ tầng kết nối cộng đồng khoa học quốc tế.
Mô hình tại tỉnh Gia Lai cho thấy nỗ lực trong việc kết nối “khoa học tinh hoa” với “năng lực địa phương”. Năm 2025, trong khuôn khổ Diễn đàn Khởi nghiệp sáng tạo quốc gia tổ chức tại Quy Nhơn, đã diễn ra lễ ký kết hợp tác chiến lược giữa chính quyền tỉnh với nhiều đối tác, như Tập đoàn Công nghệ CMC, ICISE, FPT, các hiệp hội khởi nghiệp, các tổ chức doanh nghiệp và nhiều tổ chức tiên phong trong lĩnh vực khoa học, công nghệ. Đây là mô hình liên kết theo hướng Nhà nước “kiến tạo sân chơi”, mở rộng mạng lưới đối tác và khả năng huy động nguồn lực. Với miền Trung, điều này rất có ý nghĩa vì không ít địa phương có chủ trương nhưng không có quỹ hoặc tổ chức trung gian đủ năng lực để hiện thực hóa chủ trương thành quy trình dự án cụ thể.
Mặt khác, Gia Lai đang chuyển liên kết sang logic đào tạo bán dẫn. Tại Trường Đại học Quy Nhơn, đề án đào tạo nhân lực bán dẫn được tỉnh phê duyệt đặt mục tiêu đến năm 2030 đào tạo khoảng 4.020 cử nhân, kỹ sư ngành gần; 980 kỹ sư thực hành; bồi dưỡng lại khoảng 2.500 người; đào tạo giảng viên trình độ tiến sĩ và triển khai phòng thí nghiệm dùng chung về công nghệ bán dẫn với tổng đầu tư dự kiến 120 tỉ đồng (Trần Hóa, 2025). Điều này cho thấy, Gia Lai không đi theo mô hình “săn doanh nghiệp trước, đào tạo sau”, mà thiết kế đồng thời để giải quyết bài toán nhân lực, hạ tầng nghiên cứu và mạng lưới doanh nghiệp công nghệ. Có thể thấy, Gia Lai có lợi thế về hạ tầng khoa học, mạng lưới hợp tác quốc tế và năng lực đào tạo, tuy nhiên hiệu quả thương mại hóa và giá trị hợp đồng R&D địa phương chưa được thể hiện rõ nét. Trong thời gian tới, địa phương nên duy trì mô hình này theo hướng đồng tài trợ ngoài ngân sách và kết nối các chương trình đào tạo với nhu cầu sử dụng thực tế của doanh nghiệp.
Thứ ba, mô hình liên kết bốn nhà theo hướng “thương mại hóa kết quả nghiên cứu và doanh nghiệp khoa học, công nghệ từ môi trường đại học”
Trung tâm Thông tin khoa học và Công nghệ thành phố Huế đã chủ trương chuyển giao khoa học, công nghệ là một nhiệm vụ quan trọng kết nối giữa đơn vị với doanh nghiệp để tạo thị trường cho kết quả nghiên cứu là hết sức quan trọng. Đại học Huế đã đưa sản phẩm nghiên cứu của Viện Công nghệ sinh học ra thị trường thông qua Công ty Cổ phần Khoa học Công nghệ HUSCI. Đây là doanh nghiệp khoa học, công nghệ được Sở Khoa học và Công nghệ thành phố Huế cấp giấy chứng nhận trên cơ sở phối hợp giữa các bên nghiên cứu, nhà trường, doanh nghiệp và cơ quan quản lý ngành (Nhật Anh, 2024). Điều này minh chứng cho mô hình liên kết bốn nhà: nghiên cứu được tạo ra trong viện, trường đại học; doanh nghiệp hóa để thương mại hóa và Nhà nước công nhận, hỗ trợ trong khuôn khổ pháp luật về doanh nghiệp khoa học, công nghệ.
Cấu trúc thể chế khoa học, công nghệ của thành phố Huế cho thấy địa phương đã biết phát huy thế mạnh (Đại học Huế có 09 đơn vị thành viên; mật độ nguồn lực tri thức khá cao). Năm 2023, chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương (PII) của Huế xếp thứ 02 vùng Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền Trung và xếp thứ 14 toàn quốc (Tường Vi, 2024). Đến năm 2025, thành phố Huế đứng thứ 05 toàn quốc về chỉ số đổi mới sáng tạo và thuộc nhóm dẫn đầu các trụ cột thể chế, nguồn nhân lực và nghiên cứu, cùng với tác động kinh tế – xã hội của đổi mới sáng tạo (Thiên Anh, 2025). Kết quả này cho thấy, thành phố Huế không chỉ có tài sản học thuật, mà đã bắt đầu chuyển hóa được một phần tài sản thành năng lực hệ sinh thái khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Điều này phù hợp với định hướng phát triển của địa phương dựa trên nền tảng khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Tuy nhiên, thành công của thành phố Huế mới chỉ dừng lại ở số lượng sản phẩm, doanh nghiệp khoa học, công nghệ và chỉ số đổi mới sáng tạo, còn về quy mô đồng tài trợ nghiên cứu từ doanh nghiệp, doanh thu từ tài sản trí tuệ chưa thể hiện rõ mức độ lan tỏa giá trị kinh tế của liên kết.
Thứ tư, mô hình liên kết bốn nhà theo hướng đào tạo gắn với đơn đặt hàng và khoa học biển tiềm năng
Khánh Hòa là địa phương có nhiều tiềm năng, thế mạnh về khoa học biển – sinh kế biển – đào tạo nghề ở miền Trung. Năm 2025, chỉ số đổi mới sáng tạo cấp địa phương của Khánh Hòa đứng thứ 09/34 tỉnh, thành phố trong cả nước. Trong đó, chỉ số sản xuất công nghiệp dẫn đầu cả nước (01/34); tốc độ tăng năng suất lao động xếp thứ 02/34; số doanh nghiệp ngành dịch vụ và chuyên môn về khoa học, công nghệ xếp thứ 03/34. Ngoài ra, các chỉ số về hạ tầng số, số đơn đăng ký sáng chế, số tổ chức khoa học và công nghệ thuộc nhóm 10 địa phương đứng đầu cả nước (Nhóm phóng viên, 2025). Về liên kết, Trường Đại học Nha Trang đã có chương trình đào tạo kỹ sư nuôi trồng thủy sản theo đơn đặt hàng của Tập đoàn Thủy sản Minh Phú, đã tuyển sinh đào tạo liên tục được 05 khóa (giai đoạn 2022 – 2027), mỗi khóa đào tạo 100 sinh viên ở 02 ngành (Nuôi trồng thủy sản và Công nghệ chế biến thủy sản), với kinh phí 50 tỉ đồng; Tập đoàn Hải Vương đặt hàng đào tạo ngành Công nghệ chế biến thủy sản 03 khóa, mỗi khóa 30 sinh viên với kinh phí 09 tỉ đồng (H. Ngân, 2025). Điều này cho thấy, việc liên kết đào tạo theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp đã đi vào chiều sâu so với hợp tác tuyển dụng.
Từ các mô hình liên kết ở miền Trung trong chuyển hóa khoa học, công nghệ, có thể rút ra một số hướng liên kết sau: (1) Liên kết tạo nhân lực theo nhu cầu ngành mới, nhất là ở bán dẫn, AI, nuôi trồng thủy sản và công nghệ sinh học; (2) Liên kết giúp địa phương xây dựng hạ tầng dùng chung, như trung tâm vi mạch công lập, phòng thí nghiệm dùng chung, đô thị khoa học và trung tâm khởi nghiệp sáng tạo, qua đó giảm chi phí đầu vào mà từng doanh nghiệp khó tự bảo đảm; (3) Liên kết giúp địa phương xây dựng thương hiệu mới, như Đà Nẵng là cực bán dẫn, AI của miền Trung; Huế là nơi có dư địa mạnh về y dược, công nghệ sinh học và thương mại hóa kết quả nghiên cứu; Gia Lai (Bình Định cũ) là đô thị khoa học và đổi mới sáng tạo; Khánh Hòa là cụm khoa học biển, thủy sản.
3.3. Những vấn đề đặt ra về thể chế chuyển hóa khoa học, công nghệ ở miền Trung
Thứ nhất, khoảng trống và độ trễ pháp lý trong quyền sở hữu, khai thác và thương mại hóa kết quả nghiên cứu. Hiện nay, những quy định về quyền sở hữu, quyền sử dụng kết quả nghiên cứu, xác định tác giả và giao quyền đăng ký bảo hộ sáng chế có tính khả thi chưa cao, chưa phù hợp với tính đa dạng của các nhiệm vụ khoa học, công nghệ; đồng thời, chưa có khái niệm đầy đủ về thị trường công nghệ và chưa có các quy định thúc đẩy hợp tác, khuyến khích chủ thể tham gia thị trường này. Với miền Trung, nơi phần lớn doanh nghiệp có quy mô nhỏ và vừa, khoảng trống này khiến nhiều kết quả nghiên cứu không đi được đến bước cấp phép hay góp vốn bằng tài sản trí tuệ.
Thứ hai, cơ chế tài chính cho liên kết còn phụ thuộc nhiều vào các nhiệm vụ sử dụng ngân sách nhà nước, chưa chuyển mạnh sang liên kết, hợp tác đồng tài trợ theo nhu cầu thị trường. Các công cụ hỗ trợ hiện còn tập trung nhiều vào hỗ trợ trực tiếp từ ngân sách cho tổ chức công lập, trong khi công cụ hỗ trợ gián tiếp trên diện rộng còn ít và chưa hiệu quả; gần như không có doanh nghiệp FDI nào trích lập quỹ phát triển khoa học, công nghệ do cơ chế khuyến khích chưa đủ hấp dẫn; ưu đãi thuế cho hoạt động nghiên cứu và phát triển công nghệ chưa triển khai hiệu quả vì quy định còn chung và thiếu đồng bộ với lĩnh vực tài chính. Mặc dù Nghị định số 13/2019/NĐ-CP đưa ra một gói ưu đãi khá rõ cho doanh nghiệp khoa học và công nghệ; Nghị định số 265/2025/NĐ-CP đã bắt đầu tháo gỡ vướng mắc về ngân sách đầu tư, nhưng khoảng cách từ văn bản đến thực tế của doanh nghiệp vẫn còn lớn.
Thứ ba, cơ chế tự chủ của các trường, viện công lập chưa thật sự tương thích với tính rủi ro cao của nghiên cứu và phát triển trong liên kết. Việc áp dụng lộ trình tự chủ theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP có thể phù hợp với đơn vị sự nghiệp có nguồn thu ổn định, nhưng với tổ chức khoa học, công nghệ có quy mô nhỏ, việc tự chủ về tài chính gặp nhiều khó khăn, bởi kết quả nghiên cứu có thể thành công hoặc thất bại và không phải kết quả nào cũng thương mại hóa được ngay. Điều này tạo ra hai hệ quả: hoặc đơn vị ngại hợp tác với doanh nghiệp vì sợ rủi ro tài chính và thủ tục rườm rà, phức tạp; hoặc đơn vị chuyển sang dịch vụ ngắn hạn, xa dần nhiệm vụ nghiên cứu cốt lõi, nhiều trường và viện chưa có quỹ nội bộ mạnh như các đại học lớn ở hai đầu đất nước, ràng buộc này càng nặng hơn.
Thứ tư, chính sách khuyến khích doanh nghiệp tham gia liên kết còn thiếu tính chọn lọc theo sứ mệnh công nghệ và theo vùng. Trên thực tế, Đà Nẵng chỉ bứt phá khi thành phố chuyển sang ưu đãi có điều kiện liên kết hoặc gắn doanh nghiệp với nghĩa vụ đào tạo, chuyển giao; Gia Lai (Bình Định cũ) cũng chỉ tạo được động lực mới khi bổ sung quỹ đầu tư và các thỏa thuận đối tác cụ thể. Điều này cho thấy, ưu đãi ít tạo ra liên kết sâu; ưu đãi gắn với ngành chiến lược, hạ tầng chung, yêu cầu xây dựng phòng thí nghiệm, chương trình thực tập và đồng tài trợ mới có khả năng đem lại hiệu quả chuyển hóa thiết thực.
Thứ năm, quản trị liên ngành và liên vùng còn phân tán. Hoạt động liên kết hiện vẫn còn gặp không ít khó khăn. Hoạt động liên kết còn phân tán theo từng địa phương, thiếu cơ chế phối hợp và chia sẻ nguồn lực ở cấp vùng. Đây là vấn đề lớn đối với miền Trung, bởi địa bàn trải dài, cơ cấu ngành đa dạng và quy mô thị trường từng tỉnh tương đối nhỏ. Vì vậy, cần thiết lập cơ chế điều phối vùng đủ mạnh để các sáng kiến được kết nối và triển khai đồng bộ, tránh tình trạng rời rạc, phân mảnh.
Thứ sáu, thiếu hệ thống dữ liệu công khai chuẩn hóa để đánh giá chất lượng liên kết nên Nhà nước khó thiết kế được chính sách để tháo gỡ đúng nút thắt, điểm nghẽn; xã hội khó đánh giá thực chất hiệu quả của hoạt động liên kết; tình trạng thiếu minh bạch có thể phát sinh cơ chế “xin – cho” trong hoạt động khoa học, công nghệ, gây lãng phí tài nguyên khoa học, công nghệ. Vì vậy, các địa phương cần xây dựng bộ dữ liệu đa chiều cấp tỉnh và cấp vùng với các nhóm chỉ tiêu: số dự án nghiên cứu và phát triển liên kết; giá trị hợp đồng chuyển giao công nghệ; doanh thu từ công nghệ và tài sản trí tuệ; số tổ chức nghiên cứu phát triển tài sản trí tuệ và số doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo xuất phát từ các viện nghiên cứu, trường đại học; số chương trình đào tạo do doanh nghiệp đặt hàng; số phòng thí nghiệm, trung tâm dùng chung và mức độ sử dụng; tỉ lệ doanh nghiệp địa phương tham gia chuỗi giá trị công nghệ cao.
4. Kết luận
Liên kết bốn nhà để chuyển hóa khoa học, công nghệ vào thực tiễn nhằm phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng và an ninh, góp phần thúc đẩy đất nước phát triển nhanh và bền vững được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm. Thực tiễn ở miền Trung thời gian qua cho thấy, việc liên kết giữa Nhà nước – doanh nghiệp – viện nghiên cứu – trường đại học đã bước đầu hình thành những mô hình liên kết gắn với ngành bán dẫn, đô thị khoa học, công nghệ sinh học, khoa học biển và đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp. Tuy nhiên, thực tiễn cũng đặt ra không ít vấn đề cần giải quyết để việc liên kết đi vào thực chất, phát huy hiệu quả. Vì vậy, phải tháo gỡ những “nút thắt” này để khoa học, công nghệ được chuyển hóa mạnh mẽ, góp phần thúc đẩy miền Trung phát triển, qua đó thực hiện thắng lợi các mục tiêu của từng địa phương và định hướng lớn của cả nước trong giai đoạn mới./.
Ngày nhận bài: 14/5/2026; Ngày thẩm định: 18/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/6/2026
Email liên hệ: [email protected]
—————————————————-
Tài liệu tham khảo
Bộ Chính trị (2024a). Kết luận số 69-KL/TW ngày 11/01/2024 về tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 01/11/2012 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về phát triển khoa học và công nghệ phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Bộ Chính trị (2024b). Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2025). Nhân lực nghiên cứu và phát triển theo khu vực thực hiện. https://mst.gov.vn. Ngày 08/5/2025.
Bộ Khoa học và Công nghệ (2026). Số liệu nổi bật về lĩnh vực khoa học và công nghệ năm 2025. https://mst.gov.vn. Ngày 06/01/2026.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập I). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đinh Văn Toàn (2021). Nghiên cứu mô hình trường đại học khởi nghiệp và quản trị đại học tiên tiến: Những gợi ý chính sách cho các trường đại học công lập ở Việt Nam. Tạp chí Khoa học Nghiên cứu Chính sách và Quản lý, Đại học Quốc gia Hà Nội, 37(1), 62-73.
Đỗ Thị Ngọc Tú (31/12/2024). Liên kết trường đại học và doanh nghiệp trong nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ. Tạp chí Quản lý Nhà nước điện tử. https://www.quanlynhanuoc.vn.
Hà Nam (27/3/2025). Bình Định luôn xem khoa học – công nghệ là nền tảng thúc đẩy đổi mới sáng tạo. Báo điện tử VietNamNet. https://vietnamnet.vn.
H. Ngân (16/01/2025). Trường Đại học Nha Trang: Tăng cường đào tạo theo đơn đặt hàng từ doanh nghiệp. Báo Khánh Hòa điện tử. https://baokhanhhoa.vn.
Hoàng Thị Mỹ Hà (09/7/2025). Đà Nẵng đẩy mạnh xúc tiến đầu tư, hỗ trợ khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo. Tin tức trong nước điện tử – Thông tấn xã Việt Nam. https://chinhsachcuocsong.vnanet.vn.
Nguyễn Quang Thanh (07/02/2024). Đà Nẵng ưu tiên phát triển ngành bán dẫn. VnEconomy. https://vneconomy.vn.
Nguyễn Việt Hà (2018). Mối quan hệ giữa trường đại học và doanh nghiệp trong nghiên cứu, chuyển giao công nghệ và ứng dụng mô hình Triple Helix nhằm thúc đẩy mối quan hệ này tại Việt Nam. Tạp chí Khoa học và Công nghệ, Đại học Thái Nguyên, 196 (03), 189–196.
Nhật Anh (16/5/2024). Xây dựng Huế trở thành trung tâm khoa học và công nghệ lớn của cả nước. Báo điện tử Chính phủ. https://baochinhphu.vn.
Nhóm phóng viên (19/12/2025). Chào mừng Ngày hội Công nghệ số tỉnh Khánh Hòa năm 2025: Thúc đẩy mạnh mẽ đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Báo Khánh Hòa điện tử. https://baokhanhhoa.vn.
Thiên Anh (01/10/2025). Lần đầu tiên Huế vào Top 5 địa phương dẫn đầu về Chỉ số Đổi mới sáng tạo. VnEconomy. https://vneconomy.vn.
Trần Hóa (16/7/2025). Đại học Quy Nhơn đào tạo nhân lực bán dẫn, AI. VnExpress. https://vnexpress.net.
Tường Vi (08/5/2024). Thừa Thiên Huế: Cải thiện chỉ số đổi mới sáng tạo. Báo Tin tức điện tử. https://baotintuc.vn.
Vương Quốc Thắng (01/10/2025). Tăng cường hợp tác doanh nghiệp – trường đại học, viện nghiên cứu – cơ quan nhà nước, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, động lực phát triển kinh tế tư nhân trong kỷ nguyên mới. Tạp chí Cộng sản điện tử. https://tapchicongsan.org.vn.
(Tạp chí Khoa học chính trị số 05/2026)
