ThS. LÊ THỊ SÁU
Học viện Chính trị khu vực II
Tóm tắt: Thành phố Hồ Chí Minh là địa phương có tiềm năng, lợi thế về thị trường, khoa học, công nghệ, dịch vụ và khả năng kết nối vùng, thuận lợi cho phát triển nông nghiệp, nhưng cũng đối mặt với những khó khăn, thách thức mới, đòi hỏi phải có chiến lược phù hợp, hướng đến phát triển nền nông nghiệp bền vững. Bài viết phân tích quan điểm của Hồ Chí Minh về chính sách nông nghiệp, làm cơ sở lý luận để đánh giá thực tiễn chính sách và đề xuất các giải pháp hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao của Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
Từ khóa: chính sách nông nghiệp; nông nghiệp công nghệ cao; Thành phố Hồ Chí Minh
HO CHI MINH’S VEIWS ON AGRICULTURAL POLICY AND THE APPLICATION TO THE IMPROVEMENT OF HIGH-TECH AGRICULTURAL DEVELOPENT POLICY IN HO CHI MINH CITY
Abstract: Ho Chi Minh City has potential and advantages in market access, science and technology, services, and regional connectivity, which together create favorable conditions for agricultural development. However, the city also faces new difficulties and challenges that require appropriate strategies for sustainable agricultural development. This article analyzes Ho Chi Minh’s views on agricultural policy, thereby providing a theoretical basis for assessing policy implementation and proposing solutions to improve policies for high-tech agricultural development in Ho Chi Minh City in the current context.
Keywords: agricultural policy; Ho Chi Minh’s views; high-tech agriculture; Ho Chi Minh City
1. Đặt vấn đề
Phát triển nông nghiệp công nghệ cao là xu hướng tất yếu trong quá trình hiện đại hóa nông nghiệp, nhằm chuyển đổi mô hình sản xuất, từ chỗ dựa chủ yếu vào kinh nghiệm và lao động thủ công sang nền nông nghiệp ứng dụng khoa học, công nghệ, quản trị hiện đại và tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị. Quá trình này đòi hỏi sự tham gia đồng bộ của Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức khoa học, công nghệ và người nông dân; trong đó, chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao giữ vai trò nền tảng, tạo khung thể chế và triển khai các hoạt động sản xuất, chuyển giao công nghệ và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp.
Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, nông nghiệp luôn giữ vị trí đặc biệt quan trọng. Người coi nông nghiệp là nền tảng của nền kinh tế quốc dân, đồng thời nhấn mạnh trách nhiệm của Nhà nước trong việc ban hành và tổ chức thực hiện các chính sách nhằm thúc đẩy sản xuất, cải thiện đời sống nông dân. Theo Hồ Chí Minh, chính sách phát triển nông nghiệp không chỉ là công cụ quản lý kinh tế, mà còn là phương tiện để giải phóng sức sản xuất, nâng cao đời sống người dân và củng cố nền tảng xã hội của chế độ.
Đối với Thành phố Hồ Chí Minh, phát triển nông nghiệp công nghệ cao là hướng đi phù hợp trong điều kiện có lợi thế về khoa học, công nghệ, thị trường và khả năng kết nối dịch vụ. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn những hạn chế về cơ chế quản lý, chính sách đất đai, chuyển giao công nghệ và nguồn lực đầu tư. Vì vậy, trên cơ sở vận dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn, bài viết nghiên cứu và đề xuất định hướng hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao trên cơ sở vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh nhằm thúc đẩy nông nghiệp đô thị phát triển hiệu quả, bền vững và thích ứng với bối cảnh mới của Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Quan điểm của Hồ Chí Minh về chính sách nông nghiệp
Ngay sau khi giành được độc lập, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến nông nghiệp, coi đây là nền tảng của nền kinh tế quốc dân. Với tầm nhìn chiến lược, Người trực tiếp ký nhiều sắc lệnh quan trọng như: Sắc lệnh số 239-SL ngày 20/12/1945 về giảm tô, giảm thuế, chia ruộng đất cho nông dân; Sắc lệnh số 269-SL ngày 14/01/1946 thành lập Nha Khuyến nông để nghiên cứu, phổ biến kỹ thuật sản xuất; Sắc lệnh số 301-SL ngày 25/02/1946 thành lập Ủy ban Kinh tế Trung ương để hoạch định chính sách phát triển sản xuất, trong đó có nông nghiệp; và Sắc lệnh số 176-SL ngày 12/8/1947 thành lập Nha Thủy sản nhằm thúc đẩy phát triển nuôi trồng, khai thác thủy sản. Những sắc lệnh này cho thấy tư duy toàn diện của Hồ Chí Minh về phát triển nông nghiệp. Cụ thể:
Thứ nhất, chính sách sử dụng đất nông nghiệp
Hồ Chí Minh luôn coi đất đai là tư liệu sản xuất đặc biệt, là điều kiện sống còn của người nông dân. Người nhiều lần nhấn mạnh yêu cầu khai thác hợp lý và triệt để nguồn lực này: “Không để thừa một tấc đất hoang nào” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.121). Quan điểm đó không chỉ mang ý nghĩa đạo đức lao động, mà còn là định hướng chính sách rõ ràng về sử dụng tài nguyên. Với vai trò là người đứng đầu bộ máy nhà nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chủ trì và tham gia hoàn thiện Luật Cải cách ruộng đất, được Kỳ họp thứ ba, Quốc hội khóa I thông qua ngày 04/12/1953. Theo Người: “mục đích, ý nghĩa của cải cách ruộng đất là: thủ tiêu quyền chiếm hữu ruộng đất của thực dân Pháp và của đế quốc xâm lược khác ở Việt Nam, xóa bỏ chế độ phong kiến chiếm hữu ruộng đất của giai cấp địa chủ để thực hiện người cày có ruộng, giải phóng sức sản xuất ở nông thôn, cải thiện đời sống nông dân, đẩy mạnh kháng chiến” (Hồ Chí Minh, 2011c, tr.551).
Trong quan điểm của Hồ Chí Minh, chính sách đất đai luôn gắn với lợi ích thiết thực của người sản xuất và phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất. Quan điểm này có ý nghĩa gợi mở quan trọng đối với điều kiện hiện nay, khi phát triển nông nghiệp công nghệ cao đòi hỏi chính sách đất đai phải vừa bảo đảm hiệu quả sử dụng, vừa hỗ trợ tổ chức lại sản xuất theo hướng tập trung, hiện đại.
Thứ hai, chính sách ứng dụng khoa học, kỹ thuật cho phát triển nông nghiệp
Chính sách này được thể chế hóa thông qua nhiều sắc lệnh và nghị quyết quan trọng do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành hoặc trực tiếp chỉ đạo, như Sắc lệnh số 69-SL ngày 01/12/1945 về việc sáp nhập các cơ quan canh nông, thú y, mục súc, ngư nghiệp, lâm chính và nông nghiệp tín dụng vào Bộ Canh nông; Sắc lệnh số 70 SL ngày 22/5/1946 về lập Ủy ban Trung ương Hộ đê; Sắc lệnh số 194/SL ngày 28/5/1948 về tổ chức hệ thống bảo vệ đê điều; Sắc lệnh số 68/SL ngày 18/6/1949 quy định kế hoạch thực hành công tác thủy nông và bảo vệ công trình thủy nông. Hệ thống sắc lệnh này cho thấy, Hồ Chí Minh đặc biệt quan tâm đến việc xây dựng nền tảng kỹ thuật cho nông nghiệp, xem đó là điều kiện thiết yếu để tăng năng suất và củng cố nền kinh tế quốc dân. Người chỉ rõ: “Có cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức lao động, mới có thể sản xuất nhiều, nhanh, tốt, rẻ…” (Hồ Chí Minh, 2011d, tr.527). Theo Hồ Chí Minh, ứng dụng khoa học, kỹ thuật là trách nhiệm của mọi người, mọi ngành nhằm nâng cao năng suất lao động, sản xuất ra nhiều của cải vật chất và xây dựng chủ nghĩa xã hội thắng lợi. Hồ Chí Minh không tách rời kỹ thuật với tổ chức sản xuất, cũng không xem ứng dụng khoa học, kỹ thuật là vấn đề thuần túy chuyên môn, mà đặt trong mối quan hệ với hiệu quả lao động, lợi ích của người dân và nhiệm vụ phát triển đất nước.
Thứ ba, chính sách thuế phù hợp tạo điều kiện cho nông nghiệp phát triển
Trong tư duy kinh tế của Hồ Chí Minh, chính sách thuế phải mang tính khuyến nông rõ rệt: chỉ thu đối với cây trồng chính, miễn thuế cho trồng xen, đồng thời áp dụng miễn, giảm theo điều kiện và thời hạn đối với tăng vụ và khai hoang để khuyến khích mở rộng sản xuất. Người nói: “Thuế phải khuyến khích sản xuất. Cho nên Nhà nước chỉ thu thuế những cây trồng chính. Trồng xen kẽ được miễn thuế. Tăng vụ chưa quá 3 năm, vỡ hoang chưa quá 5 năm, đều chưa phải nộp thuế” (Hồ Chí Minh, 2011e, tr.221). Quan điểm này được thể chế hóa trong Sắc lệnh số 78/SL về ấn định giảm mức địa tô và lập Hội đồng giảm tô cấp tỉnh do Chủ tịch Hồ Chí Minh ký ban hành ngày 14/7/1949. Luật Thuế nông nghiệp ngày 01/5/1951 cũng đã thay thế chế độ tô thuế của chế độ phong kiến bằng một cơ chế thuế thống nhất của Nhà nước, tính theo sản lượng và hạng đất, đồng thời quy định: “những gia đình nào thu hoạch hằng năm không đầy 60 kilo thóc thì được miễn thuế. Những gia đình nào thu nhiều hơn số ấy thì phải nộp thuế lũy tiến. Nói chung số thuế chính phủ thu không quá 20% sản lượng hằng năm” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.305).
Nội dung này thể hiện rõ nguyên tắc nghĩa vụ thuế phải phù hợp với khả năng sản xuất thực tế, không làm suy giảm động lực lao động của nông dân. Chính sách thuế không chỉ có chức năng thu ngân sách, mà còn là công cụ điều tiết và khuyến khích sản xuất.
Quan điểm của Hồ Chí Minh về chính sách phát triển nông nghiệp có tính toàn diện, bao quát từ chính sách sử dụng đất, ứng dụng khoa học, kỹ thuật đến chính sách thuế, trong đó nổi bật là tư tưởng phát huy vai trò của người nông dân, giải phóng sức sản xuất, khuyến khích ứng dụng tiến bộ kỹ thuật và bảo đảm lợi ích thiết thực của Nhân dân. Tinh thần cốt lõi cần vận dụng trong bối cảnh hiện nay không phải là sự tương đồng về điều kiện kỹ thuật, mà là nguyên tắc coi khoa học – kỹ thuật, tổ chức sản xuất và lợi ích của người dân là động lực phát triển nông nghiệp. Đây là cơ sở lý luận quan trọng để xem xét thực tiễn phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay.
2.2. Thực trạng vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh trong hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
* Về thành tựu
Một là, Thành phố đã ban hành nhiều chính sách mang tính đột phá về quy hoạch đất đai phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Trong những năm gần đây, Thành phố đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách quy hoạch và sử dụng đất phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Cụ thể, Quyết định số 2092/QĐ-UBND ngày 10/6/2021 của Ủy ban nhân dân Thành phố về “phê duyệt Chương trình phát triển giống cây, con và nông nghiệp công nghệ cao giai đoạn 2020 – 2030” đã định hướng bố trí quỹ đất cho các khu nghiên cứu, sản xuất và ứng dụng nông nghiệp công nghệ cao, được quy hoạch trên 100 hecta đất nông nghiệp tại các huyện ngoại thành. Quyết định số 6002/QĐ-UBND ngày 29/12/2023 của Ủy ban nhân dân Thành phố về “phê duyệt Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị giai đoạn 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050” đã xác định việc tổ chức lại không gian nông nghiệp đô thị với khoảng 20.000 – 21.000 ha đất nông nghiệp được duy trì và khai thác theo hướng nông nghiệp công nghệ cao và sinh thái.
Thành phố Hồ Chí Minh sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai, gắn phát triển nông nghiệp với tiến bộ khoa học – kỹ thuật và tổ chức lại sản xuất theo quy mô tập trung. Trong bối cảnh đô thị hóa nhanh và áp lực chuyển đổi mục đích sử dụng đất ngày càng lớn, việc duy trì quỹ đất cho nông nghiệp công nghệ cao có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng phát triển nông nghiệp đô thị bền vững của Thành phố.
Hai là, Thành phố ban hành các chính sách thúc đẩy ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ vào phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Để nâng cao năng suất lao động và cải thiện đời sống nhân dân, Thành phố đã ban hành nhiều chính sách thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Nổi bật là Quyết định số 2092/QĐ-UBND đặt trọng tâm vào nghiên cứu, chọn tạo giống mới và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp. Quyết định số 167/QĐ-UBND ngày 12/01/2024 ban hành “Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 42-CtrHĐ/TW ngày 21/6/2023 của Thành ủy về triển khai thực hiện Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 30/01/2023 của Bộ Chính trị về phát triển và ứng dụng công nghệ sinh học phục vụ phát triển bền vững đất nước trong tình hình mới đến năm 2030 và tầm nhìn 2045”, xác định nhiệm vụ phát triển ứng dụng công nghệ sinh học trong nông nghiệp đô thị. Đồng thời, Kế hoạch số 1413/KH-UBND ngày 03/3/2025 và Kế hoạch số 4354/KH-UBND ngày 14/6/2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố về triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 24/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia tạo cơ sở cho việc ứng dụng công nghệ số, tự động hóa và trí tuệ nhân tạo trong sản xuất nông nghiệp.
Trên cơ sở các chính sách này, Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao của Thành phố trong giai đoạn 2021 – 2025 “đã triển khai 172 nhiệm vụ khoa học – công nghệ, xây dựng hơn 100 quy trình kỹ thuật sản xuất, phát triển 464 mô hình trình diễn công nghệ cao và chọn tạo 25 giống cây trồng mới” (Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh, 2025), góp phần nâng cao năng suất, chất lượng và giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp đô thị. Điều đó cho thấy bước đầu đã hình thành sự gắn kết giữa chính sách, cơ sở nghiên cứu, khu nông nghiệp công nghệ cao và thực tiễn sản xuất.
Ba là, Thành phố đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ thuế cho các hộ gia đình và doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao
Thành phố Hồ Chí Minh đã từng bước triển khai các cơ chế, chính sách liên quan đến ưu đãi thuế và nghĩa vụ thuế đối với hoạt động đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao. Cụ thể, Quyết định số 79/2025/QĐ-UBND ngày 30/6/2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố “quy định giá thóc làm căn cứ tính thuế sử dụng đất nông nghiệp trên địa bàn Thành phố”. Bên cạnh đó, Công văn số 3228/TPHCM-QLĐ ngày 02/10/2025 của Cục Thuế Thành phố Hồ Chí Minh hướng dẫn việc kê khai thuế sử dụng đất phi nông nghiệp và xác định các trường hợp được miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức và doanh nghiệp trong thực hiện nghĩa vụ thuế. Đồng thời, Quyết định số 3207/QĐ-UBND ngày 15/12/2025 của Ủy ban nhân dân Thành phố công bố danh sách 17 xã, phường và 01 đặc khu Côn Đảo thuộc diện ưu đãi đầu tư và ưu đãi đầu tư đặc biệt trên địa bàn Thành phố, qua đó làm cơ sở để các dự án đầu tư, trong đó có dự án nông nghiệp công nghệ cao, được áp dụng các chính sách ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật đầu tư.
Thông qua việc cụ thể hóa và tổ chức thực thi các chính sách thuế và ưu đãi đầu tư, Thành phố tạo môi trường tài chính thuận lợi cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, đồng thời từng bước hiện thực hóa quan điểm của Hồ Chí Minh về việc sử dụng chính sách kinh tế như một công cụ quan trọng nhằm khuyến khích phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tế nông nghiệp trong điều kiện mới.
* Về hạn chế cần khắc phục
Thứ nhất, chính sách quy hoạch và sử dụng đất cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao thiếu tính ổn định và đồng bộ
Mặc dù Thành phố đã ban hành nhiều chính sách quan trọng nhằm quy hoạch và tổ chức không gian đất đai cho phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nhưng trên thực tế việc triển khai vẫn còn một số hạn chế. Quỹ đất nông nghiệp của Thành phố có xu hướng thu hẹp nhanh do quá trình đô thị hóa và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Theo Niên giám thống kê, “diện tích đất nông nghiệp của Thành phố đã giảm từ khoảng 118.000 ha năm 2000 xuống còn khoảng 88.000 ha năm 2022” (Cục Thống kê Thành phố Hồ Chí Minh, 2023, tr.214). Bên cạnh đó, đất sản xuất nông nghiệp vẫn còn phân tán, quy mô hộ sản xuất nhỏ lẻ còn phổ biến, gây khó khăn cho việc tích tụ đất đai và triển khai các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao quy mô lớn.
Thực trạng này cho thấy, việc vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai đã được chú trọng, nhưng vẫn chưa đạt được nhiều kết quả trong bối cảnh đô thị hóa nhanh.
Thứ hai, chính sách ứng dụng khoa học, công nghệ trong nông nghiệp công nghệ cao chưa thật sự tương xứng với tiềm năng
Mức độ ứng dụng vào sản xuất vẫn còn hạn chế do chi phí đầu tư công nghệ cao lớn, khả năng tiếp cận công nghệ của các hộ sản xuất nhỏ hạn chế, trong khi hệ thống chuyển giao công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực nông nghiệp công nghệ cao chưa thật sự đáp ứng yêu cầu thực tiễn. Điều này làm cho khoảng cách giữa nghiên cứu khoa học và ứng dụng trong sản xuất vẫn còn tương đối lớn, chưa phát huy đầy đủ vai trò của khoa học, công nghệ như một động lực trực tiếp của phát triển nông nghiệp.
Thứ ba, hiệu quả thực thi các chính sách tài chính và ưu đãi thuế đối với doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao chưa cao
Mặc dù Thành phố đã triển khai một số cơ chế liên quan đến ưu đãi tài chính và thuế nhằm khuyến khích đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao, nhưng hiệu quả thực thi trên thực tế vẫn còn hạn chế. Theo Báo cáo của Hiệp hội doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh năm 2024, khoảng 72% doanh nghiệp được khảo sát cho rằng thủ tục hành chính và cơ chế chính sách vẫn là rào cản lớn đối với việc mở rộng đầu tư trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Ngoài ra, phần lớn các ưu đãi thuế đối với nông nghiệp công nghệ cao được quy định ở cấp quốc gia, trong khi chính quyền địa phương chủ yếu thực hiện chức năng triển khai và hướng dẫn thực hiện, nên mức độ chủ động trong việc thiết kế các chính sách ưu đãi thuế đặc thù cho doanh nghiệp còn hạn chế.
Vì vậy, việc vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh về sử dụng chính sách kinh tế như một công cụ thúc đẩy sản xuất nông nghiệp trong điều kiện kinh tế thị trường vẫn cần tiếp tục được hoàn thiện cả về thể chế và cơ chế thực thi.
2.3. Giải pháp tiếp tục vận dụng quan điểm Hồ Chí Minh trong hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thứ nhất, Thành phố cần tiếp tục hoàn thiện chính sách đất đai và hạ tầng phục vụ phát triển nông nghiệp công nghệ cao
Theo Hồ Chí Minh, đất đai là tư liệu sản xuất cơ bản của nông nghiệp, vì vậy, việc quản lý và sử dụng đất phải hướng tới mục tiêu phục vụ phát triển sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh mở rộng không gian phát triển và đẩy mạnh tái cấu trúc nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị công nghệ cao, yêu cầu hoàn thiện chính sách đất đai trở nên đặc biệt cấp thiết. Theo định hướng quy hoạch phát triển nông nghiệp trong thời gian tới, Thành phố Hồ Chí Minh dự kiến hình thành khoảng 14 khu nông nghiệp công nghệ cao, phân bố tại các vùng nông nghiệp trọng điểm như, Củ Chi, Hóc Môn, Bình Chánh, Nhà Bè, Cần Giờ và mở rộng sang các khu vực mới sau sáp nhập, trong đó có các khu nông nghiệp công nghệ cao quy mô lớn, như Khu nông nghiệp công nghệ cao Bình Giã khoảng 383 ha, được định hướng phát triển theo mô hình đa chức năng kết hợp sản xuất, nghiên cứu, trình diễn công nghệ và dịch vụ nông nghiệp.
Việc hình thành hệ thống khu nông nghiệp công nghệ cao quy mô lớn này đặt ra yêu cầu phải đổi mới chính sách đất đai theo hướng tạo điều kiện cho tích tụ và tập trung đất nông nghiệp, phát triển các vùng sản xuất tập trung gắn với trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, đồng thời cho phép sử dụng đất nông nghiệp theo mô hình đa mục tiêu như sản xuất – nghiên cứu – dịch vụ – trải nghiệm nông nghiệp. Chính sách đất đai cần bảo đảm tính ổn định dài hạn của quyền sử dụng đất, giảm chi phí tiếp cận đất đai cho doanh nghiệp và tổ chức khoa học, công nghệ, từ đó hình thành các cụm đổi mới sáng tạo nông nghiệp, nâng cao giá trị gia tăng và năng lực cạnh tranh của nông nghiệp đô thị trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế.
Bên cạnh đó, chính sách đất đai cần được hoàn thiện theo hướng sử dụng đất nông nghiệp đa mục tiêu, cho phép kết hợp sản xuất nông nghiệp với các công trình phục vụ trực tiếp sản xuất, như kho bảo quản, trung tâm đóng gói, hệ thống năng lượng tái tạo và các cơ sở dịch vụ nông nghiệp. Để giải quyết tình trạng đất sản xuất manh mún, Thành phố có thể nghiên cứu ban hành Đề án thí điểm “ngân hàng đất nông nghiệp” do Nhà nước điều phối. Cơ chế này cho phép tập hợp quỹ đất nông nghiệp thông qua hình thức thuê, chuyển nhượng hoặc góp quyền sử dụng đất vào hợp tác xã và doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, qua đó tạo điều kiện tích tụ đất đai phục vụ sản xuất quy mô lớn. Việc triển khai cơ chế này không chỉ nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên đất, mà còn phù hợp với tinh thần tiết kiệm và khai thác hợp lý đất đai mà Hồ Chí Minh từng nhấn mạnh trong các quan điểm về phát triển nông nghiệp.
Thứ hai, các chính sách cần tập trung vào nghiên cứu khoa học trong nông nghiệp và chuyển giao công nghệ là giải pháp mang tính căn cốt trong sản xuất nông nghiệp công nghệ cao
Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh, nhiệm kỳ 2025 – 2030 xác định phát triển nông nghiệp đô thị phải gắn với khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, trong đó công nghệ sinh học và nông nghiệp công nghệ cao là một trong những lĩnh vực trọng điểm nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản xuất nông nghiệp.
Thành phố cần tiếp tục tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, đặc biệt là các công nghệ nền tảng, như công nghệ sinh học, công nghệ tự động hóa, hệ thống cảm biến thông minh và trí tuệ nhân tạo trong quản lý sản xuất nông nghiệp. Trên cơ sở Quyết định số 2092/QĐ-UBND, Thành phố cần tiếp tục triển khai các nhiệm vụ nghiên cứu chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao, phát triển công nghệ nhân giống và ứng dụng công nghệ sinh học trong sản xuất nông nghiệp, đồng thời phát triển các trung tâm nghiên cứu đạt chuẩn quốc tế trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Đồng thời, việc thực hiện Kế hoạch triển khai Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 57-NQ/TW cần gắn chặt với mục tiêu chuyển đổi số trong lĩnh vực nông nghiệp, thông qua việc xây dựng hệ thống dữ liệu số về sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ số trong quản lý vùng sản xuất, dự báo thị trường và truy xuất nguồn gốc nông sản.
Giai đoạn 2026 – 2030, cần ưu tiên đầu tư phát triển Khu Nông nghiệp công nghệ cao Củ Chi trở thành trung tâm nghiên cứu, thử nghiệm và chuyển giao công nghệ nông nghiệp của khu vực phía Nam; đồng thời, hình thành các trung tâm nghiên cứu giống thủy sản và công nghệ nuôi trồng thủy sản hiện đại tại Cần Giờ. Bên cạnh đó, Thành phố cần ban hành các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp và hợp tác xã tiếp nhận, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất, đặc biệt là công nghệ sinh học, công nghệ vi sinh, công nghệ sau thu hoạch và công nghệ chế biến sâu nhằm nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm nông nghiệp. Việc xây dựng hệ sinh thái nghiên cứu – chuyển giao công nghệ gắn với doanh nghiệp và thị trường không chỉ góp phần nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo trong nông nghiệp, mà còn hiện thực hóa quan điểm của Hồ Chí Minh về việc kết hợp giữa khoa học – kỹ thuật và tổ chức sản xuất để thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững.
Thứ ba, hoàn thiện chính sách ưu đãi thuế nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp công nghệ cao
Vận dụng quan điểm về chính sách thuế trong điều kiện hiện nay, Thành phố Hồ Chí Minh cần tiếp tục hoàn thiện các chính sách thuế nhằm tạo môi trường đầu tư thuận lợi cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao. Trước hết, Hội đồng nhân dân Thành phố cần xây dựng và ban hành nghị quyết về cơ chế ưu đãi đầu tư đối với doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao, trong đó quy định cụ thể các hình thức hỗ trợ như giảm hoặc miễn tiền thuê đất nông nghiệp trong thời gian đầu tư, hỗ trợ chi phí chuyển đổi mục đích sử dụng đất phục vụ sản xuất nông nghiệp công nghệ cao và hỗ trợ chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật tại các vùng sản xuất tập trung. Bên cạnh đó, Ủy ban nhân dân Thành phố cần ban hành kế hoạch triển khai các chính sách ưu đãi thuế theo Nghị định số 57/2018/NĐ-CP của Chính phủ về khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, trong đó hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế sử dụng đất nông nghiệp và thuế nhập khẩu đối với thiết bị công nghệ cao phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Đồng thời, Thành phố cần tăng cường cơ chế phối hợp giữa Chi cục Thuế khu vực II (Thành phố Hồ Chí Minh), Sở Nông nghiệp và Môi trường và Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao nhằm xây dựng hệ thống hướng dẫn và tư vấn chính sách thuế cho doanh nghiệp, bảo đảm các doanh nghiệp nông nghiệp công nghệ cao có thể tiếp cận đầy đủ các ưu đãi thuế theo quy định của pháp luật. Việc cụ thể hóa các chính sách ưu đãi thuế thông qua các văn bản điều hành và hướng dẫn thực thi sẽ góp phần giảm chi phí đầu tư ban đầu, khuyến khích doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao và thúc đẩy quá trình hiện đại hóa nông nghiệp đô thị của Thành phố.
4. Kết luận
Việc vận dụng quan điểm của Hồ Chí Minh trong xây dựng và hoàn thiện chính sách phát triển nông nghiệp công nghệ cao tại Thành phố đã góp phần định hình một mô hình nông nghiệp đô thị dựa trên khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thực tiễn cho thấy Thành phố đã đạt được nhiều kết quả tích cực trong quy hoạch đất đai, thúc đẩy ứng dụng khoa học, công nghệ và từng bước hoàn thiện các chính sách hỗ trợ phát triển sản xuất. Tuy nhiên, quá trình này vẫn còn những hạn chế về đất đai, chuyển giao công nghệ và hiệu quả thực thi chính sách. Do đó, tiếp tục vận dụng sáng tạo quan điểm của Hồ Chí Minh trong hoàn thiện thể chế, nâng cao hiệu lực quản trị và phát triển nguồn lực khoa học, công nghệ sẽ là điều kiện quan trọng để nông nghiệp công nghệ cao của Thành phố phát triển bền vững trong thời gian tới./.
——————————————————-
Ngày nhận bài:14/01/2026; ngày thẩm định: 16/01/2026; ngày duyệt đăng: 20/5/2026
Email liên hệ: [email protected]
Tài liệu tham khảo
Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2026 – 2030 của Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh (Ban hành kèm theo Quyết định số 405/QĐ-NNCNC ngày 29/12/2025 của Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao).
Cục thống kê Thành phố Hồ Chí Minh (2023), Niên giám thống kê Thành phố Hồ Chí Minh năm 2023, Nxb Thống kê
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 4). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 7). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011c). Toàn tập (Tập 9). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011d). Toàn tập (Tập 12). Nxb Chính trị quốc gia.
Hồ Chí Minh (2011e). Toàn tập (Tập 13). Nxb Chính trị quốc gia.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Sơ kết thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp đô thị trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2024 – 2025, định hướng giải pháp chủ yếu giai đoạn 2026 – 2030 (số 320/BC-UBND).
(Tạp chí Khoa học chính trị số 4/2026)
