PGS, TS. NGUYỄN TẤN VINH
Học viện Chính trị khu vực II
TS. PHAN HOÀNG NGỌC ANH
Học viện Chính trị khu vực II
Tóm tắt: Thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số là yêu cầu quan trọng của quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và chuyển đổi số quốc gia ở Việt Nam. Trên cơ sở kế thừa tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về quyền làm chủ của Nhân dân và kết quả khảo sát 800 cán bộ lãnh đạo, quản lý và người dân tại ba địa phương, bài viết phân tích thực trạng quyền tham gia và quyền giám sát, phản biện xã hội của Nhân dân trong không gian số với các điều kiện bảo đảm, từ đó đề xuất các giải pháp gắn với vai trò, trách nhiệm của từng chủ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số ở Việt Nam.
Từ khóa: chuyển đổi số; không gian số; quyền giám sát, phản biện xã hội; quyền làm chủ của Nhân dân; quyền tham gia
EXERCISING THE PEOPLE’S RIGHT TO MASTERY IN THE DIGITAL SPACE IN VIET NAM
Abstract: Exercising the People’s right to mastery in the digital space is an important requirement in the process of building a socialist rule-of-law state and advancing national digital transformation in Viet Nam. Building on Ho Chi Minh Thought and the perspectives of the Communist Party of Viet Nam on the People’s right to mastery, as well as the results of a survey of 800 leaders, managers, and citizens in three localities, this article analyzes the current state of the People’s right to participate and their right to oversight and social criticism in the digital space, together with the enabling conditions. On that basis, it proposes solutions linked to the roles and responsibilities of each actor to enhance the effective exercise of the People’s right to mastery in Viet Nam’s digital space.
Keywords: digital transformation; digital space; right to oversight and social criticism; the People’s right to mastery; right to participate.
1. Đặt vấn đề
Ở Việt Nam, quyền làm chủ của Nhân dân thể hiện bản chất chính trị cốt lõi của chế độ xã hội chủ nghĩa mà Việt Nam đang xây dựng. Ngay từ những ngày đầu chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định vai trò làm chủ của Nhân dân: “Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân. Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.232). Người cũng nhiều lần nhấn mạnh vai trò của Nhân dân đối với sự nghiệp cách mạng: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân. Trong thế giới không gì mạnh bằng lực lượng đoàn kết của nhân dân” (Hồ Chí Minh, 2011b, tr.453). Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) khẳng định: “Xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là một xã hội: Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh; do nhân dân làm chủ; có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp…; có Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân do Đảng Cộng sản lãnh đạo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011, tr.70). Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng tiếp tục nhấn mạnh yêu cầu “phát huy vai trò chủ thể, vị trí trung tâm của Nhân dân” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.237), đồng thời xác định “lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chính” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.260). Trong bối cảnh chuyển đổi số diễn ra sâu rộng, phương thức thực hiện quyền lực của Nhân dân được mở rộng thông qua các nền tảng số, dữ liệu số và dịch vụ công trực tuyến. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định: “phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của Nhân dân; tăng cường kiểm soát quyền lực, kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu, tiêu cực” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.375) gắn với quá trình đổi mới phương thức lãnh đạo, quản lý trong giai đoạn phát triển mới.
Trong bối cảnh chuyển đổi số quốc gia, yêu cầu phát huy quyền làm chủ của Nhân dân được đặt ra với nhiều nội dung và phương thức mới. Chính phủ số, cơ sở dữ liệu quốc gia và các nền tảng số đã mở rộng khả năng tiếp cận thông tin, tăng cường tương tác giữa Nhà nước với người dân, tạo thêm nhiều kênh để Nhân dân tham gia vào hoạt động quản trị công. Tuy nhiên, việc mở rộng điều kiện kỹ thuật không đồng nghĩa với quyền làm chủ của Nhân dân được thực hiện đầy đủ. Công nghệ tạo thêm cơ hội tham gia, nhưng không tự tạo ra sự tham gia thực chất; thông tin công khai chưa đồng nghĩa với khả năng giám sát hiệu quả. Vì vậy, trên cơ sở kết hợp dữ liệu thứ cấp và kết quả khảo sát thực tiễn, bài viết tập trung làm rõ cơ sở lý luận về quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số, đánh giá thực trạng, từ đó đề xuất những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số ở Việt Nam hiện nay.
2. Dữ liệu và phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng dữ liệu thứ cấp và dữ liệu sơ cấp. Dữ liệu thứ cấp được khai thác từ các văn kiện của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về dân chủ, chuyển đổi số, Chính phủ số và chính quyền số; các tác phẩm kinh điển của Chủ tịch Hồ Chí Minh liên quan đến quyền làm chủ của Nhân dân. Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm “Nghiên cứu phát huy vai trò của mô hình dân chủ số dưới sự lãnh đạo của Đảng”, với tổng số 800 phiếu khảo sát, trong đó, 500 phiếu cán bộ lãnh đạo, quản lý và 300 phiếu người dân tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Khánh Hòa và tỉnh Cao Bằng. Mẫu khảo sát được phân theo nhóm đối tượng và địa bàn nghiên cứu, phù hợp với yêu cầu của cuộc khảo sát. Các kết quả được sử dụng để nhận diện xu hướng và những đặc điểm nổi bật trong phạm vi khảo sát, không suy rộng trực tiếp cho toàn bộ dân số. Phiếu khảo sát sử dụng thang đo Likert 5 mức, từ mức 1 – hoàn toàn không đồng ý đến mức 5 – hoàn toàn đồng ý, tập trung vào hai nội dung cốt lõi của việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số là quyền tham gia và quyền giám sát, phản biện xã hội; đồng thời, xem xét công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình để bảo đảm thực hiện các quyền này. Dữ liệu được xử lý bằng phần mềm SPSS, sử dụng thống kê mô tả thông qua điểm trung bình và độ lệch chuẩn; độ tin cậy của các thang đo được kiểm định bằng hệ số Cronbach’s Alpha. Các kết quả định lượng được phân tích, đối chiếu với dữ liệu thứ cấp nhằm làm rõ những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân của việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số.
3. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
3.1. Cơ sở lý luận về thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số
3.1.1. Quan niệm về quyền làm chủ của Nhân dân, không gian số và việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số
Quyền làm chủ của Nhân dân là một phạm trù chính trị – pháp lý phản ánh địa vị của Nhân dân với tư cách chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước trong chế độ xã hội chủ nghĩa. Ngay từ những năm đầu xây dựng chính quyền cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ bản chất dân chủ của Nhà nước ta: “NƯỚC TA LÀ NƯỚC DÂN CHỦ. Bao nhiêu lợi ích đều vì dân. Bao nhiêu quyền hạn đều của dân… Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra… Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” (Hồ Chí Minh, 2011a, tr.232). Hiến pháp năm 2013 (sửa đổi, bổ sung năm 2025) hiến định “Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam do Nhân dân làm chủ; tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” (Quốc hội, 2025). Vì vậy, quyền làm chủ của Nhân dân là thuộc tính vốn có với tư cách chủ thể quyền lực, được thực hiện thông qua hình thức dân chủ trực tiếp và dân chủ đại diện theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, trong đó có Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở năm 2022 (Quốc hội, 2022).
Không gian số là môi trường hình thành trên hạ tầng số, mạng internet, dữ liệu số và các nền tảng số, nơi các chủ thể trong xã hội – Nhà nước, tổ chức và công dân tương tác, trao đổi thông tin và thực hiện các hoạt động quản lý, cung ứng dịch vụ công. Không gian số không thay thế không gian chính trị – xã hội truyền thống, mà bổ sung, mở rộng phạm vi và phương thức vận hành bằng các công cụ mới, như cổng dịch vụ công trực tuyến, cơ sở dữ liệu quốc gia, ứng dụng di động và nền tảng tương tác giữa chính quyền với người dân.
Thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số được hiểu là quá trình Nhân dân sử dụng các công cụ, nền tảng và dữ liệu số để hiện thực hóa quyền làm chủ trong quản lý nhà nước và xã hội, thông qua việc tham gia ý kiến, giám sát và phản biện đối với hoạt động của bộ máy công quyền. Bản chất quyền lực thuộc về Nhân dân không thay đổi khi phương thức thực hiện quyền lực chuyển từ môi trường truyền thống sang môi trường số, điều thay đổi là cách thức, công cụ và tốc độ, từ đó ý chí, nguyện vọng của Nhân dân được tiếp nhận, phản hồi và xem xét trong quá trình hoạch định, tổ chức thực hiện chính sách.
3.1.2. Nội dung thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số
Xuất phát từ bản chất chính trị của quyền làm chủ và đặc điểm của không gian số, việc thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số ở Việt Nam hiện nay tập trung vào hai nội dung cốt lõi, phù hợp với phương châm mà Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “thực sự tin tưởng, tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của Nhân dân; kiên trì thực hiện phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026, tr.238), trong đó “dân bàn, dân làm” tương ứng với nội dung quyền tham gia, “dân kiểm tra, dân giám sát” tương ứng với nội dung quyền giám sát, phản biện xã hội.
Một là, quyền tham gia của Nhân dân, thể hiện ở việc Nhân dân sử dụng các nền tảng số để góp ý xây dựng chủ trương, chính sách, pháp luật; gửi kiến nghị, phản ánh đối với hoạt động của cơ quan nhà nước; tham gia đối thoại, tham vấn và các hình thức tương tác với cơ quan công quyền trong quá trình quản lý nhà nước và xã hội. Đây là hình thức biểu hiện trực tiếp nhất của dân chủ trong không gian số, phản ánh mức độ Nhân dân được tạo điều kiện để bày tỏ ý chí, nguyện vọng đối với các quyết định quản lý nhà nước và xã hội.
Hai là, quyền giám sát, phản biện xã hội của Nhân dân, thể hiện ở khả năng theo dõi, đối chiếu và đánh giá quá trình tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách, pháp luật cũng như hoạt động của đội ngũ cán bộ, công chức trên cơ sở dữ liệu và thông tin được công khai trên các nền tảng số. Khác với quyền tham gia là nhằm hướng đến hình thành các quyết định quản lý, còn quyền giám sát, phản biện xã hội là để kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện và kết quả của các quyết định, qua đó kiểm soát quyền lực nhà nước theo đúng chủ trương của Đảng và quy định của pháp luật.
Điều kiện bảo đảm thực hiện hai quyền này là các cơ quan công quyền công khai, minh bạch và thực hiện trách nhiệm giải trình. Công khai, minh bạch tạo điều kiện để người dân tiếp cận thông tin đầy đủ, kịp thời, bình đẳng. Đây là tiền đề để quyền tham gia có căn cứ và quyền giám sát có đối tượng để kiểm chứng; trách nhiệm giải trình bảo đảm cơ quan nhà nước có nghĩa vụ giải thích, phản hồi và chịu trách nhiệm về quyết định quản lý để ý kiến tham gia của Nhân dân được xử lý đến cùng và kết quả giám sát được chuyển hóa thành hành động khắc phục.
3.2. Thực trạng thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số ở Việt Nam
3.2.1. Thực hiện quyền tham gia của Nhân dân trong không gian số
Chuyển đổi số đã mở ra những hình thức tham gia mới, tạo điều kiện để người dân gửi kiến nghị, phản ánh và góp ý đối với hoạt động của cơ quan nhà nước thông qua các nền tảng số. Cổng Dịch vụ công quốc gia, cổng tham vấn chính sách, các ứng dụng và hệ thống tương tác của chính quyền địa phương đã góp phần mở rộng đáng kể phạm vi thực hiện quyền tham gia của Nhân dân, so với các phương thức tương tác truyền thống vốn bị giới hạn về không gian và thời gian.
Kết quả khảo sát cho thấy, nhóm người dân đã có trải nghiệm tham gia, mức đánh giá đối với kết quả thực hiện quyền đạt 3,605 điểm trên thang 5 mức độ. Các chỉ báo về tính minh bạch trong xử lý phản ánh 3,630 điểm, niềm tin đối với chính quyền khi ý kiến được phản hồi 3,637 điểm và sự gắn kết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân 3,630 điểm đều được đánh giá ở mức khá tích cực (xem Bảng 1). Đây là kết quả bước đầu quan trọng, cho thấy ở những nơi các nền tảng số đã đi vào vận hành ổn định, quyền tham gia của người dân được cảm nhận khá rõ nét ở cấp độ cá nhân.
Bảng 1. Đánh giá của người dân về kết quả và tác động của việc tham gia trong mô hình dân chủ số (n = 300)
| Chỉ báo | ĐTB | ĐLC | Sig |
| Các phản ánh của người dân được xử lý minh bạch và có phản hồi cụ thể | 3,630 | 0,881 | *** |
| Tôi cảm thấy tin tưởng hơn vào chính quyền khi ý kiến được phản hồi trên cổng điện tử | 3,637 | 0,880 | *** |
| Nhiều người dân trong khu phố đang sinh sống tích cực tham gia góp ý qua nền tảng số | 3,557 | 0,858 | *** |
| Mô hình dân chủ số góp phần gắn kết mối quan hệ giữa Đảng, chính quyền và Nhân dân | 3,630 | 0,830 | *** |
| Điểm tổng hợp (Composite) – Cronbach’s α = 0,789 | 3,605 | 0,646 | *** |
Nguồn: Kết quả khảo sát Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm “Nghiên cứu phát huy vai trò của mô hình dân chủ số dưới sự lãnh đạo của Đảng”
Bên cạnh những kết quả đạt được bước đầu, việc thực hiện quyền tham gia còn hạn chế ở phạm vi bao phủ trong toàn xã hội. Kết quả khảo sát cho thấy một điểm đáng chú ý: chất lượng trải nghiệm của nhóm đã tham gia có xu hướng tích cực hơn mức độ phổ cập của chính hành vi tham gia. Trong khi các chỉ báo về phản hồi, niềm tin và gắn kết đều đạt mức đánh giá tương đối tích cực, vẫn còn 30,3% người được hỏi chưa từng sử dụng nền tảng số để phản ánh hoặc kiến nghị và chỉ 15,3% thực hiện thường xuyên (xem Biểu đồ). Điều này cho thấy điểm nghẽn hiện nay không chỉ nằm ở chất lượng của các kênh tham gia, mà còn ở khả năng chuyển những điều kiện kỹ thuật đã được tạo lập thành hành vi tham gia thường xuyên của Nhân dân. Nói cách khác, mô hình dân chủ số đã tạo ra khả năng tham gia, nhưng chưa được chuyển hóa đồng đều thành thực hành dân chủ thường xuyên.
Biểu đồ: Tần suất người dân phản ánh qua nền tảng số

Nguyên nhân của hạn chế này bắt nguồn từ nhiều phía. Về phía người dân, năng lực số và thói quen tương tác hành chính truyền thống vẫn còn phổ biến, đặc biệt ở nhóm dân cư lớn tuổi hoặc ở địa bàn nông thôn, miền núi, khiến việc chuyển sang sử dụng nền tảng số làm kênh tương tác chính chưa trở thành lựa chọn tự nhiên. Về phía cơ quan nhà nước, chất lượng tương tác hai chiều giữa cơ quan nhà nước với người dân trên nhiều nền tảng còn thiếu đồng bộ, tốc độ và chất lượng phản hồi giữa các địa phương, các lĩnh vực chưa đồng đều, khiến niềm tin của một bộ phận người dân vào hiệu quả thực chất của việc phản ánh, kiến nghị qua kênh số chưa được củng cố vững chắc. Bên cạnh đó, việc thiếu các cơ chế khuyến khích, ghi nhận sự tham gia của người dân trong cộng đồng cũng làm hạn chế hiệu ứng lan tỏa mà lẽ ra công nghệ số có thể mang lại.
3.2.2. Thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội của Nhân dân trong không gian số
Trong môi trường số, điều kiện thực hiện quyền giám sát được mở rộng từ việc tiếp nhận thông tin về kết quả sang khả năng theo dõi thường xuyên hơn quá trình tổ chức thực hiện chủ trương, chính sách và giải quyết phản ánh trên cơ sở dữ liệu được lưu giữ trên các nền tảng số. Về kết quả, đánh giá của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý cho thấy, cơ chế kiểm tra, giám sát của tổ chức đảng đối với việc thực hiện dân chủ số đã từng bước được thiết lập và vận hành tương đối đồng bộ, với điểm tổng hợp đạt 3,628 (xem Bảng 2).
Kết quả khảo sát cũng cho thấy, theo đánh giá của đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, các điều kiện để Nhân dân thực hiện quyền giám sát trên nền tảng số đã có những chuyển biến tích cực, với điểm tổng hợp đạt 3,715 (Nguyễn Tấn Vinh, 2026). Kết quả này phản ánh nhận thức tương đối tích cực từ phía chủ thể tổ chức và vận hành các cơ chế tiếp nhận, phản hồi và giám sát. Vì vậy, cần được xem xét như một nguồn đánh giá từ phía hệ thống công quyền, không đồng nhất với trải nghiệm trực tiếp của người dân.
Trên cơ sở những kết quả đạt được, việc thực hiện quyền giám sát, phản biện xã hội vẫn bộc lộ những hạn chế cụ thể. Thứ nhất, trong nhóm chỉ báo về kiểm tra, giám sát của Đảng, khả năng kịp thời chấn chỉnh những hạn chế phát sinh chỉ đạt 3,576 điểm (xem Bảng 2), thấp nhất trong nhóm tiêu chí; điều này cho thấy khả năng chuyển hóa kết quả kiểm tra thành những điều chỉnh kịp thời đối với hoạt động quản lý vẫn chưa theo kịp yêu cầu của quản trị số. Thứ hai, đối với người dân, khả năng theo dõi toàn bộ quá trình giải quyết phản ánh cho đến khi có kết quả cuối cùng vẫn chưa thực sự hoàn chỉnh, khoảng cách giữa “được phản hồi” và “được kiểm chứng kết quả cuối cùng” vẫn là điểm nghẽn ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng thực hiện quyền giám sát.
Bảng 2. Đánh giá của cán bộ lãnh đạo, quản lý về hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng đối với thực hiện dân chủ số (n=500)
| Chỉ báo | ĐTB | ĐLC | Sig |
| Đảng thường xuyên giám sát hoạt động triển khai dân chủ số ở các cấp | 3,634 | 0,868 | *** |
| Cấp ủy kiểm tra việc tiếp nhận và xử lý phản ánh của người dân trên môi trường số | 3,654 | 0,865 | *** |
| Công tác kiểm tra của Đảng góp phần hạn chế thông tin sai lệch, cực đoan trên không gian mạng | 3,628 | 0,857 | *** |
| Đảng kịp thời chấn chỉnh các sai sót trong quá trình thực hiện dân chủ số | 3,576 | 0,891 | *** |
| Hệ thống giám sát của Đảng góp phần bảo đảm dân chủ số được thực hiện đúng định hướng chính trị | 3,648 | 0,849 | *** |
| Điểm tổng hợp (Composite) – Cronbach’s α = 0,835 | 3,628 | 0,672 | *** |
Nguồn: Kết quả khảo sát Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm “Nghiên cứu phát huy vai trò của mô hình dân chủ số dưới sự lãnh đạo của Đảng”
Nguyên nhân của những hạn chế này gắn chặt với mức độ công khai, minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình của cơ quan công quyền. Kết quả khảo sát nhóm cán bộ, công chức lãnh đạo, quản lý về công khai, minh bạch trong không gian số đạt điểm tổng hợp 3,775 (Nguyễn Tấn Vinh, 2026), cao nhất trong các nhóm chỉ báo được khảo sát, cho thấy việc công khai thông tin trên nền tảng số và minh bạch hóa hoạt động quản lý đã từng bước trở thành yêu cầu thường xuyên trong vận hành bộ máy. Tuy nhiên, ở cấp cơ sở, mức độ công khai vẫn còn khoảng cách so với yêu cầu: Điều tra PAPI năm 2023 ghi nhận tỉ lệ công khai ngân sách cấp xã chỉ đạt 39%, thấp nhất kể từ năm 2016 (United Nations Development Programme, 2024). Khi thông tin về quá trình xử lý ở cấp cơ sở chưa được công khai đầy đủ, dẫn đến người dân khó theo dõi, đối chiếu tiến độ, kết quả giải quyết phản ánh của mình và các cấp ủy cũng thiếu dữ liệu để kịp thời phát hiện, chấn chỉnh những khâu xử lý chậm trễ. Bên cạnh đó, sự thiếu liên thông giữa hệ thống dữ liệu các cấp, các ngành khiến quá trình tiếp nhận, xử lý, phản hồi và đánh giá kết quả chưa được kết nối thành một quy trình đồng bộ, làm cho trách nhiệm giải trình của cơ quan xử lý ở từng khâu chưa được xác định rõ, dễ bị phân tán khi có nhiều đơn vị cùng tham gia giải quyết một phản ánh.
3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả thực hiện quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số ở Việt Nam
Một là, tiếp tục hoàn thiện thể chế bảo đảm quyền làm chủ của Nhân dân trong không gian số
Kết quả khảo sát cho thấy quy định về tiếp nhận, xử lý và theo dõi kết quả phản ánh, kiến nghị trên nền tảng số còn phân tán, chưa đồng bộ giữa các hệ thống và loại hình phản ánh. Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện quy định về trách nhiệm tiếp nhận, thời hạn xử lý, phản hồi và công khai kết quả đối với các phản ánh, kiến nghị được gửi qua nền tảng số; chuẩn hóa yêu cầu công khai thông tin ở cấp cơ sở theo hướng thống nhất về nội dung, hình thức và thời hạn. Việc xử lý phản ánh, kiến nghị cần được cập nhật để người dân theo dõi toàn bộ quy trình. Đối với những việc chưa thể giải quyết hoặc không thuộc thẩm quyền, cơ quan tiếp nhận phải thông tin rõ căn cứ và hướng xử lý tiếp theo, tránh tình trạng tiếp nhận, nhưng không xác lập được trách nhiệm đối với ý kiến của Nhân dân.
Hai là, hoàn thiện mô hình quản trị số theo hướng thống nhất giữa thực hiện quyền dân chủ và kiểm soát quyền lực
Ủy ban kiểm tra cấp ủy cần phối hợp với các cơ quan liên quan khai thác dữ liệu về tiếp nhận, xử lý và phản hồi kiến nghị của Nhân dân để phục vụ công tác kiểm tra, giám sát. Đối với những phản ánh quá hạn, kéo dài, lặp lại nhiều lần hoặc tập trung vào cùng một lĩnh vực, cần có cơ chế tổng hợp, cảnh báo và chuyển thông tin đến cấp có thẩm quyền xem xét trách nhiệm của tổ chức, cá nhân liên quan. Từ đó, hoạt động kiểm tra, giám sát của Đảng được kết nối chặt chẽ với những vấn đề phát sinh từ thực tiễn và phản ánh của Nhân dân trên môi trường số.
Ba là, phát huy vai trò chủ thể của Nhân dân trong tiến trình chuyển đổi số quốc gia
Mở rộng dân chủ trên môi trường số phải bảo đảm khả năng tiếp cận và năng lực thực hiện quyền của các nhóm xã hội khác nhau, tránh để công nghệ trở thành yếu tố hạn chế cơ hội tham gia, giám sát và phản biện xã hội của Nhân dân. Chính quyền cơ sở cần lồng ghép hướng dẫn sử dụng nền tảng số vào các đợt sinh hoạt cộng đồng, tổ dân phố, để tổ chức hướng dẫn trực tiếp phù hợp với nhóm người dân còn hạn chế về kỹ năng số. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội cần tăng cường hướng dẫn, tập hợp, phản ánh ý kiến của Nhân dân, biểu dương những người tham gia tích cực và có đóng góp thiết thực qua nền tảng số.
4. Kết luận
Quyền tham gia và quyền giám sát, phản biện xã hội của Nhân dân trên không gian số ở Việt Nam thời gian qua đã đạt được những chuyển biến tích cực bước đầu. Tuy nhiên, hiệu quả thực chất của việc thực hiện các quyền này vẫn bị giới hạn bởi khoảng cách giữa cơ hội mà công nghệ mang lại với năng lực tham gia của xã hội, cũng như mức độ đồng bộ của thể chế công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình. Vì vậy, những giải pháp được đề xuất trong bài viết đều hướng đến việc thay đổi thực chất trong quan hệ giữa Nhân dân với chính quyền, bảo đảm quyền lực nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân trong không gian số./.
————————————————-
Bài viết là sản phẩm của Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm: “Nghiên cứu phát huy vai trò của mô hình dân chủ số dưới sự lãnh đạo của Đảng” do PGS, TS. Nguyễn Tấn Vinh làm chủ nhiệm.
Ngày nhận bài: 06/7/2026; Ngày phản biện: 08/7/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email liên hệ: [email protected]
—————————————
Tài liệu tham khảo
Đảng Cộng sản Việt Nam (2011). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI. Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Đảng Cộng sản Việt Nam (2026). Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV (Tập II). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011a). Toàn tập (Tập 6). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Hồ Chí Minh (2011b). Toàn tập (Tập 10). Nxb Chính trị quốc gia Sự thật.
Quốc hội (2022). Luật Thực hiện dân chủ ở cơ sở.
Quốc hội (2025). Nghị quyết số 203/2025/QH15 ngày 16/6/2025 sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
United Nations Development Programme (2024). Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh ở Việt Nam (PAPI) năm 2023.
Nguyễn Tấn Vinh (Chủ nhiệm) (2026). Kết quả khảo sát Đề tài khoa học cấp bộ trọng điểm: “Nghiên cứu phát huy vai trò của mô hình dân chủ số dưới sự lãnh đạo của Đảng”, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh
(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 06/2026)
