TS. NGUYỄN TÙNG LÂM
Trường Sĩ quan Chính trị, Bộ Quốc phòng
Tóm tắt: Bài viết phân tích vấn đề tự chủ chiến lược theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động nhanh, phức tạp và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng. Trên cơ sở làm rõ quan niệm, vai trò và sự cần thiết của tự chủ chiến lược, bài viết khái quát thực trạng nâng cao năng lực tự chủ quốc gia của Việt Nam. Từ đó, bài viết đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm củng cố nội lực phát triển, nâng cao năng lực thích ứng và chủ động hội nhập quốc tế trong giai đoạn mới.
Từ khóa: Đại hội lần thứ XIV của Đảng; tự chủ chiến lược; Việt Nam
STRATEGIC AUTONOMY IN THE SPIRIT OF THE 14TH NATIONAL CONGRESS OF THE COMMUNIST PARTY OF VIETNAM
Abstract: This article analyzes strategic autonomy in the spirit of the 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam in the context of a rapidly changing international environment and intensifying strategic competition among major powers. On the basis of clarifying the concept, role, and necessity of strategic autonomy, the article outlines Vietnam’s current efforts to strengthen national autonomy. It then proposes several orientations and solutions to consolidate internal development capacity, enhance adaptability, and proactively deepen international integration in the new period.
Keywords: 14th National Congress of the Communist Party of Vietnam; strategic autonomy; Viet Nam
1. Đặt vấn đề
Trong bối cảnh cục diện thế giới và khu vực có nhiều biến động sâu sắc, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng và tiến trình toàn cầu hóa diễn ra với những điều chỉnh phức tạp, yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ quốc gia ngày càng trở nên cấp thiết. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhận định: “Môi trường chính trị, kinh tế, an ninh thế giới liên tục bất ổn, diễn biến phức tạp, nhanh chóng, khó dự báo” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026b, tr.12). Những biến động đó đặt ra yêu cầu các quốc gia phải vừa tham gia sâu vào các mạng lưới liên kết quốc tế, vừa giữ vững khả năng tự quyết trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển.
Trong bối cảnh đó, tự chủ chiến lược nổi lên như một nội dung quan trọng trong tư duy phát triển quốc gia, phản ánh năng lực của một quốc gia trong việc giữ vững quyền tự quyết đối với mục tiêu phát triển, lựa chọn con đường và phương thức hành động phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc. Đối với Việt Nam, yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ chiến lược gắn liền với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong điều kiện hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng.
Từ góc độ lý luận, tự chủ chiến lược được hiểu là năng lực của quốc gia trong việc xác định mục tiêu phát triển, lựa chọn con đường và phương thức hành động phù hợp với lợi ích quốc gia – dân tộc trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động và mức độ liên kết giữa các quốc gia ngày càng sâu sắc. Nội hàm của tự chủ chiến lược thể hiện trước hết ở khả năng giữ vững độc lập trong hoạch định đường lối và chính sách phát triển, nâng cao năng lực nội sinh của nền kinh tế, khoa học, công nghệ và thể chế để hạn chế những tác động bất lợi từ bên ngoài. Tự chủ chiến lược còn biểu hiện ở khả năng chủ động tham gia và định hình các quan hệ hợp tác quốc tế trên cơ sở bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc. Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định mục tiêu: “Giữ vững môi trường hòa bình, ổn định; phát triển nhanh, bền vững đất nước và bảo vệ vững chắc Tổ quốc; cải thiện và nâng cao toàn diện đời sống Nhân dân; tự chủ chiến lược, tự cường, tự tin, tiến mạnh vào kỷ nguyên mới của dân tộc” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.25). Điều đó cho thấy việc nghiên cứu, làm rõ vai trò, biểu hiện và các điều kiện bảo đảm tự chủ chiến lược có ý nghĩa quan trọng đối với định hướng phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay.
2. Phương pháp nghiên cứu
Bài viết sử dụng các phương pháp, lịch sử, logic, phân tích, tổng hợp và khái quát hóa trên cơ sở nghiên cứu Văn kiện Đại hội lần thứ XIV để làm rõ quan niệm, vai trò, sự cần thiết của tự chủ chiến lược, đồng thời khái quát thực trạng và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực tự chủ chiến lược của Việt Nam trong giai đoạn mới.
3. Kết quả và thảo luận
3.1. Sự cần thiết thực hiện tự chủ chiến lược
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng và môi trường quốc tế có nhiều biến động khó dự báo, tự chủ chiến lược trở thành điều kiện quan trọng để bảo đảm khả năng định hình con đường phát triển của quốc gia. Khi các nền kinh tế, công nghệ và chuỗi cung ứng toàn cầu ngày càng liên kết chặt chẽ, mức độ phụ thuộc giữa các quốc gia cũng gia tăng, kéo theo nhiều rủi ro đối với ổn định và phát triển. Trong điều kiện đó, tự chủ chiến lược giúp quốc gia giữ vững quyền tự quyết trong hoạch định và thực thi chính sách phát triển, đồng thời nâng cao khả năng thích ứng trước những biến động của môi trường quốc tế. Đối với Việt Nam, việc thực hiện tự chủ chiến lược không chỉ gắn với yêu cầu bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc, mà còn là điều kiện để phát triển nhanh và bền vững trong bối cảnh hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng. Điều đó cho thấy, tự chủ chiến lược không chỉ là một định hướng phát triển, mà còn là yêu cầu mang tính chiến lược đối với sự ổn định và phát triển lâu dài của đất nước.
Trong quá trình phát triển đất nước và hội nhập quốc tế, Việt Nam đã đạt được nhiều kết quả quan trọng góp phần nâng cao năng lực tự chủ của quốc gia. Nền kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, quy mô và tiềm lực được mở rộng; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân không ngừng được cải thiện. Quan hệ đối ngoại được mở rộng và đa dạng hóa, vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế ngày càng được nâng cao. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định: “Sau 40 năm thực hiện đường lối đổi mới, đất nước ta đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện, có ý nghĩa lịch sử, không ngừng cải thiện đời sống, nâng cao hạnh phúc của Nhân dân, nâng tầm uy tín, vị thế đất nước trên trường quốc tế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.9). Những kết quả này tạo nền tảng quan trọng để Việt Nam nâng cao năng lực tự chủ trong nhiều lĩnh vực, từ phát triển kinh tế, khoa học, công nghệ đến mở rộng quan hệ đối ngoại và tham gia tích cực vào các cơ chế hợp tác khu vực và quốc tế.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình phát triển đất nước vẫn còn bộc lộ một số hạn chế ảnh hưởng đến năng lực tự chủ chiến lược của quốc gia. Nền kinh tế mặc dù đạt tốc độ tăng trưởng khá, nhưng chất lượng và tính bền vững chưa thật cao; năng suất lao động và năng lực cạnh tranh còn hạn chế. Khả năng làm chủ khoa học, công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo vẫn còn khoảng cách so với nhiều quốc gia phát triển trong khu vực. Văn kiện Đại hội lần thứ XIV của Đảng chỉ rõ: “Tăng trưởng vẫn dưới mức tiềm năng, chưa thật bền vững; năng suất lao động chưa cao, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn hạn chế” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.9). Những hạn chế đó đặt ra yêu cầu phải tiếp tục củng cố nội lực phát triển, nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế và của quốc gia, qua đó bảo đảm Việt Nam có thể chủ động thích ứng và phát triển bền vững trong bối cảnh cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt.
3.2. Giải pháp thực hiện tự chủ chiến lược theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng
Trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu đẩy mạnh công cuộc đổi mới và hội nhập quốc tế sâu rộng, vấn đề tự chủ không chỉ được đặt ra trong phạm vi chính trị và quân sự, mà còn mở rộng sang các lĩnh vực kinh tế, khoa học, công nghệ, quản trị quốc gia và bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trong môi trường toàn cầu hóa nhiều biến động. Cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn gia tăng, chuỗi cung ứng toàn cầu tái cấu trúc, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học, công nghệ và các thách thức an ninh phi truyền thống đã đặt ra yêu cầu nâng cao năng lực tự chủ của quốc gia trong nhiều lĩnh vực. Trước bối cảnh đó, Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực “tự chủ chiến lược”, coi đây là một trong những định hướng quan trọng nhằm bảo đảm đất nước phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn mới. Vì vậy, tự chủ chiến lược không chỉ thể hiện ở khả năng giữ vững quyền tự quyết trong hoạch định đường lối và chính sách phát triển, mà còn ở năng lực xây dựng nội lực kinh tế, khoa học, công nghệ và thể chế đủ mạnh để chủ động thích ứng với những biến động của môi trường quốc tế. Từ yêu cầu đó, bài viết khái quát một số giải pháp chủ yếu nhằm hiện thực hóa mục tiêu tự chủ chiến lược trong giai đoạn hiện nay.
Thứ nhất, hoàn thiện thể chế phát triển nhằm nâng cao năng lực tự chủ quốc gia. Tự chủ chiến lược chỉ được bảo đảm vững chắc khi quốc gia một hệ thống thể chế đồng bộ, minh bạch, ổn định và có khả năng thích ứng cao trước những biến động của môi trường quốc tế. Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định: “Đột phá mạnh mẽ về thể chế phát triển, nâng cao năng lực hoạch định và tổ chức thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để khơi thông, giải phóng và phát huy hiệu quả mọi nguồn lực…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.146-147). Do đó, cần tiếp tục hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo hướng bảo đảm đầy đủ các yếu tố của thị trường hiện đại, vận hành thông suốt, cạnh tranh lành mạnh và phân bổ nguồn lực hiệu quả. Thể chế phải tạo điều kiện khơi thông mọi nguồn lực xã hội, nhất là nguồn lực khu vực tư nhân và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, đồng thời bảo đảm vai trò điều tiết của Nhà nước trong định hướng phát triển và giữ vững ổn định vĩ mô. Việc nâng cao chất lượng xây dựng pháp luật, tăng tính dự báo và ổn định của chính sách là yêu cầu quan trọng để giảm thiểu rủi ro phụ thuộc và nâng cao năng lực tự điều chỉnh của nền kinh tế. Cùng với đó, cần đổi mới phương thức quản trị quốc gia theo hướng kiến tạo phát triển, tinh gọn bộ máy, phân định rõ trách nhiệm, thẩm quyền và cơ chế kiểm soát quyền lực, bảo đảm mọi quyết sách được ban hành trên cơ sở khoa học, vì lợi ích quốc gia – dân tộc và phù hợp với yêu cầu hội nhập sâu rộng.
Bên cạnh việc hoàn thiện khuôn khổ thể chế, cần chú trọng củng cố nền tảng an ninh kinh tế và nâng cao sức chống chịu của nền kinh tế trước các cú sốc bên ngoài. Điều này đòi hỏi phải điều hành chính sách tài khóa, tiền tệ linh hoạt, thận trọng; phát triển thị trường tài chính minh bạch, an toàn; quản lý chặt chẽ nợ công và rủi ro hệ thống. Đồng thời, cần hoàn thiện cơ chế thúc đẩy liên kết vùng, phát triển cân đối giữa các khu vực, hình thành các trung tâm kinh tế có sức lan tỏa, qua đó tạo nên cấu trúc kinh tế thống nhất và hiệu quả trên phạm vi quốc gia. Thể chế phát triển cũng phải tạo điều kiện để hình thành các doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh quốc tế, đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa nâng cao năng lực tham gia chuỗi giá trị toàn cầu. Một hệ thống thể chế vững mạnh, kỷ cương nhưng linh hoạt sẽ là nền tảng quan trọng để đất nước chủ động trước biến động, bảo đảm tự chủ trong hoạch định và thực thi chiến lược phát triển, từ đó tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên mới.
Thứ hai, củng cố nền tảng kinh tế độc lập, tự chủ gắn với hội nhập sâu rộng. Tự chủ không đồng nghĩa với khép kín hay tách rời khỏi dòng chảy toàn cầu hóa, mà là chủ động hội nhập trên cơ sở nội lực đủ mạnh, cấu trúc kinh tế hợp lý và năng lực điều tiết vĩ mô vững vàng. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh yêu cầu phải “chủ động hội nhập quốc tế, kết hợp chặt chẽ và triển khai đồng bộ, hiệu quả các nhiệm vụ trọng tâm, trong đó: Phát triển kinh tế, xã hội, bảo vệ môi trường là trung tâm…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.81). Trong điều kiện kinh tế thế giới biến động nhanh, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, việc củng cố nền tảng kinh tế độc lập, tự chủ trở thành yêu cầu mang tính sống còn đối với phát triển bền vững. Trước hết, cần tiếp tục tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng nâng cao chất lượng tăng trưởng, lấy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số làm động lực chủ yếu. Phát triển các ngành công nghiệp nền tảng, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ cao và các lĩnh vực có giá trị gia tăng lớn sẽ góp phần nâng cao tỉ lệ nội địa hóa, giảm phụ thuộc vào nhập khẩu nguyên vật liệu, linh kiện chiến lược. Đồng thời, phải thúc đẩy nông nghiệp hiện đại, ứng dụng công nghệ cao, bảo đảm an ninh lương thực; phát triển mạnh các ngành dịch vụ hiện đại như tài chính, logistics, công nghệ thông tin, tạo nên cơ cấu kinh tế cân đối, có khả năng tự bảo đảm những nhu cầu thiết yếu của nền kinh tế quốc dân.
Bên cạnh củng cố nội lực, việc tham gia chuỗi giá trị toàn cầu cần được thực hiện theo hướng chủ động, chọn lọc và nâng cao vị thế quốc gia. Điều này đòi hỏi phải đa dạng hóa thị trường xuất nhập khẩu, mở rộng và làm sâu sắc quan hệ với nhiều đối tác trên cơ sở bình đẳng, cùng có lợi; hạn chế tình trạng phụ thuộc quá mức vào một số ít thị trường hoặc lĩnh vực nhạy cảm. Cần tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để thúc đẩy cải cách trong nước, nâng cao tiêu chuẩn quản trị và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Việc bảo đảm an ninh năng lượng, an ninh tài chính, an ninh mạng và an ninh chuỗi cung ứng cần được đặt trong tổng thể chiến lược phát triển quốc gia nhằm nâng cao sức chống chịu trước các cú sốc bên ngoài. Chỉ khi nền kinh tế có nội lực vững chắc, khả năng tự điều chỉnh linh hoạt và vị thế ngày càng cao trong mạng lưới kinh tế toàn cầu, đất nước mới có thể hội nhập sâu rộng mà vẫn giữ vững thế chủ động, bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc trong mọi hoàn cảnh.
Thứ ba, đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Trong kỷ nguyên kinh tế tri thức và cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, sức mạnh và vị thế của mỗi quốc gia ngày càng được quyết định bởi năng lực làm chủ công nghệ, tri thức và khả năng đổi mới sáng tạo. Đại hội lần thứ XIV của Đảng yêu cầu: “đột phá về khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số phục vụ, kiến tạo phát triển…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.147), coi đây là một trong những động lực trọng yếu của giai đoạn phát triển mới. Tự cường quốc gia không chỉ dựa vào nguồn tài nguyên thiên nhiên hay lợi thế lao động giản đơn, mà phụ thuộc chủ yếu vào chất lượng nguồn nhân lực, trình độ khoa học, công nghệ và khả năng chuyển hóa tri thức thành năng suất, giá trị gia tăng cao. Vì vậy, cần xác định phát triển khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là động lực then chốt của tăng trưởng, là nền tảng để nâng cao năng suất lao động và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trước hết, phải tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, đồng thời đổi mới cơ chế quản lý khoa học theo hướng gắn kết chặt chẽ giữa nghiên cứu cơ bản với nghiên cứu ứng dụng và thương mại hóa sản phẩm. Nhà nước cần đóng vai trò kiến tạo môi trường, ban hành cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư cho khoa học, công nghệ, coi doanh nghiệp là trung tâm của hệ sinh thái đổi mới sáng tạo. Bên cạnh đó, phải thúc đẩy liên kết hiệu quả giữa viện nghiên cứu, trường đại học và doanh nghiệp, hình thành mạng lưới hợp tác chặt chẽ nhằm rút ngắn khoảng cách giữa phòng thí nghiệm và thị trường. Việc xây dựng và phát triển đội ngũ nhân lực khoa học, công nghệ trình độ cao, có tư duy toàn cầu và khả năng sáng tạo độc lập là điều kiện tiên quyết để đất nước từng bước làm chủ những công nghệ lõi, công nghệ nguồn, giảm phụ thuộc vào bên ngoài.
Cùng với phát triển khoa học, công nghệ, chuyển đổi số quốc gia phải được triển khai mạnh mẽ, đồng bộ và thực chất, trở thành phương thức chủ yếu để nâng cao hiệu quả quản trị và năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Xây dựng chính phủ số nhằm nâng cao tính minh bạch, hiệu lực và hiệu quả của bộ máy hành chính; phát triển kinh tế số dựa trên nền tảng dữ liệu lớn, trí tuệ nhân tạo, điện toán đám mây và các công nghệ số tiên tiến; hình thành xã hội số với hạ tầng số hiện đại, an toàn, bảo mật cao là những yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay. Chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ vào quản lý và sản xuất, mà còn là quá trình thay đổi tư duy, mô hình kinh doanh và phương thức tổ chức xã hội. Vì vậy, cần hoàn thiện khung pháp lý về dữ liệu, bảo vệ quyền riêng tư và an ninh mạng; đồng thời nâng cao năng lực số của người dân và doanh nghiệp, thu hẹp khoảng cách số giữa các vùng, miền. Khi khoa học, công nghệ và chuyển đổi số thực sự trở thành động lực phát triển, đất nước sẽ có thêm nền tảng vững chắc để nâng cao nội lực, gia tăng sức chống chịu trước biến động toàn cầu và tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thứ tư, xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao và đội ngũ cán bộ có tư duy chiến lược. Con người là chủ thể sáng tạo của lịch sử, là nhân tố quyết định sức mạnh nội sinh và khả năng tự lực, tự cường của mỗi quốc gia. Trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu dựa trên tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo, chất lượng nguồn nhân lực trở thành yếu tố then chốt bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Đại hội lần thứ XIV của Đảng nhấn mạnh: “Tập trung chuyển đổi cơ cấu và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, trình độ cao; đẩy mạnh thu hút và trọng dụng nhân tài… Xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp… có tư duy, năng lực quản trị tiên tiến…” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.147). Vì vậy, cần tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo theo hướng phát triển phẩm chất, năng lực, tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng thích ứng với môi trường biến động nhanh. Hệ thống giáo dục phải gắn chặt với nhu cầu của thị trường lao động, yêu cầu của chuyển đổi số và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; đồng thời, chú trọng giáo dục đạo đức, ý thức công dân và trách nhiệm xã hội. Đặc biệt, cần quan tâm đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao trong các lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ số, trí tuệ nhân tạo, năng lượng mới, tài chính – ngân hàng và quản trị hiện đại. Việc phát hiện, bồi dưỡng và trọng dụng nhân tài phải được thực hiện thông qua cơ chế minh bạch, cạnh tranh lành mạnh và đãi ngộ xứng đáng, qua đó khơi dậy khát vọng cống hiến, tinh thần phụng sự Tổ quốc trong mỗi cá nhân.
Bên cạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nói chung, việc xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý có tư duy chiến lược và bản lĩnh chính trị vững vàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Tự chủ chiến lược không chỉ là vấn đề của tiềm lực kinh tế hay công nghệ mà trước hết là vấn đề của năng lực hoạch định đường lối và tổ chức thực hiện trong thực tiễn. Do đó, đội ngũ cán bộ phải được rèn luyện toàn diện về phẩm chất chính trị, đạo đức công vụ, tư duy hệ thống và tầm nhìn dài hạn; đồng thời phải có khả năng quản trị hiện đại, nắm bắt kịp thời xu thế phát triển của khu vực và thế giới. Tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích quốc gia – dân tộc cần được khuyến khích và bảo vệ bằng cơ chế rõ ràng, minh bạch, đi đôi với kiểm soát quyền lực chặt chẽ. Khi đội ngũ cán bộ thực sự có trí tuệ, bản lĩnh và khát vọng đổi mới, tự chủ chiến lược sẽ không dừng lại ở định hướng trong văn kiện mà được chuyển hóa thành những quyết sách đúng đắn và hành động hiệu quả, góp phần đưa đất nước tiến mạnh trong kỷ nguyên phát triển mới.
Thứ năm, phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khơi dậy khát vọng phát triển. Trong mọi giai đoạn cách mạng, đại đoàn kết toàn dân tộc luôn là chiến lược cơ bản, lâu dài và là nguồn sức mạnh quyết định thắng lợi. Bước vào kỷ nguyên phát triển mới, tinh thần “đem sức ta mà tự giải phóng cho ta” cần được chuyển hóa thành ý chí tự cường của cả cộng đồng dân tộc, thành động lực nội sinh thúc đẩy khát vọng vươn lên mạnh mẽ. Đại hội lần thứ XIV của Đảng khẳng định yêu cầu phải “khơi dậy mạnh mẽ truyền thống yêu nước, khát vọng phát triển, tinh thần đoàn kết, ý chí tự chủ, tự tin, tự lực, tự cường, tự hào dân tộc; phát huy sức mạnh văn hóa, con người thành nguồn lực nội sinh và động lực mạnh mẽ cho sự phát triển” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.82). Điều đó đòi hỏi phải củng cố vững chắc niềm tin của Nhân dân vào đường lối phát triển đất nước, vào sự lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước. Niềm tin không thể được tạo dựng bằng lời nói, mà phải được bồi đắp bằng kết quả thực tiễn, bằng những chính sách công bằng, minh bạch và hướng tới nâng cao đời sống Nhân dân. Việc bảo đảm công bằng xã hội, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa các vùng, miền, tạo cơ hội tiếp cận giáo dục, y tế, việc làm và an sinh xã hội cho mọi người dân là nền tảng để củng cố khối đại đoàn kết. Khi người dân cảm nhận rõ quyền lợi chính đáng của mình được tôn trọng và bảo vệ, họ sẽ chủ động tham gia vào tiến trình phát triển, đóng góp trí tuệ, nguồn lực và tinh thần trách nhiệm vì lợi ích chung của quốc gia.
Bên cạnh việc củng cố niềm tin, cần phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa một cách thực chất, mở rộng các cơ chế để Nhân dân tham gia vào quá trình xây dựng, phản biện và giám sát chính sách. Đối thoại thường xuyên, lắng nghe và tôn trọng ý kiến của Nhân dân không chỉ giúp nâng cao chất lượng quyết sách mà còn tạo sự đồng thuận xã hội – điều kiện tiên quyết của tự cường quốc gia. Phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng” phải được thể chế hóa bằng cơ chế minh bạch, trách nhiệm giải trình rõ ràng và sự tham gia hiệu quả của các tổ chức chính trị – xã hội. Đồng thời, cần chú trọng xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh, lan tỏa các giá trị yêu nước, ý chí vượt khó và tinh thần sáng tạo trong toàn xã hội. Khi khát vọng phát triển được khơi dậy và chuyển hóa thành hành động cụ thể của từng cá nhân, từng cộng đồng, sức mạnh đại đoàn kết sẽ trở thành nền tảng vững chắc để hiện thực hóa tự chủ chiến lược, bảo đảm cho đất nước tự tin tiến mạnh trong kỷ nguyên vươn mình của dân tộc.
Thứ sáu, giữ vững độc lập, tự chủ trong đối ngoại và quốc phòng, an ninh. Trong bối cảnh cục diện thế giới và khu vực có nhiều biến động nhanh chóng, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt, việc giữ vững độc lập, tự chủ trong đối ngoại và quốc phòng, an ninh là yêu cầu có ý nghĩa chiến lược lâu dài. Đại hội lần thứ XIV của Đảng xác định rõ nhiệm vụ: “Tiếp tục phát huy vai trò tiên phong của đối ngoại, phối hợp chặt chẽ với quốc phòng, an ninh… tạo lập và giữ vững môi trường hòa bình, ổn định, bảo vệ vững chắc Tổ quốc; tranh thủ các nguồn lực và điều kiện thuận lợi bên ngoài cho sự phát triển đất nước” (Đảng Cộng sản Việt Nam, 2026a, tr.117). Trước hết, cần kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, hòa bình, hợp tác và phát triển; thực hiện nhất quán chủ trương đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế; không tham gia liên minh quân sự, không liên kết với nước này để chống nước kia, không để bị lôi kéo vào các vòng xoáy đối đầu. Việc xử lý quan hệ với các đối tác lớn phải dựa trên nguyên tắc tôn trọng lẫn nhau, bình đẳng, cùng có lợi và bảo đảm cao nhất lợi ích quốc gia – dân tộc. Đồng thời, cần chủ động, tích cực tham gia các cơ chế hợp tác đa phương, đóng góp vào hòa bình, ổn định khu vực và toàn cầu, qua đó nâng cao vị thế và uy tín quốc tế của đất nước. Tự chủ trong đối ngoại không phải là thu mình, mà là biết chủ động tạo lập thế cân bằng chiến lược, mở rộng không gian phát triển và tranh thủ tối đa các nguồn lực bên ngoài phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.
Cùng với đối ngoại, phải xây dựng nền quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân vững chắc, gắn chặt với thế trận lòng dân. Củng cố tiềm lực quốc phòng, an ninh không chỉ ở phương diện trang bị kỹ thuật, mà còn ở chất lượng con người, trình độ tổ chức và khả năng phối hợp giữa các lực lượng. Cần chủ động phòng ngừa, phát hiện sớm và xử lý kịp thời các nguy cơ đe dọa chủ quyền, an ninh quốc gia, bao gồm các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, như an ninh mạng, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu, dịch bệnh và tội phạm xuyên quốc gia. Việc kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế, xã hội với củng cố quốc phòng, an ninh sẽ tạo nên thế trận tổng hợp, bảo đảm đất nước vừa phát triển năng động, vừa giữ vững ổn định chính trị, xã hội. Khi độc lập, tự chủ được giữ vững trong đối ngoại và quốc phòng, an ninh, quốc gia sẽ có nền tảng vững chắc để thực hiện tự chủ chiến lược, tự tin tiến mạnh trong môi trường quốc tế phức tạp và cạnh tranh ngày càng gay gắt.
4. Kết luận
Trong bối cảnh môi trường quốc tế biến động nhanh chóng và cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gia tăng, nâng cao năng lực tự chủ chiến lược trở thành yêu cầu quan trọng đối với sự phát triển của Việt Nam trong giai đoạn mới. Theo tinh thần Đại hội lần thứ XIV của Đảng, tự chủ chiến lược không chỉ là khả năng giữ vững quyền tự quyết trong hoạch định đường lối và chính sách phát triển mà còn là năng lực xây dựng và củng cố nội lực quốc gia nhằm chủ động thích ứng với những biến động của môi trường quốc tế. Thực tiễn phát triển đất nước cho thấy việc nâng cao năng lực tự chủ của nền kinh tế, khoa học, công nghệ, thể chế và nguồn nhân lực có ý nghĩa quan trọng đối với mục tiêu phát triển nhanh và bền vững. Vì vậy, cần triển khai đồng bộ các giải pháp nhằm củng cố nền tảng nội lực, nâng cao năng lực thích ứng và chủ động hội nhập quốc tế, qua đó bảo đảm lợi ích quốc gia – dân tộc và nâng cao vị thế của Việt Nam trong bối cảnh cạnh tranh toàn cầu ngày càng phức tạp./.
Ngày nhận bài: 02/3/2026; ngày thẩm định: 05/3/2026; ngày duyệt đăng: 27/4/2026
Email liên hệ: [email protected]
(Tạp chí Khoa học chính trị số 03/2026)
