VẬN HÀNH MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

VẬN HÀNH MÔ HÌNH CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƯƠNG 2 CẤP TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH – THỰC TRẠNG VÀ KHUYẾN NGHỊ HOÀN THIỆN

TS. PHAN HẢI HỒ
Học viện Cán bộ Thành phố Hồ Chí Minh

Tóm tắt:  Vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp ở Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua đạt được một số kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, thực tiễn vận hành cũng bộc lộ một số hạn chế về thiết kế mô hình, tổ chức bộ máy, phân định thẩm quyền, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật, cơ chế phối hợp, năng lực đội ngũ và chế độ chính sách,… đòi hỏi phải có nghiên cứu, đánh giá thực trạng vận hành sau thời gian triển khai; từ đó, đề xuất một số khuyến nghị chính sách hoàn thiện mô hình.
Từ khóa: chính quyền địa phương 2 cấp; chính quyền đô thị; Thành phố Hồ Chí Minh

OPERATING THE TWO-TIER LOCAL GOVERNMENT MODEL IN HO CHI MINH CITY: CURRENT STATUS AND RECOMMENDATIONS FOR IMPROVEMENT
Abstract: The operation of the two-tier local government model in Ho Chi Minh City to date has yielded a number of noteworthy results. However, its operation has also revealed limitations in model design, organizational structure, delineation of authority, coherence of the legal system, coordination mechanisms, personnel capacity, and policy arrangements. These limitations call for research and assessment of the model’s operation after a period of implementation; on that basis, the article proposes some policy recommendations to improve the model.
Keywords: two-tier local government; urban government; Ho Chi Minh City

1. Đặt vấn đề
Sau gần 1 năm vận hành mô hình chính quyền địa phương hai cấp, Thành phố Hồ Chí Minh đạt được nhiều kết quả đáng ghi nhận. Tuy nhiên, với đô thị đặc biệt gần 14 triệu người, Thành phố vẫn gặp một số khó khăn, hạn chế trong tổ chức bộ máy, thẩm quyền, pháp luật, chế độ, chính sách, biên chế, chức năng, quyền hạn.
Để đánh giá đúng hiệu quả vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tại Thành phố thời gian qua, bài viết tập trung làm rõ một số vấn đề sau: (1) Mô hình chính quyền địa phương 2 cấp đã thực sự khoa học chưa; (2) Thành phố đánh giá hiệu quả vận hành bằng tiêu chí nào; (3) Cơ chế chỉ đạo, phối hợp, phân định thẩm quyền Trung ương – địa phương, cấp tỉnh – cấp xã; (4) Thực tiễn mối quan hệ phối hợp theo chiều ngang, hoặc theo chiều dọc của chính quyền 2 cấp trong hệ thống chính trị; (5) Tính đồng bộ của hệ thống pháp luật về tổ chức và hoạt động của bộ máy chính quyền 2 cấp với pháp luật chuyên ngành, cách thức phân định thẩm quyền của từng cấp chính quyền địa phương; (6) Vấn đề chính quyền số, tính tương thích, tư duy xây dựng chính quyền số với thẩm quyền địa hạt; (7) Thực trạng đội ngũ cán bộ, công chức.
Nghiên cứu này sử dụng phương pháp tổng quan tài liệu, sử dụng dữ liệu thứ cấp là các văn bản quy phạm pháp luật, báo cáo của các cơ quan nhà nước. Đồng thời, nghiên cứu sử dụng phương pháp so sánh, đối chiếu để đánh giá việc thực hiện chính quyền địa phương 2 cấp tại Thành phố trên cơ sở các nhóm tiêu chí: thiết kế thể chế; phân định thẩm quyền; phân công phối hợp; nguồn lực thực thi; dịch vụ công; chuyển đổi số; trách nhiệm giải trình; kết quả đối với người dân/doanh nghiệp.
2. Kết quả nghiên cứu và thảo luận
2.1. Tổng quan mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tại Thành phố Hồ Chí Minh
Thứ nhất, về cấu trúc mô hình chính quyền địa phương 2 cấp: Thành phố cũng giống các địa phương khác là chỉ còn cấp tỉnh và cấp xã (xã, phường, đặc khu), không còn cấp trung gian (cấp huyện) và quay trở lại thiết kế có Hội đồng nhân dân cấp xã (trước đây thực hiện cơ chế, chính sách đặc thù không tổ chức Hội đồng nhân dân ở phường, quận). Mô hình như sau:
Cấp Thành phố: Hội đồng nhân dân Thành phố có phạm vi thẩm quyền địa phương được quyết định các chủ trương, ngân sách và giám sát toàn diện các chủ thể thuộc thẩm quyền trên địa bàn Thành phố. Cơ cấu tổ chức gồm các ban và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Ủy ban nhân dân Thành phố có các chức năng, nhiệm vụ như trước đây (ngày 01/7/2025) nhưng có thêm một số chức năng, nhiệm vụ của cấp huyện chuyển lên. Cơ cấu tổ chức gồm các cơ quan chuyên môn (sở, ngành, văn phòng), tổ chức hành chính khác (Trung tâm phục vụ hành chính công) và các đơn vị sự nghiệp công lập trực thuộc.
Cấp xã: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân hoạt động theo chế độ tập thể và trách nhiệm cá nhân. Hội đồng nhân dân cấp xã là cơ quan quyền lực tại địa phương, Ủy ban nhân dân là cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương. Chức năng nhiệm vụ chính là xây dựng, quản lý kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách địa phương; quản lý đất đai, xây dựng, đô thị/nông thôn, môi trường; thực hiện công tác tư pháp, hộ tịch, chứng thực, an ninh trật tự; tổ chức các hoạt động văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế, chính sách an sinh xã hội.
Thứ hai, phân loại mô hình chính quyền địa phương 2 cấp Thành phố: Hiện nay, Thành phố có 168 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 113 phường, 54 xã và 01 đặc khu (Ủy ban Thường vụ Quốc hội, 2025). Mô hình này được phân loại theo đơn vị hành chính chia thành 03 nhóm quản lý khác nhau: nhóm đô thị (gồm 113 phường); nhóm nông thôn (gồm 54 xã) và nhóm hải đảo (01 đặc khu). Các nhóm này có đặc tính chung là chính quyền cấp cơ sở và đều có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cùng cấp.
– Hội đồng nhân dân Thành phố gồm các ban như: Ban Pháp chế, Ban Kinh tế – Ngân sách, Ban Văn hóa – Xã hội và Ban Đô thị và Văn phòng Đoàn đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân Thành phố.
– Ủy ban nhân dân Thành phố tổ chức các cơ quan chuyên môn theo quy định của Chính phủ và các cơ chế đặc thù áp dụng tại Thành phố Hồ Chí Minh: gồm Sở Công Thương; Sở Giáo dục và Đào tạo; Sở Khoa học và Công nghệ; Sở Nội vụ; Sở Nông nghiệp và Môi trường; Sở Tài chính; Sở Tư pháp; Sở Văn hóa và Thể thao; Sở Xây dựng; Sở Y tế; Thanh tra; Văn phòng (Chính phủ, 2025); có Trung tâm Phục vụ hành chính công trực thuộc Văn phòng Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2025). Ngoài ra, Thành phố có thêm 04 sở đặc thù: Sở Dân tộc và Tôn giáo; Sở Du lịch; Sở Quy hoạch – Kiến trúc (Chính phủ, 2025); Sở An toàn thực phẩm (Quốc hội, 2023).
– Hội đồng nhân dân cấp xã gồm có: Thường trực Hội đồng nhân dân; các ban của Hội đồng nhân dân gồm: Ban Kinh tế – Ngân sách và Ban Văn hóa – Xã hội và đại biểu Hội đồng nhân dân và Tổ đại biểu.
– Ủy ban nhân dân cấp xã: gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch và các ủy viên.
+ Cơ cấu bộ máy gồm: Văn phòng Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân cấp xã; Phòng Kinh tế, Hạ tầng và Đô thị (đối với phường) hoặc Phòng Kinh tế (đối với xã, đặc khu Côn Đảo); Phòng Văn hóa – Xã hội (Chính phủ, 2025). Ngoài ra còn có Trung tâm Phục vụ hành chính công; 37 Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc Ủy ban nhân dân phường, xã (riêng Đặc khu Côn Đảo không có trong danh sách thành lập) (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2026a).
+ Đối với đặc khu Côn Đảo còn 02 phòng chuyên môn, Văn phòng Hội đồng nhân dân – Ủy ban nhân dân và Trung tâm Phục vụ hành chính công (trước sắp xếp có 09 phòng).
2.2. Đánh giá thực trạng vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp
Thứ nhất, kết quả đạt được
Với thông điệp chỉ đạo trọng tâm năm 2026 của Thành phố là “Hoàn thiện bộ máy – Khai thông thể chế – Đột phá hạ tầng – Nâng cao hiệu quả phục vụ Nhân dân”, tính đến tháng 5/2026, mô hình chính quyền địa phương Thành phố đã vận hành với những kết quả sau:
Một là, Thành phố đã hình thành mô hình chính quyền đô thị với những đặc thù riêng về quy mô và cách thức tổ chức, vận hành, vừa có những điểm tương đồng, vừa có những khác biệt so với các địa phương khác trên cả nước. Điểm nổi bật là mô hình được tổ chức theo hướng tinh gọn, hiệu quả, phù hợp với tốc độ phát triển của siêu đô thị sau khi hoàn thành việc sáp nhập ba tỉnh, thành.
Hai là, việc vận hành mô hình dựa trên phương thức quản trị hiện đại nên quá trình triển khai tương đối thuận lợi, đạt được các mục tiêu cơ bản đã đề ra, cụ thể: giảm bớt khâu trung gian trong chỉ đạo, điều hành, giúp mệnh lệnh từ cấp Thành phố xuống cấp xã được truyền đạt và thực thi nhanh hơn; mô hình tổ chức được tối ưu, phù hợp với đặc thù của siêu đô thị (trong đó hạ tầng đô thị không thể chia cắt theo địa giới hành chính như ở vùng nông thôn, việc tập trung quyền lực về quy hoạch tại cấp Thành phố là phù hợp); hiệu quả sử dụng ngân sách được nâng lên do giảm chi phí duy trì bộ máy cấp trung gian, tạo điều kiện tập trung nguồn lực cho phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố.
Ba là, về tổ chức bộ máy: xét về mặt cơ cấu, bộ máy đã được “tinh gọn” khi cắt bỏ toàn bộ 41 đơn vị hành chính cấp huyện. Thành phố đã hoàn thành xếp loại 168 đơn vị hành chính cấp xã (xã, phường, đặc khu) thành 153 đơn vị loại I và 15 đơn vị loại II, làm cơ sở tối ưu hóa chính sách và tổ chức bộ máy theo từng loại đơn vị. Sau giai đoạn chuyển tiếp, hoạt động của tổ chức bộ máy từng bước đi vào nền nếp, bảo đảm không bị gián đoạn trong giải quyết công việc, từng bước phát huy hiệu quả của mô hình mới. Về giải quyết thủ tục hành chính: Thành phố đã công bố danh mục 2.223 thủ tục hành chính đủ điều kiện thực hiện không phụ thuộc địa giới hành chính, đạt tỉ lệ 100% các thủ tục đủ điều kiện được đưa vào danh mục; đồng thời công bố 588 thủ tục hành chính nội bộ phù hợp với mô hình chính quyền 2 cấp. Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố cũng đã hoàn thiện cơ sở vật chất và hạ tầng công nghệ thông tin, đáp ứng yêu cầu tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính của người dân, doanh nghiệp (Thùy Dương, 2025).
Bốn là, cung ứng dịch vụ công có những chuyển biến tích cực, đặc biệt là dịch vụ công trực tuyến và chuyển đổi số. Thành phố đã ban hành Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 16/3/2026 “về chuyển đổi số và phát triển đô thị thông minh Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026” (Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, 2026b). Theo đó, ưu tiên phát triển trí tuệ nhân tạo (AI) và dữ liệu mở trong quản lý đô thị. Việc chuyển đổi sang chính quyền số đồng bộ từ Thành phố xuống cấp xã đã góp phần loại bỏ được các thủ tục trung gian, không cần thiết của cấp huyện trước thời điểm 01/7/2025 (Thùy Dương, 2025). Đến nay, Thành phố đã có 100% văn bản điện tử; hỗ trợ người dân tiếp cận dịch vụ công thuận tiện hơn (Thu Hường, Văn Minh, Ngô Bình, 2026).
Năm là, Thành phố đã từng bước sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng phù hợp với vị trí việc làm (Minh Quân, 2025); kịp thời kiện toàn, bổ sung chức danh lãnh đạo, quản lý trong các cấp chính quyền (Ngô Bình, Thu Hường, Văn Minh, 2025).
Sáu là, chuyển từ phương thức quản lý hành chính sang phục vụ, các quyết sách theo hướng quản trị đô thị, về cơ bản có sự tham vấn ý kiến chuyên gia, một số lĩnh vực có phản hồi từ Nhân dân và giám sát, phản biện của tổ chức chính trị – xã hội Thành phố.
Bảy là, Thành phố đã đạt được một số thành tựu quan trọng về đột phá chiến lược theo định hướng “3 vùng – 1 đặc khu – 3 hành lang – 5 trụ cột”, góp phần đưa tốc độ tăng trưởng GRDP năm 2025 đạt mức cao nhất trong 10 năm qua (Ngô Bình, Thu Hường, Văn Minh, 2025).
Thứ hai, hạn chế và nguyên nhân
Một là, tổ chức và hoạt động của bộ máy chưa thực sự khoa học, đặc biệt ở chính quyền cấp xã và đối với hệ thống cơ quan ngành dọc đóng trên địa bàn cấp huyện cũ (Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, cơ quan Thuế…). Phạm vi thẩm quyền được giao cho cấp xã rất lớn, nhưng cơ cấu tổ chức bộ máy cấp xã chỉ còn 03 phòng chuyên môn và 01 tổ chức hành chính khác. Quy mô biên chế chưa thực sự phù hợp với khối lượng công việc, dẫn đến nhiều khó khăn trong quá trình thực thi.
Hai là, chưa xây dựng và công bố bộ tiêu chí đánh giá tổ chức và hoạt động của mô hình, đặc biệt là chưa thực hiện việc đánh giá một cách bài bản, khoa học các ý kiến phản hồi từ cá nhân, tổ chức, cũng như chưa tổ chức khảo sát ý kiến người dân một cách toàn diện trên tất cả các lĩnh vực sau một năm triển khai mô hình.
Ba là, chưa xây dựng được cơ chế phối hợp hiệu quả sau khi phân định thẩm quyền giữa Trung ương – địa phương, giữa cấp tỉnh – cấp xã. Việc vận hành mô hình chủ yếu căn cứ vào hệ thống pháp luật về tổ chức bộ máy và pháp luật chuyên ngành. Trong khi đó, chưa có quy định riêng về cơ chế chỉ đạo, kiểm tra, giám sát và phối hợp giữa Trung ương với địa phương; đặc biệt là chưa quy định rõ về cơ chế phối hợp công việc giữa các sở, ngành với chính quyền cấp xã.
Bốn là, phát sinh nhiều vấn đề phức tạp trong thực tiễn về mối quan hệ phối hợp theo chiều ngang và chiều dọc của hệ thống chính trị địa phương, một số khía cạnh chưa bảo đảm tính logic trong tổ chức và hoạt động. Cụ thể, sau ngày 01/7/2025 các cơ quan được tổ chức lại như sau:
– Trung tâm chính trị đặt trên địa bàn 01 xã, phường nên thẩm quyền, quy trình hoạt động không phù hợp, các xã, phường khác chỉ là đơn vị phối hợp khi cần thiết.
– Hệ thống cơ quan Tòa án, Viện Kiểm sát, cơ quan Thuế và một số cơ quan ngành dọc đặt ra yêu cầu hoàn thiện cơ chế phối hợp với chính quyền cấp xã.
– Hệ thống đơn vị sự nghiệp, như Ban Quản lý dự án, Ban Bồi thường giải phóng mặt bằng, Trung tâm Văn hóa,… được chuyển về cấp xã đã tăng thêm số lượng tổ chức, biên chế, nhưng vẫn không bao quát được các vấn đề, dự án trước đây của nhiều xã, phường nên nhiều vụ việc phải chuyển lên cấp thành phố gây quá tải.
Năm là, hệ thống pháp luật chưa đồng bộ, còn tồn tại tình trạng mâu thuẫn, chồng chéo giữa pháp luật về tổ chức bộ máy với các văn bản pháp luật chuyên ngành. Xuất hiện “điểm nghẽn” về phân định thẩm quyền, xác định trách nhiệm và thiếu sự tương thích giữa các quy định của luật chuyên ngành, cụ thể:
Mâu thuẫn giữa pháp luật về mô hình tổ chức bộ máy với thẩm quyền chuyên ngành, đó là sự thiếu đồng nhất, chưa phù hợp giữa các quy định về tổ chức chính quyền địa phương 2 cấp với các văn bản pháp luật chuyên ngành về đất đai, quản lý đô thị, kinh tế, xã hội,…
Các văn bản hướng dẫn thi hành và công cụ thực thi chưa được ban hành kịp thời, còn thiếu ở nhiều lĩnh vực. Hệ thống văn bản pháp luật được ban hành hằng năm với số lượng lớn, nhưng tính nhất quán, đồng bộ giữa các cấp, các ngành còn hạn chế, khiến đội ngũ cán bộ, công chức thực thi công vụ ở cấp xã gặp nhiều bỡ ngỡ, lúng túng trong việc lựa chọn, áp dụng văn bản. Đặc biệt, ở nhiều lĩnh vực còn chậm trễ trong việc ban hành văn bản hướng dẫn, gây cản trở đáng kể cho quá trình vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp (Đỗ Như, 2026).
Sáu là, chính quyền số đang được thiết kế theo tính cơ học, chưa tương thích với chức năng, nhiệm vụ trong “quy trình chuỗi” chính quyền địa phương 2 cấp. Trên thực tế, chính quyền số đang đi theo xu hướng tư duy cát cứ về phân cấp thẩm quyền địa hạt, quy trình vẫn cắt khúc, chưa bảo đảm tính liên thông của cơ sở dữ liệu. Thiết kế hiện nay chủ yếu theo kiểu cắt bỏ cơ học thẩm quyền cấp huyện mà chưa tính đến các điều kiện khác trong quy trình, thủ tục, định hướng xử lý; nhiều cơ sở dữ liệu chuyên ngành vẫn phát triển theo logic riêng; khả năng kết nối, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu chưa thật sự thông suốt, chưa lấy người dân làm trung tâm.
Bảy là, đội ngũ cán bộ, công chức
– Sau sắp xếp, số lượng cấp phó tại một số cơ quan cần tiếp tục được kiện toàn theo lộ trình và quy định hiện hành. Việc bố trí nhân sự chịu tác động của quá trình hợp nhất tổ chức và yêu cầu bảo đảm tính liên tục trong thực hiện nhiệm vụ.
– Đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã:
+ Một số cán bộ, công chức được sắp xếp, bố trí chưa phù hợp, chưa đáp ứng chuyên môn, nghiệp vụ; chế độ, chính sách chưa bảo đảm nhu cầu tối thiểu. Cán bộ, công chức cấp xã không đáp ứng yêu cầu của chính quyền “cấp xã lớn” vì mở rộng thẩm quyền, chuyển một số chức năng, nhiệm vụ từ cấp tỉnh, cấp huyện xuống. Một bộ phận khác được điều chuyển từ cấp huyện xuống cấp xã nhưng được bố trí tạm thời và cũng không đúng chuyên môn, nghiệp vụ.
+ Nhập 3-4 đơn vị hành chính xã thành 01 cấp xã và có phòng chuyên môn như cấp huyện cũ đã làm số lượng cán bộ, công chức mỗi xã tăng khoảng 3 lần so với trước ngày 01/7/2025.
+ Hiện nay, biên chế cán bộ, công chức chưa tương thích với khối lượng công việc thực tế cấp xã của siêu đô thị, gây nhiều áp lực công vụ: (1) Nhiều nhiệm vụ với tính chất khác nhau, dẫn đến tình trạng thường xuyên quá tải, chất lượng công việc bị hạn chế; (2) Khó bảo đảm chất lượng và tiến độ vì áp lực về số lượng và thời hạn xử lý, tiềm ẩn nguy cơ sai sót hoặc kéo dài thời gian giải quyết; (3) Khó khăn trong công tác quản lý, điều hành vì số lượng nhân sự lãnh đạo chỉ 01 trưởng phòng và 01 phó trưởng phòng; (4) Người hoạt động không chuyên trách là đội ngũ phụ giúp chính các công việc cho cấp xã trong bối cảnh thiếu nhân lực thực thi công vụ nhưng theo quy định phải chấm dứt hợp đồng làm việc.
+ Có sự thay đổi về khoảng cách địa lý, nơi sinh sống; chưa có các chế độ, chính sách phù hợp (thiếu nhà ở công vụ, mức lương còn thấp…), từ đó ảnh hưởng đến trạng thái tinh thần, tâm lý của cán bộ, công chức.
2.3. Khuyến nghị chính sách
Thứ nhất, tiếp tục xây dựng và hoàn thiện thể chế chính quyền địa phương 2 cấp siêu đô thị:
– Tập trung hoàn thiện cơ chế, chính sách giải quyết 06 nhóm vấn đề: (1) Thể chế phát triển quản trị đô thị hiện đại; (2) Hiện thực hóa các đột phá chiến lược tại Nghị quyết Đại hội lần thứ XIV của Đảng; (3) Đẩy mạnh đổi mới công tác quy hoạch; (4) Phát huy hiệu suất nguồn lực phát triển hạ tầng; (5) Đẩy mạnh tăng cường liên kết vùng; (6) Xử lý triệt để các “điểm nghẽn” về giao thông, trật tự đô thị,…
– Tổ chức triển khai và cụ thể hóa Luật Phát triển đô thị (Quốc hội, 2026); rà soát quy định về phân cấp, phân quyền, tổ chức bộ máy, quản trị đô thị, quy hoạch, hạ tầng, liên kết vùng và chuyển đổi số; xác định rõ thẩm quyền, trách nhiệm và cơ chế phối hợp giữa cấp Thành phố với cấp xã, giữa chính quyền địa phương với các cơ quan trên địa bàn (Tòa án nhân dân, Viện Kiểm sát nhân dân, Thuế,…).
– Thiết kế định hướng Thành phố ban hành quyết sách và thực thi ở tầm vĩ mô, phù hợp với xu thế phát triển của siêu đô thị hiện đại, trong đó, các sở là cơ quan tư vấn chuyên môn cho Thành phố và cấp xã.
– Xây dựng cơ chế, chính sách điều chuyển chuyên gia cấp sở về cấp xã (kể cả lãnh đạo sở); “đặc phái” về xã cố vấn chuyên môn; tăng trợ cấp khi đi làm xa, chế độ nhà ở công vụ.
– Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện tổ chức chính quyền cấp xã phù hợp với từng loại đơn vị hành chính và đặc điểm của siêu đô thị, bảo đảm tuân thủ Hiến pháp và Luật Tổ chức chính quyền địa phương; đồng thời rà soát cơ cấu cơ quan chuyên môn theo khối lượng, tính chất nhiệm vụ.
– Tái thiết kế toàn bộ chuỗi xử lý công vụ theo logic 2 cấp. Nghĩa là, ban hành lại các quy trình cơ cấu tổ chức mới và yêu cầu thực tiễn thực thi công vụ trên địa bàn Thành phố; tập trung hệ thống dữ liệu, xây dựng và ban hành các tiêu chuẩn nghiệp vụ và biểu mẫu, chuẩn hóa lại quy trình công việc, trách nhiệm giải trình và cơ chế phối hợp ngang – dọc giữa các cơ quan.
– Nghiên cứu tăng thẩm quyền và trách nhiệm cá nhân của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố trong phạm vi luật định; phân định rõ việc thuộc thẩm quyền tập thể Ủy ban nhân dân và Chủ tịch, gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực và trách nhiệm giải trình
Thứ hai, để chính quyền địa phương 2 cấp của Thành phố hoạt động hiệu quả, cần trao quyền xây dựng và ban hành các quy tắc quản trị đô thị nhằm chi tiết hóa pháp luật liên quan đến siêu đô thị, tạo hành lang pháp lý cho Thành phố có thẩm quyền xử lý những vấn đề mới phát sinh theo nguyên tắc, thẩm quyền, ủy quyền hoặc cơ chế thí điểm được pháp luật quy định. Tách bạch nhiệm vụ nào thuộc thẩm quyền Thành phố, cấp xã, nhiệm vụ nào thực hiện theo ủy quyền, nhiệm vụ nào cần sự giám sát hoặc hỗ trợ chuyên môn để cấp xã đủ năng lực trở thành cấp quản trị thực chất. Chuyển tư duy “cấp xã làm việc sự vụ” sang “cấp xã là cấp quản trị tổng hợp”.
Thứ ba, tiến hành xây dựng và công bố bộ tiêu chí đánh giá KPI (tổ chức, hoạt động, cán bộ, công chức); thực hiện đánh giá nền công vụ thường xuyên thông qua ý kiến phản hồi từ người dân, chú trọng đến chỉ số PAPI, PCI để có các giải pháp cải thiện trên thực tiễn. Đồng thời, xây dựng bộ chỉ số đo lường thống nhất cho từng cấp, từng ngành: chỉ số về tỉ lệ hồ sơ trực tuyến, tỉ lệ đúng hạn, mức độ hài lòng, tỉ lệ tái sử dụng dữ liệu của nền hành chính.
Thứ tư, các bộ, ngành xây dựng cơ chế phối hợp với các địa phương và có cách thức chỉ đạo, hướng dẫn về chuyên môn, nghiệp vụ cho sở, ngành, chính quyền cấp xã. Quốc hội tiến hành rà soát thẩm quyền trong các luật và phân định bằng chính văn bản luật, hạn chế việc trao quyền cho Chính phủ phân định bằng các nghị định.
Thứ năm, đẩy mạnh việc hoàn thiện hệ thống pháp luật theo định hướng không chỉ “sửa đường, mà còn phải mở đường”, bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất, bảo đảm văn bản hướng dẫn thi hành có hiệu lực cùng lúc với văn bản cần hướng dẫn; tập trung tháo gỡ các “điểm nghẽn” về thẩm quyền, trách nhiệm.
Thứ sáu, thiết kế lại chính quyền số khoa học, tương thích với chức năng, nhiệm vụ trong chuỗi xử lý công vụ của chính quyền đô thị. Thiết kế cơ sở dữ liệu kết nối các lĩnh vực chuyên ngành, chia sẻ và tái sử dụng dữ liệu cho chính quyền các cấp, lấy người dân làm trung tâm.
Thứ bảy, sắp xếp, bố trí lại đội ngũ cán bộ, công chức, cụ thể: sàng lọc, phân loại và thực hiện bố trí theo vị trí việc làm trên cơ sở đáp ứng tiêu chí chuyên môn và yêu cầu công việc; đào tạo lại theo hướng chuyên sâu, có tính chuyên môn hóa cao, bổ nhiệm các chức danh phải đáp ứng các yêu cầu thực tiễn; thiết kế cơ chế bảo vệ cán bộ “6 dám”, chuyển mạnh từ mô hình quản lý thủ tục sang quản trị bằng dữ liệu và hiệu quả.
Thứ tám, cần tăng biên chế thực chất cho cấp xã. Rà soát người hoạt động không chuyên trách đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện để tiếp nhận hoặc tuyển dụng vào công chức, viên chức theo pháp luật và nhu cầu vị trí việc làm, bảo đảm chính quyền cấp xã có đủ hiệu năng, hiệu lực thực thi công vụ.
3. Kết luận
Vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp tại Thành phố là một “cuộc cách mạng về thể chế”, tác động mạnh mẽ tới nền công vụ. Quá trình vận hành cho thấy sự đúng đắn của chính quyền tinh gọn, hiện đại, đủ năng lực để quản lý một siêu đô thị “đầu tàu kinh tế”. Tuy nhiên, từ thực tiễn phát sinh sau 01 năm thực hiện mô hình chính quyền địa phương 2 cấp, cần có sự tham gia của nhiều chủ thể, từ Trung ương đến địa phương, xây dựng, hoàn thiện, phát huy tối đa ưu thế của siêu đô thị song hành với hiệu lực của chính quyền địa phương 2 cấp của Thành phố./.

————————————————
Ngày nhận bài: 13/5/2026; Ngày phản biện: 15/5/2026; Ngày duyệt đăng: 25/8/2026
Email liên hệ: [email protected]

———————————————–
Tài liệu tham khảo
Ngô Bình, Thu Hường, Văn Minh (2025). Định hướng “3 vùng – 1 đặc khu – 3 hành lang – 5 trụ cột” để Thành phố Hồ Chí Minh thành siêu đô thị. https://www.sggp.org.vn, ngày 14/10/2025.
Chính phủ (2025). Nghị định số 150/2025/NĐ-CP ngày 12/6/2025 “Quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và Ủy ban nhân dân xã, phường, đặc khu thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương”.
Thùy Dương (2025). Thành phố Hồ Chí Minh: 80% dịch vụ công trực tuyến toàn trình, hơn 2 triệu hồ sơ xử lý đúng hạn. http://hochiminhcity.gov.vn, ngày 03/12/2025.
Thu Hường, Văn Minh, Ngô Bình (2026). Thành phố Hồ Chí Minh bứt phá từ thể chế, kiến tạo đô thị phát triển bền vững: Đổi mới phương thức lãnh đạo từ cơ sở. https://www.sggp.org.vn, ngày 27/4/2026.
Đỗ Như (2026). Chủ tịch Quốc hội: Xây dựng Luật Đô thị đặc biệt để tháo gỡ vướng mắc cho Thành phố Hồ Chí Minh. https://vneconomy.vn, ngày 04/5/2026.
Minh Quân (2025). Thành phố Hồ Chí Minh thừa 1.065 công chức nhưng vẫn thiếu 965 công chức có chuyên môn sâu. https://laodong.vn, ngày 31/10/2025.
Quốc hội (2023). Nghị quyết số 98/2023/QH15 ngày 24/6/2023 “về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh”.
Quốc hội (2026). Luật Phát triển đô thị.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2025). Quyết định số 3540/QĐ-UBND ngày 30/12/2025 “quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Trung tâm Phục vụ hành chính công Thành phố Hồ Chí Minh”.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2026a). Quyết định số 699/QĐ-UBND ngày 30/01/2026 “về tổ chức lại 37 ban quản lý dự án đầu tư xây dựng khu vực, 21 ban bồi thường, giải phóng mặt bằng, 13 chi nhánh trung tâm phát triển quỹ đất thành 37 Ban Quản lý dự án đầu tư xây dựng trực thuộc Ủy ban nhân dân phường, xã”.
Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (2026b). Kế hoạch số 97/KH-UBND ngày 16/3/2026 về chuyển đổi số và phát triển đô thị thông minh Thành phố Hồ Chí Minh năm 2026
Ủy ban Thường vụ Quốc hội (2025). Nghị quyết số 1685/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của Thành phố Hồ Chí Minh năm 2025.

(Tạp chí Khoa học Chính trị Số 06/2026)

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *